Đề thi vào 10 môn Văn Thừa Thiên - Huế
Đề thi vào 10 môn Văn Huế năm 2026
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc bài thơ sau:
Nói với con về bà ngoại
Tuyết Nga
Con sẽ như giọt nắng
trước hiên bà mùa đông
Giọt nắng tìm kim
giọt năng quét nhà
giọt nắng sún răng lò cò quanh cửa
giọt nắng í eo theo bà đi chợ
lễ mễ khiêng cả chiếc bánh đa tròn
Con sẽ như chú mèo nhỏ cuối vườn
đánh đổ ông trăng xuống nơi đáy nước
trán sưng u và áo quần lấm láp
rón rên leo lên ôm gồi ngủ vờ
Con sẽ như ...
như chú cún còi
ăn một bát cơm hết ba chuyện cổ
hạt dẻ, thảm bay, đèn thần, chối quý
thế giới thần tiên nấp phía lưng bà
"Bà yêu con không", "con sẽ là gì"
đôi mắt thỏ nâu suốt ngày hỏi mẹ.
Dù con sinh ra bà đã không còn nữa
nhưng bà yêu con từ xửa từ xưa
bà gửi cho con hoa trái mùa thu
đàn ong tháng Ba
ông trăng tháng Sáu
bà gửi cho con
mę
và câu hát ...
mai con lớn rồi
vẫn đầy đủ yêu thương.
(Thơ cho tuổi thơ, Vũ Nho, NXB Hội Nhà văn, 2017, tr. 191-192)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,75 điểm): Xác định đề tài của bài thơ.
Câu 2 (0,75 điểm): Trong bài thơ, con được so sánh với những gì?
Câu 3 (1,0 điểm):
Dù con sinh ra bà đã không còn nữa
nhưng bà yêu con từ xửa từ xưa
Em hiểu như thế nào về hai dòng thơ trên?
Câu 4 (1,0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ có trong các dòng thơ sau:
Giọt nắng tìm kim
giọt nắng quét nhà
giọt nắng sún răng lò cò quanh cửa
giọt nắng i eo theo bà đi chợ
lễ mễ khiêng cả chiếc bánh đa tròn
Câu 5 (0,5 điểm): Em đánh giá như thế nào về nhan đề bài thơ?
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm):
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 300 chữ) phân tích tình cảm của người mẹ trong bài thơ Nói với con về bà ngoại ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm):
Thói quen trì hoãn bình thường chỉ là tật xấu nhưng nếu nghiêm trọng thì sẽ trở thành “bệnh".
Em có đồng ý với nhận định trên không? Vì sao?
Hãy viết bài văn nghị luận để thể hiện quan điểm của mình về vấn đề trên.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
Đọc hiểu |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Đề tài của bài thơ là: tình cảm gia đình. |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
- Trong bài thơ, con được so sánh với: “giọt nắng”, “chú mèo nhỏ cuối vườn”, “chú cún còi”. |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Nội dung hai câu thơ: câu thơ cho thấy dù người bà đã mất trước khi cháu ra đời nhưng tình yêu thương của bà vẫn luôn hiện hữu. Tình cảm ấy được gửi gắm qua những điều đẹp đẽ của quê hương, tuổi thơ và qua lời kể của mẹ. Hai dòng thơ thể hiện tình bà cháu thiêng liêng, sâu nặng. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
HS có thể lựa chọn biện pháp tu từ điệp ngữ hoặc nhân hoá và phân tích tác dụng. Sau đây là gợi ý của Ban chuyên môn Tuyensinh247.com - Biện pháp tu từ: điệp ngữ “giọt nắng”. - Tác dụng: + Làm cho nhịp thơ trở nên nhẹ nhàng, giàu cảm xúc. + Nhấn mạnh hình ảnh đứa cháu nhỏ hồn nhiên, đáng yêu, ấm áp như ánh nắng. + Qua đó thể hiện tình yêu thương, sự nâng niu trìu mến của người mẹ khi nói với con về những kỉ niệm đẹp bên bà ngoại. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
Ý nghĩa nhan đề: Nhan đề "Nói với con về bà ngoại" rất hay, giản dị và giàu ý nghĩa. - Nhan đề đã ó thiết lập một cuộc trò chuyện, thủ thỉ đầy dịu dàng giữa mẹ và con. - Nhan đề định hình toàn bộ mạch cảm xúc của bài thơ: một lời nhắn nhủ, kết nối thế hệ, giúp đứa con dù chưa từng gặp bà vẫn cảm nhận được hơi ấm, tình yêu thương và cội nguồn sinh dưỡng của mình. - Nhan đề góp phần thể hiện chủ đề bài thơ: ca ngợi tình cảm gia đình thiêng liêng, đặc biệt là tình yêu thương của bà dành cho cháu dù bà không còn nữa. |
|
|
Viết |
Câu 1. (2,0 điểm) |
1. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề nghị luận. 2. Thân đoạn - Người mẹ vẽ ra tuổi thơ đẹp đẽ bên bà ngoại cho con. Người mẹ muốn truyền cho con cảm giác ấm áp của tình thân gia đình. - Người mẹ bộc lộ nỗi nhớ thương và lòng biết ơn sâu sắc đối với bà ngoại: + Câu hỏi: “Bà yêu con không?” của con gợi nỗi nhớ da diết của người mẹ dành cho bà. + “Dù con sinh ra bà đã không còn nữa” nhưng tình yêu của bà vẫn hiện hữu: “bà gửi cho con hoa trái mùa thu”, “đàn ong tháng Ba”, “ông trăng tháng Sáu” => Người mẹ cảm nhận tình yêu của bà vẫn luôn chở che, nâng đỡ các thế hệ sau. Thể hiện nỗi nhớ, lòng biết ơn và sự kính yêu đối với bà ngoại. - Người mẹ gửi gắm tình yêu thương dành cho con + Người mẹ kể chuyện về bà bằng giọng thơ dịu dàng, tha thiết. Qua đó, mẹ muốn con hiểu về cội nguồn gia đình, biết trân trọng tình thân và sống biết yêu thương mọi người. + Câu thơ cuối: “mai con lớn rồi / vẫn đầy đi yêu thương” thể hiện mong ước con sẽ lớn lên trong sự nuôi dưỡng của tình yêu thương gia đình. - Nghệ thuật: thể thơ tự do, sử dụng biện pháp điệp ngữ, nhân hoá; giọng thơ chân thành, tha thiết,… 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận. |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
I. Mở bài: - Dẫn dắt vấn đề nghị luận. - Đưa ra quan điểm cá nhân: Đồng ý với nhận định: “Thói quen trì hoãn bình thường chỉ là tật xấu nhưng nếu nghiêm trọng thì sẽ trở thành ‘bệnh’.” II. Thân bài 1. Giải thích vấn đề - “Trì hoãn” là thái độ chậm trễ, né tránh hoặc để công việc sang thời điểm khác dù biết cần phải hoàn thành. - “Tật xấu” là thói quen chưa tốt nhưng vẫn có thể thay đổi. - “Bệnh” ở đây không chỉ là bệnh về thể chất mà là cách nói ẩn dụ chỉ trạng thái trì hoãn nghiêm trọng khiến con người mất kiểm soát bản thân ảnh hưởng lớn đến học tập, công việc và cuộc sống. => Nhận định muốn nhấn mạnh: Nếu không sửa chữa, thói quen trì hoãn sẽ dần trở nên nguy hiểm và khó khắc phục. 2. Vì sao nói thói quen trì hoãn bình thường chỉ là tật xấu nhưng nếu nghiêm trọng thì sẽ trở thành ‘bệnh. - Khi trì hoãn trở thành thói quen lâu dài con người khó kiểm soát hành động của bản thân, luôn sống trong trạng thái chần chừ, né tránh. - Người mắc “bệnh trì hoãn” sẽ mang tâm lý: Biết việc cần làm nhưng vẫn không làm và luôn cảm thấy hối hận nhưng khó thay đổi. - “Bệnh trì hoãn” âm thầm phá hủy sự tự tin, ý chí, cơ hội thành công của con người. 3. Hậu quả của “bệnh trì hoãn” - Công việc chồng chất, áp lực tăng cao. Kết quả học tập và làm việc giảm sút, mất nhiều cơ hội trong cuộc sống. - Hình thành lối sống thiếu trách nhiệm, dễ rơi vào căng thẳng, mệt mỏi. - Làm giảm hiệu quả công việc tập thể, ảnh hưởng đến những người xung quanh. - Gây ra lối sống chậm chạp, thiếu tích cực. 4. Giải pháp khắc phục - Rèn luyện tính kỉ luật. + Lập kế hoạch học tập và làm việc rõ ràng, hoàn thành công việc theo thứ tự ưu tiên. + Chia mục tiêu lớn thành mục tiêu nhỏ để dễ thực hiện. - Hạn chế phụ thuộc vào điện thoại, mạng xã hội. - Luyện tập thói quen: làm ngay, đúng giờ, đúng kế hoạch. - Gia đình cần nhắc nhở, động viên con em. - Nhà trường cần giáo dục học sinh về tinh thần trách nhiệm và quản lí thời gian. Tạo môi trường học tập tích cực, chủ động. (HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp) 5. Mở rộng – phản đề - Phê phán những người sống lười biếng, luôn trì hoãn công việc. - Tuy nhiên, cần phân biệt trì hoãn với việc: cân nhắc kĩ lưỡng, chuẩn bị cẩn thận trước khi hành động. - Con người cần biết nghỉ ngơi hợp lí nhưng không được biến nó thành cái cớ để trì hoãn. III. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận. |
Đề thi vào 10 môn Văn Thừa Thiên - Huế năm 2025
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản:
Bà ốm
(Vũ Tú Nam)
Loan tưởng bà nội chỉ bị cảm cúm sơ sơ. Thế mà chiều hôm ấy, Loan đi học về, giật mình thấy mẹ rơm rớm nước mắt bảo bố và bác Xuân đã cáng bà đi cấp cứu ở bệnh viện huyện. Suốt đêm, mẹ và Loan ít ngủ, thương bà, lo cho bà.
Hôm sau, bố ở huyện về, báo tin bả đã tỉnh, không có gì đáng ngại nữa. Bà dặn Loan phải chăm học, nhớ cho mái mơ ăn thêm rau (nó thích ăn rau lắm) và nhốt riêng con gà ri ra, kẻo nó hay bị con gà khác bắt nạt, tội nghiệp nó.
Ôi, mới vắng bà có mấy ngày mà đàn gà cứ ngơ ngác cả ra. Bà chăm chúng nó thế, thảo nào! Còn Loan thì nhìn vào đâu, sờ vào cái gì cũng thấy thiếu bà. Cái bình vôi ăn trầu của bả kia. Cái chổi bà thường luôn tay quét. Cái rế, cái nồi, cái rổ bát, bao giờ cũng chùi cũng xếp gọn gàng.
Đến cây cối ngoài vườn cũng nhớ bà, các ngọn mướp cứ ngóc đầu lên chờ đợi được bàn tay bà tưới tắm. Cái giường bà nằm mà sao trống vắng buồn thiu, con cóc ở tít trong gầm cũng như sốt ruột, cứ nhảy ra rồi lại nhảy vào.
Vì phải đi thi, Loan không lên huyện thăm bà được. Nó chọn đúng mười quả trứng gà tươi nhất, do con gà mái hoa của nó đẻ - gửi bố mang đi biếu bà. Nó không quên viết gửi bà mấy chữ:
Bà yêu quý của cháu.
Bà cứ yên tâm chữa bệnh, mẹ cháu mải làm đồng, châu tưới vườn và chăm đàn gà đúng như lời bà dặn. Cháu làm bài thi tốt lắm, bà ạ.
Cháu Loan của bà.
Trong thư nó không nói gì về mười quả trứng nó đã gửi biếu bà cả. Nó vốn là đứa trẻ tế nhị. Hôm ấy đúng ngày Chủ nhật, bố đón bà ở bệnh viện huyện về. Bà còn xanh lắm, tay phải chống gậy, nhưng bà cười từ ngoài sân cười vào. Loan chạy ra ôm lấy bà, giụi đầu vào ngực áo bà, khóc òa lên. Bà xoa xoa tóc Loan mắng yêu:
- Bố mày! Bà có chết đâu mà khóc! Nín đi, bà cho quà đây ...
Loan nắm lấy tay bà, dắt bà vào giường. Bà bảo bố đưa cho bà cái bị. Bà xếp ra hai quả cam, sáu quả chuối và năm quả trứng gà. Bà bảo:
- Đây bà thưởng cho ... Nín đi, nín đi nào!...
Loan ngước nhìn bà, khúc khích cười, nhưng miệng nó cười, mà mắt thì vẫn khóc. Vì nó biết bà đã dành dụm không ăn hết trứng và các thứ quà của nó cùng mọi người gửi biếu bà. Bà ơi, cháu yêu bà, cháu thương bà quá!
(theo Những truyện hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2019, tr 215-217)
Câu 1 (0,75 điểm): Xác định ngôi kể trong văn bản trên.
Câu 2 (0,75 điểm): Khi không lên huyện thăm bà được, Loan đã gửi cho bà những gì?
Câu 3 (1,0 điểm): Nêu tác dụng của biện pháp nhân hóa trong những câu sau:
Đến cây cối ngoài vườn cũng nhớ bà, các ngọn mướp cứ ngóc đầu lên chờ đợi được bàn tay bà tưới tắm. Cải giường bà nằm mà sao trống vắng buồn thiu, con cóc ở tít trong gầm cũng như sốt ruột, cứ nhảy ra rồi lại nhảy vào.
Câu 4 (1,0 điểm): Người bà trong câu chuyện trên là người như thế nào?
Câu 5 (0,5 điểm): Thông điệp nào từ câu chuyện trên có ý nghĩa nhất với em? Vì sao?
II. VIẾT
Câu 1 (2,0 điểm):
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 300 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật Loan trong văn bản Bà ốm ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm):
Với góc nhìn của một người trẻ, em hãy viết một bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về sự cần thiết của việc phát huy trí tưởng tượng của giới trẻ hiện nay.
Đáp án
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,75 điểm) |
Ngôi kể thứ ba |
|
Câu 2. (0,75 điểm) |
Khi không lên huyện thăm bà được, Loan đã: - Gửi bố mang đi biếu bà mười quả trứng gà tươi nhất, do con gà mái hoa của nó đẻ. - Viết gửi bà một lá thư ngắn |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
- Nhân hóa các đối tượng: “cây cối ngoài vườn nhớ bà”, “ngọn mướp ngóc đầu lên chờ đợi…”, “con cóc sốt ruột”, cái giường buồn thiu. - Tác dụng: + Làm cho các sự vật trở nên sống động, có hồn, gần gũi như con người + Nhấn mạnh sự quan trọng và không thể thay thế của bà trong gia đình, thể hiện sự gắn bó sâu nặng giữa bà với thiên nhiên và ngôi nhà. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Người bà trong câu chuyện là một người bà tần tảo, giàu tình yêu thương, luôn lo lắng và quan tâm gia đình từ những điều nhỏ nhặt nhất. Bà dù bệnh nhưng vẫn chu đáo, gom những quả trứng, trái quả để dành cho đứa cháu nhỏ. Bà còn nhẹ nhàng, vỗ về an ủi khi thấy cháu khóc. |
|
|
Câu 5. (0,5 điểm) |
- Thông điệp: Hãy luôn trân trọng, yêu thương và quan tâm đến ông bà, cha mẹ khi còn có thể. - Vì: Tình cảm gia đình là điều thiêng liêng, không gì thay thế được. Sự vô tâm, thờ ơ đôi khi khiến ta ân hận khi không còn cơ hội để bày tỏ lòng yêu thương. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
* Mở đoạn: Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vấn đề nghị luận * Thân đoạn: - Tâm trạng của nhân vật Loan trong văn bản: + Khi biết bà ốm: "giật mình", "ít ngủ", "thương bà, lo cho bà". + Khi bà vắng nhà: cảm nhận sự "thiếu bà" qua mọi vật ("bình vôi", "chổi", "rổ, nồi, bát", "cây cối", "giường", "con cóc"). Đồng thời cho thấy sự hiếu thảo, trưởng thành của cô bé khi "chọn đúng mười quả trứng gà tươi nhất" gửi bà, "viết gửi bà mấy chữ". + Khi đến thăm bà: "chạy ra ôm lấy bà, dúi đầu vào ngực áo bà, khóc òa lên", "khúc khích cười, nhưng miệng nó cười, mà mắt thì vẫn khóc", sự tế nhị khi không kể về trứng. - Đặc sắc nghệ thuật: + Miêu tả tâm lí trẻ thơ tự nhiên mà tinh tế, sâu sắc + Lối kể chuyện gần gũi, dung dị, giàu cảm xúc. * Kết đoạn: Tổng kết vấn đề |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài - Dẫn dắt vấn đề: Thế giới không ngừng thay đổi, phát triển nhờ vào những ý tưởng sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú. Trong bối cảnh đó, việc phát huy trí tưởng tượng của giới trẻ trở nên cần thiết và cấp bách hơn bao giờ hết. - Xác định vấn đề cần bàn luận: sự cần thiết của việc phát huy trí tưởng tượng của giới trẻ hiện nay 2. Thân bài a. Giải thích - Trí tưởng tượng: Khả năng hình dung, sáng tạo ra những hình ảnh, ý tưởng, hoặc khả năng nhìn thấy điều chưa từng tồn tại. - Phát huy trí tưởng tượng: Khuyến khích, tạo điều kiện và khai thác tối đa khả năng sáng tạo trong suy nghĩ và hành động. => Việc phát huy trí tưởng tượng của giới trẻ là sự cần thiết trong xã hội hiện nay b. Ý nghĩa - Góp phần phát triển tư duy sáng tạo, linh hoạt – yếu tố quan trọng trong học tập, nghiên cứu và khởi nghiệp. - Tạo ra những ý tưởng mới, giải pháp độc đáo trong nhiều lĩnh vực như khoa học, nghệ thuật, công nghệ... - Bồi dưỡng tâm hồn, cảm xúc, nuôi dưỡng lòng nhân ái, đồng cảm và khả năng sống tích cực. - Chuẩn bị cho tương lai: Trong thời đại 4.0, người có khả năng tưởng tượng và sáng tạo sẽ là người dẫn đầu. c. Biểu hiện - Đặt ra những câu hỏi mới mẻ, vượt ra ngoài khuôn mẫu. - Sáng tạo trong học tập, thuyết trình, làm việc nhóm. - Tham gia các hoạt động nghệ thuật, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. - Viết văn, vẽ tranh, làm thơ, lập trình game, làm phim... - Dẫn chứng: HS đưa ra dẫn chứng phù hợp d. Phản đề - Một bộ phận giới trẻ còn lười suy nghĩ, phụ thuộc vào công nghệ, sao chép ý tưởng. - Giáo dục đôi khi còn nặng về khuôn mẫu, làm giới hạn trí tưởng tượng của học sinh. e. Giải pháp - Giáo dục cần khuyến khích sự sáng tạo, đặt câu hỏi, trải nghiệm thực tế. - Giới trẻ cần rèn luyện thói quen quan sát, đọc sách, thử nghiệm những điều mới. - Gia đình và xã hội cần tạo điều kiện để giới trẻ tự do sáng tạo. 3. Kết bài - Khẳng định vấn đề: Trí tưởng tượng là sức mạnh tiềm ẩn của mỗi người trẻ, cần được phát huy để góp phần làm nên một thế hệ bản lĩnh, đổi mới và thành công. - Liên hệ: Mỗi bạn trẻ hãy dám mơ ước, tưởng tượng và hành động để biến điều không thể thành có thể. |
Đề thi vào 10 môn Văn Thừa Thiên - Huế năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU
Đọc kĩ ngữ liệu sau:
Con gái Huế làm quen với áo dài rất sớm, áo dài quen thuộc đến bất li thân. Xung quanh, họ luôn thấy mẹ, thấy bà, thấy những người phụ nữ khoác trên mình chiếc áo dài bình dân có, sang trọng có. Huế một thời là kinh đô của áo dài, mảnh đất của những con người nghiện áo dài. Chiếc áo tôn vinh vẻ đẹp của người con gái Huế, phục sức cho tâm hồn hướng đến nét đẹp truyền thống. Áo dài tô thêm dáng vẻ trầm mặc của Huế. Người
sông Hương lung linh hơn khi mặc áo dài. Và nhờ những người sông Hương, chiếc áo dài trở nên lộng lẫy hơn bao giờ.
Câu 1 (0,75 điểm) Theo tác giả, chiếc áo dài tôn vinh vẻ đẹp của ai?
Câu 2 (0,75 điểm) Chiếc áo dài và người sông Hương có mối quan hệ như thế nào?
Câu 3 (1,0 điểm) Xác định hai phép liên kết về hình thức có trong ngữ liệu.
Câu 4 (0,5 điểm) Ngữ liệu trên thể hiện tình cảm gì của tác giả?
II. TẬP LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Viết một đoạn văn nghị luận (không quá một trang giấy thi) bàn về ý nghĩa của lời khen đối với con người.
Câu 2. Viết bài văn trình bày cảm nhận của em về vẻ đẹp con người Việt Nam trong hai đoạn thơ sau:
Thuyền ta lái giỏ với buồm trăng
Lướt giữa mây cao với biển bằng,
Ra đậu dặm xa dò bụng biển,
Dàn đan thế trận lưới vây giăng.
(Huy Cận, Đoàn thuyền đánh cá, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 140)
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nổi trầm xao xuyến.
(Thanh Hải, Mùa xuân nho nhỏ, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr. 56)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo tác giả chiếc áo dài tôn vinh vẻ đẹp của người con gái Huế, phục sức cho tâm hồn hướng đến nét đẹp truyền thống.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc, tìm ý.
Cách giải:
Mối quan hệ giữa chiếc áo dài và người sông Hương là:
+ Người sông Hương lung linh hơn khi mặc áo dài.
+ Nhờ những người sông Hương chiếc áo dài trở nên lộng lẫy hơn bao giờ.
=> Giữa chiếc áo dài và người sông Hương có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, tôn lên vẻ đẹp, giá trị của nhau.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ các phép liên kết câu.
Cách giải:
Phép lặp: áo dài, Huế, con gái,…
Phép nối: Và
Phép thế: “Họ”
Câu 4:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Ngữ liệu trên cho thấy: Tác giả rất yêu quý, tự hào với vẻ đẹp của tà áo dài và người sông Hương. Qua đó cũng thấy được tác giả mong muốn giữ gìn, phát huy vẻ đẹp ấy.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: ý nghĩa lời khen trong cuộc sống.
2. Giải thích vấn đề:
- Lời khen là những ngôn ngữ thể hiện sự đánh giá tốt, vừa lòng về một người, sự vật hay hành động nào đó.
=> Lời khen có ý nghĩa quan trọng trong cuộc sống con người.
3.Phân tích, bàn luận vấn đề
- Ý nghĩa của lời khen trong cuộc sống:
+ Lời khen thể hiện sự công nhận của ai đó về một việc làm có ảnh hưởng tích cực của người nào đó. Việc biết công nhận thành quả của người khác thể hiện người khen ngợi là một người hiểu biết và biết chia sẻ.
+ Lời khen là lời động viên, truyền cảm hứng cho người được khen ngợi.
+ Lời khen chân thành giúp cho người được khen ngợi có động lực để cống hiến, tin tưởng vào khả năng của mình.
- Những trường hợp xứng đáng được khen ngợi:
+ Trẻ con có thành tích học tập tốt, vâng lời cha mẹ, giúp đỡ người già,…
+ Ai đó hoàn thành công việc xuất sắc so với khả năng của họ
…
- Phân biệt khen ngợi chân thành với nịnh hót.
- Phê phán những người không bao giờ biết khen ngợi người khác.
4. Liên hệ bản thân và tổng kết
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm: Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận), Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải)
- Cả hai bài thơ đã cho thấy vẻ đẹp tâm hồn, nhân cách của con người Việt Nam
2. Phân tích
2.1 Đoạn thơ trong bài Đoàn thuyền đánh cá
Khung cảnh đánh cá hiện lên vô cùng đẹp đẽ, sinh động.
- Không gian vũ trụ bao la được mở ra nhiều chiều:
+ Cao: bầu trời, mặt trăng.
+ Rộng: mặt biển.
+ Sâu: lòng biển.
- Để thấy đoàn thuyền đánh cá hoàn toàn tương xứng với không gian ấy:
+ Khi sóng biển cồn lên, cánh buồm như chạm vào cả mây trời.
+ Khi buông lưới con thuyền như dò thấu tận đáy đại dương.
+ Hệ thống động từ: “lái”, “lướt”… -> tư thế làm chủ của đoàn thuyền…
+ Hệ thống hình ảnh: “lái gió”, “buồm trăng”, “mây cao”, “biển bằng” -> con thuyền như mang sinh lực của đất trời để đánh cá trên biển.
- Gợi hình tượng người lao động trên biển:
+ Tầm vóc lớn lao sánh cùng vũ trụ.
+ Làm chủ cả vũ trụ.
2. Đoạn thơ trong bài Mùa xuân nho nhỏ
Nguyện ước cống hiến tha thiết, chân thành của tác giả.
- Mùa xuân đất nước đã khơi dậy trong lòng nhà thơ những khát vọng sống cao quý:
“Ta làm…
… xao xuyến”
+ Điệp từ “ta làm”, lặp cấu trúc, liệt kê -> giúp tác giả bày tỏ ước nguyện được hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, xứ sở.
+ Các hình ảnh “con chim hót” “một cành hoa” “nốt nhạc trầm”: giản dị, tự nhiên mà đẹp, thể hiện ước nguyện khiêm nhường mà đáng quý.
+ Có sự ứng đối với các hình ảnh ở đầu bài thơ -> lí tưởng cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên, tất yếu; gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người – đất nước.
=> Tấm lòng thiết tha được hòa nhập, được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
3. Vẻ đẹp của con người Việt Nam qua hai bài thơ
- Yêu và hăng say lao động tha thiết.
- Nguyện ước chân thành cống hiến trọn đời cho đất nước.
=> Họ đều mang trong mình những phẩm chất đẹp đẽ, đó là biểu hiện của lòng yêu nước nồng nàn.
4. Tổng kết vấn đề
Đề thi vào 10 môn Văn Thừa Thiên - Huế năm 2021
Đề bài
PHẦN I (6.0 điểm) Đọc kĩ ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:
Nếu nói về những ngõ xanh im vắng, có lẽ Huế có nhiều nhất những hun hút xanh chai hỏa đem lại cho con người cảm giác thư thái ấy. Sống ở Huế thật lâu, tôi mơ hồ những ngõ nhỏ xứ Huế như một sợi dây nối tâm hồn Huế ra với cao rộng cuộc đời. Sợi dây ấy đan bằng lá cây và sương khói, bện vào đó những âm vang bình dị từ những khu vườn và cả ánh sáng khiêm nhường của những thời khắc cảnh sắc không gian Huế.
Ngõ Huế, gần như là một tiếng gọi, thật gần mà lại mơ hồ xa vắng. Ngõ Huế, đó chính là cái cửa ngõ ngay trước ngôi nhà ấm áp khói lam chiều, là những ngõ quê thơm mùi đất, những ngô vườn xao động hoa lá điệu đàng, những ngõ phố sống động đêm khuya, và cả những ngô chùa nắng vàng như màu thiền xứ sở...
(Hồ Đăng Thanh Ngọc, Đội triêng giỏng của Ma, NXB Văn học, 2011, tr. 13,14)
Câu 1: (0,5 điểm) Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập có trong câu sau.
Nếu nói về những ngõ xanh im vắng, có lẽ Huể có nhiều nhất những hun hút tốt chan hòa đem lại cho con người cảm giác thư thái ấy.
Câu 2: (1,0 điểm) Xác định hai phép liên kết về hình thức có trong ngữ liệu trên.
Câu 3: (1,0 điểm) Xác định và nêu tác dụng của hai biện pháp tu từ từ vựng có trong câu:
Ngõ Huế, đó chính là cái cửa ngõ ngay trước ngôi nhà ấm áp khỏi lam chiều, là những ngõ quê thơm mùi đất, những ngõ vườn xao động hoa lá điệu đàng, những ngõ phố sống động đêm khuya, và cả những ngõ chùa nắng vàng như màu thiền xứ.
Câu 4: (0,5 điểm) Em có nhận xét gì về tình cảm của tác giả dành cho ngõ Huế ? (trả lời 3-5 dòng)
II. Phần Tập làm văn: (7,0 điểm)
Câu 1: (2,0 điểm) Viết một đoạn văn nghị luận (dài không quá một trang giấy thi) triển khai luận điểm: Tự học chính là con đường đi tới thành công.
Câu 2: (5,0 điểm) Viết bài văn trình bày cảm nhận về hai đoạn thơ sau:
Giờ cháu đã đi xa. Có ngon khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềng vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?
(Bằng Việt, Bếp Ita, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, tr. 145)
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chó lớn.
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thang không chế thung nghèo đói.
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc.
(Y Phương. Nói với con, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục, 2005, tr. 72)
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập có trong câu sau. Nếu nói về những ngõ xanh im vắng, có lẽ Huể có nhiều nhất những hun hút tốt chan hòa đem lại cho con người cảm giác thư thái ấy. |
Phương pháp: căn cứ bài Thành phần biệt lập.
Cách giải:
Có lẽ - thành phần biệt lập tình thái.
Câu 2.
|
Xác định hai phép liên kết về hình thức có trong ngữ liệu trên. |
Phương pháp: căn cứ bài Liên kết câu, đoạn văn.
Cách giải:
Hai phép liên kết về hình thức:
- Phép thế: “Sợi dây ấy” thay thế cho “sợi dây nối tâm hồn Huế ra với cao rộng cuộc đời”.
- Phép lặp: Ngõ Huế.
Câu 3.
|
Xác định và nêu tác dụng của hai biện pháp tu từ từ vựng có trong câu: Ngõ Huế, đó chính là cái cửa ngõ ngay trước ngôi nhà ấm áp khỏi lam chiều, là những ngõ quê thơm mùi đất, những ngõ vườn xao động hoa lá điệu đàng, những ngõ phố sống động đêm khuya, và cả những ngõ chùa nắng vàng như màu thiền xứ. |
Phương pháp: căn cứ các biện pháp tu từ đã học, phân tích.
Cách giải:
- Liệt kê: là cái ngõ ngay trước ngôi nhà ấm áp khói lam chiều, là những ngõ quê thơm mùi đất, những ngõ vườn xao động hoa lá điệu dàng, những ngõ phố sống động đêm khuya, những ngõ chùa nắng vàng như màu thiền xứ sở.
- So sánh: ngõ chùa nắng vàng như màu thiền xứ sở.
-> Tác dụng:
+ Biện pháp liệt kê làm nổi bật những nét đặc sắc, phong phú của không gian ngõ Huế.
+ So sánh khẳng định không gian ngõ Huế với màu sắc độc đáo “màu thiền”, tô đậm đặc trưng văn hóa của vùng đất này.
+ Làm cho câu văn có nhịp điệu, giàu hình ảnh.
Câu 4.
|
Em có nhận xét gì về tình cảm của tác giả dành cho ngõ Huế? |
Phương pháp: phân tích.
Cách giải:
- Tác giả dành tình yêu, sự trân trọng gắn bó với ngõ Huế.
- Tâm hồn tác giả dành sự cảm nhận tinh tế với không gian đặc trưng này của xứ Huế.
-> Đó là tình cảm của người con với quê hương, chạm đến trái tim người đọc, truyền tải tình yêu với những người con quê hương, làm phong phú thêm vẻ đẹp của Huế mộng và thơ.
Phần II.
Câu 1.
|
Viết một đoạn văn nghị luận (dài không quá một trang giấy thi) triển khai luận điểm: Tự học chính là con đường đi tới thành công. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
I. Mở đoạn: Giới thiệu vấn đề.
II. Thân đoạn
1. Giải thích và nêu biểu hiện của tinh thần tự học.
- Tự học là ý thức tự rèn luyện tích cực để thu nhận kiến thức và hình thành kỹ năng cho bản thân.
- Quá trình tự học cũng có phạm vi khá rộng: khi nghe giảng, đọc sách hay làm bài tập, cần tích cực suy nghĩ, ghi chép, sáng tạo nhằm rút ra những điều cần thiết, hữu ích cho bản thân. Tự học cũng có nhiều hình thức: có khi là tự mày mò tìm hiểu hoặc có sự chỉ bảo, hướng dẫn của thầy cô giáo… Dù ở hình thức nào thì sự chủ động tiếp nhận tri thức của người học vấn là quan trọng nhất.
=> Khẳng định vấn đề là hoàn toàn đúng đắn.
2. Bàn luận về tinh thần tự học.
a. Từ cách giải thích ở trên ta thấy tinh thần tự học có ý nghĩa cao đẹp.
- Phải tự học mới thấy hết những ý nghĩa lớn lao của công việc này. Tự học giúp ta nhớ lâu và vận dụng những kiến thức đã học một cách hữu ích hơn trong cuộc sống.
- Không những thế tự học còn giúp con người trở nên năng động, sáng tạo, không ỷ lại, không phụ thuộc vào người khác. Từ đó biết tự bổ sung những khiếm khuyết của mình để tự hoàn thiện bản thân.
- Tự học là một công việc gian khổ, đòi hỏi lòng quyết tâm và sự kiên trì. Càng cố gắng tự học con người càng trau dồi được nhân cách và tri thức của mình. Bù lại, phần thưởng của tự học thật xứng đáng: đó là niềm vui, niềm hạnh phúc khi ta chiếm lĩnh được tri thức.
- Biết bao những con người nhờ tự học mà tên tuổi của họ được tạc vào lịch sử. Hồ Chí Minh, Macxim Gorki, Lê Quý Đôn, Mạc Đĩnh Chi, Nguyễn Hiền… Nhờ tự học họ đã trở thành những bậc hiền tài, làm rạng danh cho gia đình, quê hương, xứ sở.
- Người học sinh có biện pháp tự học là biết làm chủ lấy mình.
b. Bên cạnh những tấm gương tốt về tinh thần tự học, chúng ta cần phê phán những tư tưởng sai lệch. Luôn ỷ lại, ù lì, lười nhác, không có ý chí, nghị lực, học tới đâu hay tới đó.
3. Bài học nhận thức và hành động
Tự học có ý nghĩa quan trọng nên bản thân mỗi chúng ta phải xây dựng cho mình tinh thần tự học trên nền tảng của sự say mê, ham học, ham hiểu biết, giàu khát vọng và kiên trì trên con đường chinh phục tri thức.
-Mỗi con người cần có ý chí, nghị lực, chủ động, tích cực, sáng tạo, độc lập trong học tập. Có như vậy mới chiếm lĩnh được tri thức để vươn tới những ước mơ, hoài bão của mình.
III. Kết đoạn: Đánh giá chung về tinh thần tự học. Cảm nghĩ của bản thân.
Câu 2.
|
Viết bài văn trình bày cảm nhận về hai đoạn thơ sau: Giờ cháu đã đi xa. Có ngon khói trăm tàu Có lửa trăm nhà, niềng vui trăm ngả Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở: - Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa? (Bằng Việt, Bếp Ita, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, tr. 145) Người đồng mình thương lắm con ơi Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chó lớn. Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn Sống trên đá không chê đá gập ghềnh Sống trong thang không chế thung nghèo đói. Sống như sông như suối Lên thác xuống ghềnh Không lo cực nhọc. (Y Phương. Nói với con, Ngữ văn 9, tập 2, NXB Giáo dục, 2005, tr. 72) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- giới thiệu đôi nét về 2 văn bản và hai đoạn thơ:
+ Mượn lời tâm sự với con, Y Phương đã để lại trong lòng người đọc nhiều cảm nhận sâu sắc về những đức tính tốt đẹp của “người đồng mình” – của con người quê hương miền núi.
+ Qua hình ảnh bếp lửa, Bằng Việt đã thể hiện sâu sắc tình cảm gia đình, quê hương.
2. Thân bài:
a. Khổ thơ bài Bếp lửa: Nỗi nhớ khắc khoải, khôn nguôi về người bà
- Lời tự bạch của đứa cháu khi trưởng thành, xa quê hương: Người cháu vẫn cảm thấy ấm áp bởi tình yêu thương vô bờ của bà.
- Kết thúc bài thơ tác giả tự vấn “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”: Niềm tin dai dẳng, nỗi nhớ luôn thường trực trong lòng người cháu;
=> Tác giả rất thành công trong việc sáng tạo ra hình tượng mang ý nghĩa thực, mang ý nghĩa biểu tượng: Bếp lửa.
- Kết hợp miêu tả, biểu cảm, tự sự phù hợp với dòng hồi tưởng và tình cảm của cháu.
- Bài thơ chứa đựng triết lý, ý nghĩa thầm kín về tình cảm gia đình, quê hương.
b. Khổ thơ bài Nói với con: lời ngợi ca phẩm chất đẹp đẽ của người đồng mình.
- Người đồng mình dù sống trong nghèo khổ, gian nan vẫn thủy chung gắn bó với quê hương, cội nguồn
+ “Sống trên đá không chê đá gập gềnh/ Sống trong thung không chê thung nghèo đói/ Sống như sông như suối/ Lên thác xuống ghềnh/ Không lo cực nhọc” → Phép liệt kê với những hỉnh ảnh ẩn dụ “đá gập gềnh”, “thung nghèo đói”
⇒ Gợi cuộc sống đói nghèo, khó khăn, cực nhọc => Vận dụng thành ngữ dân gian “Lên thác xuống ghềnh”, ý thơ gợi bao nỗi vất vả, lam lũ => Những câu thơ dài ngắn, cùng những thanh trắc tạo ấn tượng về cuộc sống trắc trở, gian nan, đói nghèo của quê hương.
- Người đồng mình có ý thức tự lập, tự cường và tinh thần tự tôn dân tộc.
+ Phẩm chất của người của con người quê hương còn được người cha ca ngợi qua cách nói đối lập tương phản giữa hình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong, nhưng rất đúng với người miền núi:
“Người đồng mình thô sơ da thịt.
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con”.
→ Sự tương phản này đã tôn lên tầm vóc của người đồng mình. Họ mộc mạc nhưng giàu chí khí, niềm tin. Họ có thể “thô sơ da thịt” nhưng không hề nhỏ bé về tâm hồn, về ý chí.
⇒ Cùng với ý thức tự lực, tự cường, người đồng mình còn ngời sáng tinh thần tự tôn dân tộc và khát vọng xây dựng quê hương:
“Người đồng mình tự đục đá kê cao quê hương
Còn quê hương thì làm phong tục”.
c. Điểm chung của hai đoạn thơ
- Hai văn bản tuy viết vào những thời điểm khác nhau nhưng đều thể hiện thấm đẫm tình yêu nước, yêu quê hương.
- Đều là những dòng thơ tâm tình nói về tình cảm gia đình thiêng liêng và qua đó thể hiện tình yêu sâu sắc của tác giả với đất nước, với quê hương.
3. Kết bài
- Khái quát nội dung và nghệ thuật của 2 đoạn thơ.
- Cảm nghĩ của bản thân về tình cảm gia đình, quê hương ở mọi thời đại.
Đề thi vào 10 môn Văn Thừa Thiên Huế năm 2020
Đề bài
I. Phần Đọc hiểu (3,0 điểm)
Đọc kĩ hai ngữ liệu sau và thực hiện các yêu cầu:
Ngữ liệu 1:
Bạn có thể không thông minh bẩm sinh nhưng bạn luôn chuyên cần và vượt qua bản thân từng ngày một. Bạn có thể không hát hay nhưng bạn là người không bao giờ trễ hẹn. Bạn không là người giỏi thể thao nhưng bạn có nụ cười ấm áp. Bạn không có gương mặt xinh đẹp nhưng bạn rất giỏi thắt cà vạt cho ba và nấu ăn ngon. Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. Và chính bạn, hơn ai hết, trước ai hết, phải biết mình, phải nhận ra những giá trị đó.
(Phạm Lữ Ân, Nếu biết trăm năm là hữu hạn..., NXB Hội nhà văn, 2016, tr.51)
Ngữ liệu 2:
Sứ mệnh của hoa là nở. Cho dù không có những trụ thể để như nhiều loài hoa khác, cho dù được đặt ở bất cứ đâu, thì cũng hãy bừng nở rực rỡ, bung ra những nét đẹp mà chỉ riêng ta mới có thể mang đến cho đời. Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu.
(Kazuko Watanabe, Minh là nắng việc của mình là chói chang, Vũ Thùy Linh dịch, NXB Thế giới, 2018)
Câu 1 (0,5 điểm): Hai ngữ liệu trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào?
Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu: Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn.
Câu 3 (1,0 điểm): Xác định và nêu ngắn gọn tác dụng của phép tu từ trong câu: Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu.
Câu 4 (1,0 điểm): Từ hai ngữ liệu trên, em rút ra bài học gì cho bản thân?
II. Phần Tập làm văn (7,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết một đoạn văn nghị luận (không qua một trang giấy thi) triển khai luận điểm: Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ta đến thành công.
Câu 2 (5,0 điểm)
Viết bài văn trình bày cảm nhận về các khổ thơ sau:
Từ hồi về thành phố
quen ánh điện, cửa gương
vầng trăng đi qua ngõ
như người dùng qua đường
Thình lình đèn điện tắt
phòng bun-đinh tối om
vội bật tung cửa sổ
đột ngột vầng trăng tròn
Ngửa mặt lên nhìn mặt
có cái gì ring ring
như là đồng là bể
như là sống là rừng
Trăng cử tròn vành vạnh
kể chỉ người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.
(Nguyễn Duy, Ánh trăng, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, tr.156)
Lời giải chi tiết
Phần I
Câu 1:
|
Hai ngữ liệu trên sử dụng phương thức biểu đạt chính nào? |
Phương pháp: căn cứ các phương thức biểu đạt đã học
Cách giải:
Hai ngữ liệu trên sử dụng phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2:
|
Chỉ ra và gọi tên thành phần biệt lập trong câu: Chắc chắn, mỗi một người trong chúng ta đều được sinh ra với những giá trị có sẵn. |
Phương pháp: căn cứ bài Các thành phần biệt lập
Cách giải:
Thành phần biệt lập: chắc chắn – thành phần tình thái.
Câu 3:
|
Xác định và nêu ngắn gọn tác dụng của phép tu từ trong câu: Hãy bung nở đóa hoa của riêng mình dù có được gieo mầm ở bất cứ đâu. |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Biện pháp tu từ: ẩn dụ
Tác dụng:
- Nhấn mạnh mỗi người sẽ có những giá trị riêng đối với cuộc đời và mỗi giá trị đó đều xứng đáng được trân trọng. Vì vậy hãy phát huy giá trị riêng của chính mình.
- Làm cho diễn đạt trở nên sinh động, hấp dẫn.
Câu 4:
|
Từ hai ngữ liệu trên, em rút ra bài học gì cho bản thân? |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
Bài học cho bản thân:
- Luôn sống tự tin, tự hào về những điều mình có.
- Phát huy những giá trị sẵn có để làm đẹp cho bản thân, cho cuộc đời.
…
Phần II
Câu 1:
|
Viết một đoạn văn nghị luận (không qua một trang giấy thi) triển khai luận điểm: Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ta đến thành công. |
Phương pháp: phân tích, lí giải
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ra đến thành công.
2. Giải thích vấn đề
- Tự tin là tin vào chính bản thân mình, tin vào năng lực của bản thân mình.
- Thành công là đạt được kết quả, mục đích như dự định.
=> “Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ra đến thành công” nghĩa là khi bạn tin vào bản thân mình, tin vào năng lực của mình, bạn sẽ gặt hái được thành quả xứng đáng.
3. Phân tích, bàn luận vấn đề
- Tại sao nói “Sự tự tin là chiếc chìa khóa vàng mở cánh cửa đưa ra đến thành công.”
+ Khi bạn tin vào chính mình thì có nghĩa là bạn đang cho chính mình cơ hội để học hỏi, tiếp cận với những vấn đề trong cuộc sống. Chỉ khi mình cho chính mình cơ hội để làm tốt các việc thì mọi khả năng mới có thể mở ra.
+ Tự tin cũng giúp chúng ta trưởng thành, độc lập, tin yêu cuộc sống hơn.
+ Tự tin giúp chúng ta có được những mối quan hệ tốt trong cuộc sống, được bạn bè và mọi người tin tưởng hơn.
- Biểu hiện của người tự tin:
+ Luôn chủ động trong mọi hoàn cảnh.
+ Không ngần ngại trước những khó khăn, thử thách.
+ Luôn sẵn sàng trau dồi tri thức để nâng cao bản thân.
…
- Tự tin khác với tự kiêu, nếu tự tin quá dễ bị sa chân vào tự kiêu.
- Phê phán những người nhút nhát, thiếu tự tin
4. Liên hệ bản thân và Tổng kết
Câu 2:
|
Viết bài văn trình bày cảm nhận về các khổ thơ sau: Từ hồi về thành phố quen ánh điện, cửa gương vầng trăng đi qua ngõ như người dùng qua đường
Thình lình đèn điện tắt phòng bun-đinh tối om vội bật tung cửa sổ đột ngột vầng trăng tròn
Ngửa mặt lên nhìn mặt có cái gì ring ring như là đồng là bể như là sống là rừng
Trăng cử tròn vành vạnh kể chỉ người vô tình ánh trăng im phăng phắc đủ cho ta giật mình. (Nguyễn Duy, Ánh trăng, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, tr.156) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
Tác giả:
- Nguyễn Duy sinh năm 1948, tên khai sinh là Nguyễn Duy Nhuệ, quê ỏ làng Quảng Xá, xã Đông Vệ, thành phố Thanh Hoá.
+ Năm 1966, ông nhập ngũ vào bộ đội thông tin, tham gia chiến đấu ở nhiều chiến trường.
+ Nguyễn Duy được trao giải nhất cuộc thi thơ báo văn nghệ 1973 với chùm thơ bốn bài (Tre Việt Nam, Hơi ấm ổ rơm, Giọt nước mắt và nụ cười, Bầu trời vuông). Từ giải thưởng này, Nguyễn Duy trở thành một gương mặt tiêu biểu trong lớp nhà thơ trẻ thời kì kháng chiến chống Mĩ và tiếp tục bền bỉ sáng tác.
Tác phẩm:
- Bài thơ “Ánh trăng” được viết năm 1978 tại thành phố Hồ Chí Minh, in trong tập “Ánh trăng” - tập thơ của Nguyễn Duy được giải A của Hội nhà văn Việt Nam 1984
- Nguyễn Duy viết bài thơ này khi kết thúc chiến tranh, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước được ba năm. Ba năm sống trong hoà bình, không phải ai cũng còn nhớ những gian khổ và kỉ niệm nghĩa tình trong quá khứ. Bởi vậy “Ánh trăng” như một lời tâm sự, một lời nhắn nhủ chân tình của nhà thơ với chính mình, với mọi người về lẽ sống chung thuỷ, nghĩa tình.
2. Phân tích
2. 1. Tình cảm của con người với vầng trăng trong quá khứ
Tình cảm của tác giả với vầng trăng trong hiện tại
- Người lính từ những cánh rừng đơn sơ trở về thành phố, bước vào cuộc sống mới, cuộc sống hòa bình, tự do, cách nói hoán dụ “ánh điện, cửa gương” chỉ tới một cuộc sống tiện nghi, hiện đại, nhưng nó hoàn toàn tách biệt, xa rời thiên nhiên.
- Trong cuộc sống hiện tại đó, một cách vô tình, sự thay đổi đến với con người từ từ, khó nhận biết. Trăng xưa vẫn vậy, vẫn đi qua ngõ, vẫn sát cánh bên con người, nhưng bởi lòng người đã lãng quên nên vầng trăng “Tri kỉ”, “tình nghĩa” ngày nào nay đã trở thành “người dưng qua đường”. Phép so sánh đã cho thấy sự thay đổi đến đau lòng, câu thơ ngắn gọn mà ý tứ diễn đạt thì vô cùng. Sự ồn ã, xa hoa của phố phường, công việc mưu sinh rồi những nhu cầu vật chất... đã lôi kéo con người ra khỏi những giá trị tinh thần của một thời. Sự vô tâm của con người đã khiến họ trở thành kẻ quay lưng với quá khứ.
=> Trong cuộc sống hiện đại dù vô tình, con người đã trở thành kẻ bạc bẽo, hoàn toàn quên lãng vầng trăng.
Cuộc hội ngộ giữa người và trăng
- Tình huống bất ngờ làm thay đổi mạch cảm xúc:
+ Trăng xuất hiện đánh thức bao kỉ niệm, gợi nên bao suy ngẫm:
“Thình lình đèn điện tắt
...vầng trăng tròn”
+ Ba khổ thơ đầu, điệp từ “hồi” được lặp lại khiến giọng thơ bình thường, đều đặn, thủ thỉ, sang khổ thơ thứ 4, giọng thơ đột ngột cất cao trước một tình huống bất ngời. Bằng phép đảo ngữ “thình lình đèn điện tắt”, cuộc sống xa hoa, hiện đại tạm thời biến mất, theo phản xạ tìm ánh sáng từ trong bóng tối, con người vội bật tung cửa sổ và bất ngờ gặp lại vầng trăng xưa. Trăng vẫn bên cửa sổ. Tròn vành vạnh, vẫn tình nghĩa, thủy chung như ngày nào. Phép đảo ngữ “đột ngột” càng nhấn mạnh sự bất ngờ thức tỉnh sau một chặng đường dài lãng quên.
=> Đến đây người lính từng trải như Nguyễn Duy đã chợt nhận ra một điều: cuộc đời mỗi con người giống như một dòng chảy có những quanh co, uốn khúc nhưng phải qua những khúc quanh, qua những biến cố, con người mới nhận ra đâu là chân giá trị của cuộc sống.
- Tình huống bất ngờ xảy đến khiến dòng chảy cuộc đời như ngừng lại, thời gian cũng như ngừng trôi trong cuộc gặp gỡ giữa hai tâm hồn, khi người và trăng mặt đối mặt. Con người như lặng đi trong nỗi xúc động mãnh liệt. Người đối diện với trăng trong tư thế có phần thành kính
“ngửa mặt lên nhìn mặt
"có cái gì rưng rưng”
+ Từ “mặt” là từ nhiều nghĩa, tác giả đối mặt vầng trăng hay cũng chính là đối diện đàm tâm, tự soi vào chính mình, soi vào quá khứ, nhìn một thời lãng quên vô tình, bạc bẽo.
+ Trong cuộc đối diện không lười đó, gặp lại người bạn tri kỉ thuở xưa, con người “rưng rưng” xúc động. “Rưng rưng” là cảm xúc dân trào đến nghẹn lời, đến muốn khóc.
+ Trong sự xúc động dâng cao đó, cả một quãng thời gian rất xa sống dậy:
“Như là đồng là bể
như là sông là rừng”
Điệp ngữ “Như là”, phép liệt kê: đồng, sông, bể, rừng xuất hiện một lần nữa, cùng nhịp thơ nhanh như nhiều lớp sóng của hoài niệm ùa về. Phép so sánh để khẳng định cái khoảnh khắc “rưng rưng” ấy, chính là tuổi thơ êm đềm, là những năm tháng chiến đấu gian lao, vất vả, ở đó người luôn có trăng.
=> Khổ thơ là sự xúc động chân thành sâu lắng.
Những suy ngẫm của tác giả.
- Khép lại bài thơ Ánh trăng, Nguyễn Duy đã thể hiện rất rõ ý nghĩa biểu tượng của hình ảnh vầng trăng và từ đó tác giả nêu ra bài học triết lí gợi nhắc thái độ sống đối với mỗi người
“Trăng cứ tròn vành vạnh
kể chi người vô tình
ánh trăng im phăng phắc
đủ cho ta giật mình.”
- Trăng xưa vẫn vậy, vẫn tròn đầy, vẹn nguyên thủy chung, từ “cứ”, “kể chi” còn cho thấy thái độ bao dung, độ lượng của vần trăng nhưng đối lập với hình ảnh trăng tròn vành vạnh là con người vô tình, đổi thay.
- Trăng như một người bạn với ánh nhìn im phăng phắc, đó là cái nhìn nghiêm nghị dù rất bao dung, không một lời trách cứ, Trăng như một người bạn bao dung, nhân hậu, độ lượng
- Đến đây “Vầng trăng” đã được thay bằng “Ánh trăng” để nhấn mạnh về ánh sáng. Ánh sáng của lương tri con người soi rọi những góc khuất tối trong tâm hồn người. Ánh sáng soi đường cho con người trở về về với con đường thủy chung, tình nghĩa
- Trước cái nhìn nghiêm nghị, bao dung của người bạn thủy chung, ân tình, trước ánh sáng kì diệu của vầng trăng, con người phải “giật mình”. Giật mình để nhìn lại chính mình. Giật mình để tự vấn lương tâm, để soi vào chính mình, để thấy những tháng ngày qua mình đã vô tình bạc bẽo, để hoàn thiện bản thân. Đây là cái giật mình vô cùng đáng quý, đáng trân trọng.
=> Như vậy, qua khổ thơ cuối, hình ảnh vần trăng mang ý nghĩa biểu tượng sâu xa. Trăng là vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên, trăng là đồng chí, đồng đội, là tấm lòng bao dung, nhân hậu của nhân dân. Trăng là quá khứ vất vả, gian lao nhưng tình nghĩa. Trăng là cội nguồn, là quê hương, đất nước. Từ hình ảnh vầng trăng, tác giả gợi nhắc người đọc một bài học triết lí sâu xa. Đó là thái độ sống “Uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thủy chung.
=> Bài học về cách sống của bản thân:
- Luôn sống thủy chung, tình nghĩa, nghĩ nhớ công ơn thế hệ trước và những người giúp đỡ mình.
- Sống độ lượng, bao dùng.
- Luôn biết yêu thương, quan tâm với mọi người.
3. Tổng kết
Nội dung:
- Bài thơ là lời nhắc nhở về những năm tháng gian lao đã qua của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước, bình dị, hiền hậu.
- Từ đó, gợi nhắc người đọc thái độ sống “uống nước nhớ nguồn”, ân nghĩa thuỷ chung cùng quá khứ.
Nghệ thuật:
- Giọng điệu tâm tình, tự nhiên kết hợp giữa yếu tố trữ tình và tự sự.
- Hình ảnh giàu tính biểu cảm: trăng giàu ý nghĩa biểu tượng.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
