Đề thi vào 10 môn Văn Tuyên Quang
Đề thi vào 10 môn Văn Tuyên Quang năm 2026
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
TUỔI THƠ ĐỂ LẠI
Tôi để lại tuổi thơ nơi bến nước
Cánh cò bay thấp thoáng khúc ca dao
Mẹ lặn lội trên cánh đồng cổ tích
Tiếng ếch rơi ướt sũng trận mưa rào.
[ .. ]
Tôi để lại tuổi thơ nơi bến nước
Bè chuối mang khát vọng đến chân trời
Thuở vẫy vùng đầu trần bê bết đất
Để mẹ tìm mỏi mắt giọng hụt hơi.
Tôi để lại tuổi thơ bên sách vở
Tiếng dế kêu trong cặp cói bao ngày
Buổi trốn học ra bờ đê đón gió
Bỏ quên lời mẹ dặn giữa cỏ may.
Tôi để lại giữa bạt ngàn thương nhớ
Tuổi thơ tôi mang sắc nắng mặt trời
Ơi bi đá, ơi cánh chuồn bẻ dại
Có về trong thốn thức tiếng mưa rơi ...
(Trần Văn Lợi1, Trích Đã như là hóa thạch những mồ hôi, NXB Hội Nhà văn, 2019, tr.29,30)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Chỉ ra những hình ảnh xuất hiện trong tuổi thơ của “tôi” ở khổ thơ thứ nhất của văn bản.
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của biện pháp điệp cấu trúc “Tôi để lại tuổi thơ ... " được sử dụng trong văn bản.
Câu 4 (1,0 điểm). Em hãy nhận xét về tuổi thơ của nhân vật “tôi" trong hai dòng thơ:
Thuở vẫy vùng đầu trần bê bết đất
Để mẹ tìm mỏi mắt giọng hụt hơi.
Câu 5 (1,0 điểm). Văn bản trên gợi cho em suy nghĩ gì về vai trò của những kỉ niệm tuổi thơ đối với hành trình trưởng thành của mỗi người? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).
PHẦN VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm). Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nghĩ của em về khổ thơ cuối trong văn bản ở phần Đọc hiểu:
Tôi để lại giữa bạt ngàn thương nhớ
Tuổi thơ tôi mang sắc nắng mặt trời
Ơi bi đá, ơi cánh chuồn bé dại
Có về trong thổn thức tiếng mưa rơi ...
Câu 2 (4,0 điểm). Gia đình không chỉ là nơi chúng ta được yêu thương, che chở mà còn là nơi mỗi thành viên cùng góp sức tạo nên một mái ấm hạnh phúc.
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) để đề xuất một số giải pháp góp phần xây dựng gia đình gắn kết, yêu thương.
Đáp án
PHẦN I
Câu 1.
Phương pháp:
Đếm số tiếng trong mỗi dòng thơ và cách gieo vần.
Cách giải:
Thể thơ 8 chữ
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc kĩ khổ thơ thứ nhất, xác định các hình ảnh gắn với tuổi thơ của nhân vật “tôi”.
Cách giải:
Những hình ảnh xuất hiện trong tuổi thơ của “tôi” ở khổ thơ thứ nhất: Bến nước, cánh cò, khúc ca dao, cánh đồng cổ tích, tiếng ếch, trận mưa rào.
Câu 3.
Phương pháp:
Xác định cụm từ được lặp lại ở đầu các khổ thơ: “Tôi để lại tuổi thơ...”.
Phân tích tác dụng: nhấn mạnh nỗi nhớ tuổi thơ, tạo liên kết mạch cảm xúc và tăng nhạc điệu cho bài thơ.
Cách giải:
- Tác dụng của biện pháp điệp cấu trúc “Tôi để lại tuổi thơ...”:
+ Nhấn mạnh nỗi nhớ da diết, sâu nặng của nhân vật “tôi” đối với tuổi thơ.
+ Gợi lên những kỉ niệm tuổi thơ bình dị, thân thương nơi làng quê.
+ Làm cho mạch cảm xúc của bài thơ trở nên liền mạch, giàu nhạc điệu.
=> Thể hiện tình yêu quê hương, gia đình và sự trân trọng những năm tháng tuổi thơ đẹp đẽ.
Câu 4.
Phương pháp:
- Chú ý các chi tiết miêu tả hoạt động, trạng thái của nhân vật “tôi”.
- Nhận xét tuổi thơ hồn nhiên, nghịch ngợm, giàu trải nghiệm nhưng cũng gắn với tình yêu thương, sự lo lắng của mẹ.
Cách giải:
- Hai dòng thơ cho thấy tuổi thơ của nhân vật “tôi” gắn với những tháng ngày vất vả nhưng giàu yêu thương.
- Hình ảnh “thuở váy vùng đầu trần bế bết đất” gợi sự hồn nhiên, nghịch ngợm của trẻ nhỏ nơi thôn quê.
- “Để mẹ tìm mỏi mắt giọng hụt hơi” cho thấy tình yêu thương, sự lo lắng và hi sinh của mẹ dành cho con.
=> Qua đó, tác giả thể hiện nỗi nhớ thương tha thiết về tuổi thơ cùng tình mẫu tử sâu nặng.
Câu 5.
Phương pháp:
- Nêu suy nghĩ về ý nghĩa của kỉ niệm tuổi thơ đối với mỗi con người.
- Khẳng định kỉ niệm tuổi thơ là hành trang tinh thần giúp con người trưởng thành, sống tốt đẹp hơn.
Cách giải:
- Những kỉ niệm tuổi thơ có vai trò rất quan trọng đối với hành trình trưởng thành của mỗi con người. Đó là hành trang tinh thần quý giá nuôi dưỡng tâm hồn và cảm xúc của chúng ta.
- Những kỉ niệm đẹp giúp con người biết yêu thương, sống nhân hậu và trân trọng gia đình, quê hương.
- Kỉ niệm tuổi thơ còn là nơi nâng đỡ con người vượt qua khó khăn trong cuộc sống. Dù trưởng thành đến đâu, ai cũng luôn hướng về những năm tháng tuổi thơ với sự yêu thương và biết ơn sâu sắc.
PHẦN II
Câu 1.
Phương pháp:
- Xác định nội dung khổ thơ cuối: nỗi nhớ và sự trân trọng tuổi thơ.
- Phân tích các hình ảnh, biện pháp nghệ thuật tiêu biểu rồi nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản thân.
Cách giải:
1. Mở đoạn
Giới thiệu vấn đề nghị luận: khổ thơ gợi nhiều nỗi nhớ thương tha thiết về tuổi thơ quê nhà.
2. Thân đoạn
a. Hình ảnh tuổi thơ được tái hiện đầy hoài niệm.
- Hai câu thơ đầu:
“Tôi để lại giữa bạt ngàn thương nhớ”
Tuổi thơ tôi mang sắc nắng mặt trời”
+ Khẳng định tuổi thơ đã trở thành miền kí ức sâu đậm trong tâm hồn tác giả.
+ Tuổi thơ hiện lên tươi sáng, ấm áp, rực rỡ và đầy sức sống.
- Hai câu thơ sau:
“Ôi bi đá, ôi cánh chuồn bé dại”
Có về trong thổn thức tiếng mưa rơi...”
+ Những hình ảnh trò chơi dân gian, sự vật quen thuộc gợi tuổi thơ hồn nhiên, vô tư.
+ Âm thanh tiếng mưa gợi nỗi nhớ da diết, bâng khuâng về những ngày xưa cũ.
b. Nghệ thuật:
- Điệp từ “ôi” diễn tả cảm xúc xúc động, thiết tha.
- Hình ảnh gần gũi, giàu sức gợi.
- Giọng thơ nhẹ nhàng, sâu lắng.
3. Kết đoạn
Tổng kết vấn đề nghị luận.
Câu 2.
Phương pháp:
- Giải thích vai trò của gia đình đối với mỗi người; phân tích thực trạng và ý nghĩa của gia đình gắn kết, yêu thương.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể như quan tâm, chia sẻ, lắng nghe, dành thời gian cho nhau; phê phán lối sống thờ ơ và rút ra bài học nhận thức, hành động.
Cách giải:
1. Mở bài
Nêu vấn đề nghị luận: Giải pháp để xây dựng gia đình gắn kết, hạnh phúc.
2. Thân bài
a) Giải thích
- Gia đình gắn kết, yêu thương là gia đình mà các thành viên biết quan tâm, chia sẻ, tôn trọng và đồng hành cùng nhau.
b) Ý nghĩa của gia đình gắn kết
- Mang lại hạnh phúc, sự bình yên cho mỗi người.
- Giúp con người có điểm tựa tinh thần để vượt qua khó khăn.
- Góp phần hình thành nhân cách tốt đẹp.
- Là nền tảng xây dựng xã hội văn minh, nhân ái.
c) Thực trạng
- Nhiều gia đình hiện nay thiếu sự quan tâm, trò chuyện.
- Cha mẹ bận rộn, con cái lệ thuộc vào điện thoại, mạng xã hội.
- Xuất hiện tình trạng mâu thuẫn, lạnh nhạt giữa các thành viên.
d) Giải pháp xây dựng gia đình gắn kết, yêu thương
- Các thành viên cần quan tâm, lắng nghe và chia sẻ với nhau:
+ Hỏi han, động viên nhau mỗi ngày.
+ Biết thấu hiểu cảm xúc của người thân.
- Dành nhiều thời gian cho gia đình: Cùng ăn cơm, trò chuyện; Cùng tham gia các hoạt động chung như du lịch, dọn dẹp nhà cửa.
- Tôn trọng và yêu thương lẫn nhau: Không áp đặt, xúc phạm nhau; Biết nhường nhịn và bao dung.
- Cha mẹ cần làm gương: Sống yêu thương, trách nhiệm; Dạy con bằng hành động tích cực; Hạn chế sự phụ thuộc vào thiết bị điện tử; Tăng giao tiếp trực tiếp trong gia đình; Xây dựng những khoảng thời gian “không điện thoại”; …
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp.
e) Phản đề
- Phê phán những người sống ích kỉ, vô tâm, thờ ơ với gia đình.
- Phê phán bạo lực gia đình, lối sống chỉ quan tâm bản thân.
3. Kết bài:
Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn Tuyên Quang năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIẾU (4,0 điểm)
Đọc văn băn:
Những tháng năm lam lũ với đã tràng
Chuyện buồn vui giấu vào trong mép sông
Cá xóm chài xôn xao chiều biển động
Bão giông thường tạt xuống lắm buồn đau
Mẹ lặng thầm ngồi tát cạn đêm thấu
Lo nỗi đời nhiều mưa nguồn chớp bế
Tôi nông nổi đi hết bờ tuổi trẻ
Còn nghe lời nhắn nhù tự xa sâu
Những con đê cường tráng tựa vai nhau
Vẫn nở vàng một loài hoa nhỏ dại
Khi tôi đi sóng vỗ vào nỗi nhớ
Khi tôi về biển hát điệu dân ca ...
(Trích Gửi quê - Trần Văn Lợi, in trong tập thơ Miền gió cát, NXB Thanh niên, 2000, tr.10)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản trên.
Câu 2 (0,5 điểm). Người bộc lộ cảm xúc trong văn bản xuất hiện trực tiếp qua từ ngữ nào?
Câu 3 (1,0 điểm). Phân tích tác dụng của việc sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa trong dòng thơ Những con đê cường tráng tựa vai nhau.
Câu 4 (1,0 điểm). Trình bày cách hiểu của em về hai dòng thơ sau:
Mẹ lặng thầm ngồi tát cạn đêm thâu
Lo nỗi đời nhiều mưa nguồn chớp bế
Câu 5 (1,0 điểm). Văn bản trên gợi cho em suy nghĩ gì về vai trò của quê hương đối với mỗi người? (Trình bày khoảng 5 đến 7 dòng).
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2,0 điểm)
Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) ghi lại cảm nghĩ của em về đoạn thơ (3) ở phần Đọc hiểu.
Câu 2 (4,0 điểm)
Hiện nay, việc sử dụng điện thoại thông minh (smartphone) đã trở nên khả phố biến trong đối tượng học sinh trung học.
Hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày các giải pháp giúp học sinh sử dụng điện thoại thông minh một cách hiệu quả.
Lời giải chi tiết
ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp:
Căn cứ các thể thơ đã học, phân tích
Cách giải:
Thể thơ 8 chữ
Câu 2
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, phân tích
Cách giải:
Người bộc lộ cảm xúc trong văn bản xuất hiện trực tiếp qua các từ ngữ: “tôi”.
Câu 3
Phương pháp:
Căn cứ bài nhân hoá, phân tích
Cách giải:
Biện pháp nhân hoá: (con đê) cường tráng, tựa vai
Tác dụng:
- Gợi hình ảnh sinh động, gần gũi, thân thiết giữa những con đê – như những con người cùng kề vai sát cánh bảo vệ làng quê.
- Thể hiện sức mạnh kiên cường, bền bỉ của quê hương trước thiên tai, bão lũ.
- Làm nổi bật tinh thần đoàn kết
Câu 4
Phương pháp:
Căn cứ nội dung hai câu thơ, phân tích
Cách giải:
HS dựa vào nội dung 2 câu thơ và đưa ra cách hiểu phù hợp
- Hình ảnh “mẹ lặng thầm ngồi tát cạn đêm thâu” thể hiện sự hy sinh thầm lặng và vất vả của mẹ trong cuộc sống.
- “Lo nỗi đời nhiều mưa nguồn chớp bể” diễn tả những lo toan, trăn trở về cuộc đời đầy giông bão, biến động.
=> Hai câu thơ thể hiện sâu sắc tình yêu thương, đức hi sinh và vai trò chở che của người mẹ, đồng thời cũng biểu tượng cho hình ảnh quê hương tảo tần, bền bỉ vượt qua gian khó.
Câu 5
Phương pháp:
Phân tích
Cách giải:
Gợi ý:
- Quê hương là nơi nuôi dưỡng tuổi thơ, là nguồn cội yêu thương không thể thay thế trong cuộc đời mỗi người.
- Quê hương cũng là chốn bình yên, chở che trước mọi bão giông của cuộc sống.
- Tình yêu quê hương giúp ta vững bước hơn trên hành trình trưởng thành và thôi thúc mỗi người phải biết sống có trách nhiệm, biết trân trọng cội nguồn.
PHẦN VIẾT
Câu 1
Phương pháp:
Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích…
Cách giải:
1. Mở đoạn: Giới thiệu chung
2. Thân đoạn
- Vẻ đẹp quê hương vừa mang vẻ đẹp mạnh mẽ, kiên cường vừa mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị:
+ “Những con đê cường tráng tựa vai nhau” – Hình ảnh nhân hóa cho thấy vẻ đẹp mạnh mẽ, kiên cường của quê hương, như những con người đoàn kết, bền bỉ chống chọi thiên tai.
+ “Vẫn nở vàng một loài hoa nhỏ dại” – Gợi vẻ đẹp bình dị, mộc mạc nhưng bền bỉ, tượng trưng cho sức sống và phẩm chất của con người nơi quê nhà.
→ Quê hương hiện lên vừa vững chãi vừa dịu dàng.
- Tình yêu quê hương và sự gắn bó sâu sắc với quê hương:
+ Nỗi nhớ cồn cào khi xa quê, hình ảnh sóng là biểu tượng cho cảm xúc dâng trào: “Khi tôi đi sóng vỗ vào nỗi nhớ”
+ Trở về quê là trở về với những giai điệu thân thuộc, đầy yêu thương.
→ Cảm xúc chân thành, tha thiết với quê hương – nơi lưu giữ ký ức và nuôi dưỡng tâm hồn.
- Nghệ thuật:
+ Ngôn ngữ thơ mộc mạc, tự nhiên, đậm chất trữ tình.
+ Sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ: nhân hoá, …
+ Giọng điệu thiết tha, giàu cảm xúc
3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề
Câu 2
Phương pháp:
Vận dụng linh hoạt các thao tác lập luận, phân tích…
Cách giải:
1. Mở đoạn
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: Sử dụng điện thoại thông minh cho hợp lí.
2. Thân đoạn
a. Giải thích
- Điện thoại di động, còn gọi là điện thoại thông minh, là loại điện thoại kết nối dựa trên sóng điện từ vào mạng viễn thông. Nhờ có kết nối sóng (kết nối không dây), mà điện thoại di động thực hiện trao đổi thông tin khi đang di chuyển.
b. Bàn luận
- Thực trạng: Điện thoại thông minh đang được học sinh sử dụng phổ biến trong nhiều trường học: Sử dụng điện thoại chưa đúng cách, chưa đúng mục đích.
- Nguyên nhân
+ Xã hội ngày càng phát triển, đời sống con người được nâng cao, điện thoại thông minh trở thành vật không thể thiếu đối với con người
+ Nhiều gia đình có điều kiện, chiều con nên trang bị cho con mình điện thoại nhiều chức năng nhưng lại không quản lí việc sử dụng của con em mình
- Hậu quả
+ Sử dụng điện thoại trong giờ học: không hiểu bài, hổng kiến thức.
+ Sử dụng điện thoại với mục đích xấu: ảnh hưởng đến đời sống tinh thần của những người xung quanh, vi phạm chuẩn mực đạo đức, vi phạm pháp luật.
- Giải pháp: Sử dụng điện thoại thông minh cho hợp lí.
+ Bản thân học sinh cần có ý thức tự giác trong học tập; cần biết sống có văn hóa, có đạo đức, hiểu biết pháp luật.
+ Gia đình: quan tâm hơn tới các em, gần gũi, tìm hiểu và kịp thời giáo dục con em…
+ Nhà trường, xã hội: siết chặt hơn trong việc quản lí.
HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp
c. Bài học nhận thức và hành động để sử dụng điện thoại thông minh cho hợp lí.
+ Nhận thức: Nhận thức được những ưu, nhược mà điện thoại thông minh mang lại cho con người để sử dụng chúng một cách hiệu quả, đem lại ích lợi cho cuộc sống, công việc cũng như trong học tập.
+ Hành động:
Biết kiểm soát chừng mực mỗi hành vi của mình, trang bị những kỹ năng sống cần thiết.
Sử dụng điện thoại đúng mục đích.
Đầu tư cho việc học tập, tránh lãng phí thời gian vô bổ.
3. Kết đoạn
- Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Đừng lãng phí thời gian, bởi vì thời gian là vàng bạc – rất quý giá - Đừng để điện thoại huỷ hoại cuộc sống của mình.
Đề thi vào 10 môn Văn Tuyên Quang năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU. Đọc đoạn trích:
Mỗi người đều có một ước mơ riêng cho mình. Có những ước mơ nhỏ nhoi như của cô bé bán điểm trong truyện cổ An-đéc-xen: một mái nhà trong đêm đông giá buốt. Cũng có ước mơ không chỉ những ước mơ lớn lao làm thay đổi cả thế giới như của tỷ phú Bill Gates. Mơ ước khiến chúng ta trở nên năng động một cách sáng tạo. Nhưng chỉ mơ thôi thì chưa đủ, trở thành hiện thực khi đi kèm với hành động và nỗ lực thực hiện ước mơ... Tất cả chúng ta đều phải hành động nhằm biến ước mơ của mình thành hiện thực.
[...]Ngày bạn thôi mơ mộng là ngày cuộc đời bạn mất hết ý nghĩa. Những người biết ước mơ là những người đang sống cuộc sống của các thiên thần. Ngay cả khi giấc mơ của bạn không bao giờ trọn vẹn, bạn cũng sẽ không phải hối tiếc vì nó. Như Đôn Ki-hô-tê đã nói: “Việc mơ những giấc mơ diệu kỳ là điều tốt nhất một người có thể làm".
Tôi vẫn tin vào những câu chuyện cổ tích - nơi mà lòng kiên nhẫn, ý chí bền bị sẽ được đền đáp. Hãy tự tin tiến bước trên con đường mơ ước của bạn.
(Trích Quà tặng cuộc sống, NXB TP.HCM, 2016, tr. 56-57)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích.
Câu 2 (0,5 điểm). Theo tác giả, ước mơ chỉ trở thành hiện thực khi nào?
Câu 3 (1,0 điểm). Thông điệp mà em tâm đắc nhất trong đoạn trích là gì? Vì sao?
Câu 4 (2,0 điểm). Từ nội dung đoạn trích, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về vai trò của ước mơ trong cuộc sống con người.
II. LÀM VĂN. Cảm nhận của em về vẻ đẹp hình ảnh người lính lái xe trong đoạn thơ sau:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa như ùa vào buồng lái.
Không có kính, ù thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
(Trích Bài thơ về tiểu đội xe không kính, Phạm Tiến Duật, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2009, tr.131)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Theo tác giả, ước mơ chỉ có thể trở thành hiện thực khi đi kèm với hành động và nỗ lực thực hiện ước mơ.
Câu 3:
Phương pháp:
Phân tích.
Cách giải:
Học sinh tự đưa ra thông điệp ý nghĩa nhất đối với bản thân. Có lý giải.
Gợi ý:
- Cuộc đời con người sống phải có ước mơ, khát vọng.
- Ước mơ phải đi kèm với những hành động cụ thể để hiện thức hóa ước mơ đó.
….
II. LÀM VĂN
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
* Giải thích:
- Ước mơ” là những mong muốn, nguyện ước tốt đẹp mà con người mong muốn có được trong tương lai.
* Bàn luận:
- Người có ước mơ mới có động lực làm việc, học tập và cống hiến cho xã hội. Khi mỗi con người trên con đường thực hiện ước mơ của mình cũng chính là đóng góp cho xã hôi, cho đất nước phát triển.
- Trên con đường thực hiện ước mơ chúng ta có thể gặp những khó khăn thử thách, khi vượt qua được thử thách đó chúng ta sẽ có thêm những bài học quý giá để hoàn thiện bản thân mình.
- Người sống có ước mơ sẽ thấy cuộc sống tươi đẹp hơn, nhiều màu sắc hơn.
- Khi theo đuổi ước mơ, chúng ta sẽ rèn luyện được những đức tính quý báu như kiên trì, nhẫn nại, chăm chỉ…
(Quá trình bàn luận phải lấy được dẫn chứng. Dẫn chứng phải phù hợp với lí lẽ đã nêu)
- Phản đề: Trong xã hội vẫn còn nhiều người sống không có ước mơ, hoài bão, vô cảm hoặc có ước mơ nhưng không cố gắng thực hiện mà chỉ hão huyền, viển vông.
* Bài học nhận thức và hành động:
- Là một học sinh ngồi trên ghế nhà trường chúng ta cần phải có ước mơ mục đích sống cho riêng mình.
- Để đạt được ước mơ chúng ta cần ra sức rèn luyện học tập, tu dưỡng đạo đức để chuẩn bị những tư trang cần thiết cho con đường đi tới ước mơ của mình.
Câu 2:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Phạm Tiến Duật, tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính.
- Khái quát nội dung đoạn trích: Hình ảnh tiểu đội xe không kính và vẻ đẹp của những người lính lái xe.
2. Thân bài
2.1 Hình ảnh tiểu đội xe không kính:
- Được giới thiệu rất độc đáo: “Không có kính không phải vì xe không có kính”:
+ Là lời giải thích của người lính về chiếc xe không kính.
+ Chứa đựng tâm trạng xót tiết, xuýt xoa, lại có chút phân bua, thanh minh. Tâm trạng này dễ hiểu vì với người lính lái xe chiếc xe là niềm tự hào, là phương tiện để góp sức cho chiến tuyến, góp phần làm nên chiến thắng chung.
- Miêu tả chân thực và sinh động: Không kính
-> Gợi: Sự khốc liệt của chiến trường; sự gian khổ khi lái xe; sự gan góc, kiên cường của người lính lái xe.
- Giúp người lính lái xe phát hiện ra chất thơ giữa đời thường:
+ Giúp người lính chan hòa với thiên nhiên.
+ Giúp họ nối kết tình đồng đội.
+ Tìm được những phút giây vui vẻ, hồn nhiên nhất.
=> Là một hình ảnh rất thực, không hiếm trên tuyến đường Trường Sơn trong những năm tháng kháng chiến chống Mĩ. Là hình ảnh đặc sắc, độc đáo trong thơ Phạm Tiến Duật nói riêng và thơ ca kháng chiến chống Mĩ nói chung. Nó vừa là biểu tượng cho sự tàn phá của chiến tranh, lại vừa là hình ảnh đẹp đẽ, nên thơ ngay trong cuộc chiến ác liệt.
2.2. Hình ảnh người lính lái xe Trường Sơn:
* Được khắc họa trên nền của cuộc chiến tranh ác liệt:
- “Bom giật, bom rung”, “bom rơi”
- Những chiếc xe không kính:
+ Gợi vùng đất chìm trong khói lửa chiến tranh, mưa bom, bão đạn không một chút bình yên.
+ Gợi những hiểm nguy, mất mát, hy sinh của cuộc đời người lính.
* Vẻ đẹp của người lính lái xe Trường Sơn:
- Phong thái ung dung, hiên ngang, dũng cảm:
+ Đảo ngữ: tô đậm sự ung dung, bình thản, điềm tĩnh đến kì lạ.
+ Điệp từ “nhìn”, thủ pháp liệt kê và lối miêu tả nhìn thẳng, không né tránh gian khổ, hy sinh, sẵn sàng đối mặt với gian nan, thử thách.
- Tâm hồn lãng mạn: Cảm nhận thiên nhiên như một người bạn nồng hậu, phóng khoáng: sao trời, cánh chim.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Tuyên Quang năm 2022
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (3 điểm) Đọc đoạn trích sau:
Cùng một cơn mưa, người tiêu cực sẽ bực mình vì phải đi áo mưa, người lạc quan thì nghĩ diệt mọi mầm vi khuẩn vi rút và nằm bệnh trong không khí, có tiền mua điều hoà sẽ thoải mái đến cây côi sẽ được xanh tươi, không khi sẽ được trong lành. Nắng nóng gay gắt là cơ hội để tiêu không có thì cố làm cho có tiền. Sau lũ lụt, phù sa sẽ màu mỡ hơn cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch. Lỗi lầm của người khác (do mình nghĩ vậy thôi chứ chưa chắc đó là lỗi lầm của người khác), thay vì giữ trong lòng và tức giận, thôi bỏ qua, mình sẽ thấy thoải mái hơn rất nhiều, vì sự thoải mái của mình trước đã.
[…] Người tích cực sẽ có gương mặt sáng bùng, nụ cười thường trực trên môi, sống và cháy hết mình, học tập và làm việc hết mình, không để ý cái nhỏ, cái tôi hạ rất thấp, thích nghi lại rất cao nên có thành tựu rực rỡ. Mở miệng ra là thốt lời hay ý đẹp, luôn khen, nếu không nói lời tử tế được cho nhau thì họ im lặng. Còn người tiêu cực, có thể họ có tiền, nhưng họ không bao giờ có một cuộc sống chất lượng và có thành tựu lớn, vì cảm xúc tiêu cực đã chiếm hết quỹ thời gian trong đời họ.
(Trích: Những khoảnh khắc 4h – Tony Buổi Sáng)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 (0,5 điểm) Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích?
Câu 2 (0,5 điểm) Theo tác giả, trước một cơn mưa, người tiêu cực sẽ có thái độ như thế nào?
Câu 3 (1,0 điểm) Chỉ ra và nêu tác dụng của phép liệt kê có trong câu: Sau lũ lụt, phù sa sẽ màu mỡ hơn cho cánh đống, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch.
Câu 4 (2,0 điểm) Từ nội dung phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của thái độ sống tích cực.
PHẦN II (6,0 điểm) Phân tích làm rõ vẻ đẹp hình tượng đất nước và ước nguyện được hoà nhập, cống hiến của nhân vật trữ tình được thể hiện trong đoạn thơ:
Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước.
Ta làm con chim hót
Ta làm một cành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc.
(Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.56)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU:
Câu 1:
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của đoạn trích? |
Phương pháp: Căn cứ bài các phương thức biểu đạt đã học.
Cách giải:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận.
Câu 2:
|
Theo tác giả, trước một cơn mưa, người tiêu cực sẽ có thái độ như thế nào? |
Phương pháp: Căn cứ bài đọc hiểu, tìm ý.
Cách giải:
Trước một cơn mưa người tiêu cực sẽ bực mình vì phải mặc áo mưa.
Câu 3:
|
Chỉ ra và nêu tác dụng của phép liệt kê có trong câu: Sau lũ lụt, phù sa sẽ màu mỡ hơn cho cánh đống, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch. |
Phương pháp: Căn cứ bài liệt kê, phân tích.
Cách giải:
- Liệt kê: phù sa sẽ màu mỡ cho cánh đồng, sâu bọ sẽ bị quét sạch ra biển, dư lượng hóa chất trong đất đai sẽ bị rửa sạch.
- Tác dụng: Biện pháp liệt kê giúp nhấn mạnh, nêu ý nghĩa của những trận lũ lụt.
Câu 4:
|
Từ nội dung phần đọc hiểu, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của thái độ sống tích cực. |
Phương pháp: Phân tích, giải thích, tổng hợp.
Cách giải:
a. Yêu cầu về hình thức: Viết đúng một đoạn văn 200 chữ.
b. Yêu cầu nội dung:
- Giới thiệu vấn đề: Ý nghĩa của thái độ sống tích cực.
- Giải thích: Thái độ sống tích cực là việc con người luôn suy nghĩ, hành động hướng đến những điều tốt đẹp, có năng lượng tích cực với mọi vấn đề trong cuộc sống.
- Ý nghĩa của thái độ sống tích cực:
+ Thái độ sống tích cực tạo ra cơ hội thành công trong cuộc sống cao hơn.
+ Thái độ sống tích cực đem lại cho cuộc sống con người những niềm vui, hạnh phúc.
+ Thái độ sống của cá nhân góp phần thúc đẩy sự phát triển của xã hội.
+ Thái độ sống tích cực giúp con người dễ dàng vượt qua những khó khăn, thử thách của cuộc đời.
+ Thái độ sống tích cực tạo ra năng lượng tích cực, lan tỏa năng lượng ấy tới mọi người xung quanh tạo ra cuộc sống có ý nghĩa.
- Mở rộng, liên hệ.
+ Phê phán những người có lối sống tiêu cực.
+ Cần cố gắng học hỏi, bồi dưỡng năng lượng tích cực trong tâm hồn.
II. LÀM VĂN:
|
Phân tích làm rõ vẻ đẹp hình tượng đất nước và ước nguyện được hoà nhập, cống hiến của nhân vật trữ tình được thể hiện trong đoạn thơ: Đất nước bốn ngàn năm Vất vả và gian lao Đất nước như vì sao Cứ đi lên phía trước.
Ta làm con chim hót Ta làm một cành hoa Ta nhập vào hòa ca Một nốt trầm xao xuyến.
Một mùa xuân nho nhỏ Lặng lẽ dâng cho đời Dù là tuổi hai mươi Dù là khi tóc bạc. (Trích Mùa xuân nho nhỏ - Thanh Hải, Ngữ văn 9, tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.56) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả Thanh Hải và tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ.
- Giới thiệu 3 khổ thơ cần phân tích.
2. Thân bài
2.1. Cảm xúc nhà thơ trước mùa xuân đất nước
Từ đó, thi nhân bày tỏ niềm tự hào về quê hương, đất nước và niềm tin vào tương lai:
“Đất nước bốn ngàn năm
Vất vả và gian lao
Đất nước như vì sao
Cứ đi lên phía trước”
+ Tính từ “vất vả” “gian lao”: đúc kết quá khứ, lịch sử dân tộc đầy đau thương, mất mát song cũng rất đáng tự hào. Đó là bốn ngàn năm dựng và giữ nước gian khổ mà hào hùng của cha ông ta.
Đoạn thơ bộc lộ lòng biết ơn, tự hào, kiêu hãnh với các thế hệ đã làm nên lịch sử hào hùng của đất nước.
+ So sánh “đất nước như vì sao” gợi vẻ đẹp tươi sáng của đất nước trên con đường đi tới tương lai; gợi niềm tin của tác giả vào 1 ngày mai tươi đẹp, phồn vinh của quê hương, đất nước.
Giọng thơ vừa tha thiết, sôi nổi, vừa trang trọng đã gói trọn niềm yêu mến, tự hào, tin tưởng của nhà thơ về đất nước.
2.2 Khát vọng, lí tưởng sống cao đẹp của nhà thơ
- Mùa xuân đất nước đã khơi dậy trong lòng nhà thơ những khát vọng sống cao quý:
“Ta làm con chim hót
Ta làm một nhành hoa
Ta nhập vào hòa ca
Một nốt trầm xao xuyến”
+ Điệp từ “ta làm”, lặp cấu trúc, liệt kê -> giúp tác giả bày tỏ ước nguyện được hiến dâng cuộc đời mình cho quê hương, xứ sở.
+ Các hình ảnh “con chim hót” “một cành hoa” “nốt nhạc trầm”: giản dị, tự nhiên mà đẹp, thể hiện ước nguyện khiêm nhường mà đáng quý.
+ Có sự ứng đối với các hình ảnh ở đầu bài thơ -> lí tưởng cống hiến cho đời là một lẽ tự nhiên, tất yếu; gợi liên tưởng đến mối quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người – đất nước.
Tấm lòng thiết tha được hòa nhập, được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
Khát vọng sống đẹp được nâng lên thành lí tưởng sống cao cả”
“Một mùa xuân nho nhỏ
Lặng lẽ dâng cho đời
Dù là tuổi hai mươi
Dù là khi tóc bạc”
+ “Mùa xuân nho nhỏ”: ẩn dụ cho những gì đẹp nhất, tinh túy nhất của cuộc đời con người để góp phần làm nên mùa xuân của đất nước. Là cách nói khiêm nhường, giản dị, gợi một tâm hồn đẹp, một lối sống đẹp, một nhân cách đẹp “lặng lẽ dâng cho đời”.
+ Điệp từ “dù là” + hình ảnh tương phản “tuổi hai mươi” – “khi tóc bạc” khẳng định sự tồn tại bền vững của những khát vọng và lí tưởng sống ấy. Cả cuộc đời mình ông vẫn muốn chắt chiu những gì tốt đẹp nhất để hiến dâng cho đời.
=> Khổ thơ là lời tổng kết của nhà thơ về cuộc đời mình. Cho đến tận cuối đời ông vẫn khát khao cống hiến cho đất nước.
* Mối quan hệ giữa cá nhân với đất nước: Giữa cá nhân và đất nước có mối quan hệ gắn bó khăn khít với nhau.
- Công sức của mỗi cá nhân sẽ làm nên mùa xuân cho đất nước. Và ngược lại đất nước sẽ tạo điều kiện cho mỗi cá nhân được phát triển.
- Mỗi cá nhân cần có ý thức, trách nhiệm trong việc cống hiến để xây dựng và bảo vệ đất nước.
3. Kết bài:
- Nội dung: Bày tỏ lẽ sống đẹp đẽ, cao cả, đó là sẵn sàng dâng hiến cuộc đời mình cho đất nước, quê hương.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ 5 chữ, giàu nhịp điệu.
+ Ngôn ngữ, hình ảnh giản dị, trong sáng.
+ Cảm xúc chân thành, tha thiết.
Đề thi vào 10 môn Văn Tuyên Quang năm 2021
Đề bài
PHẦN I (6.0 điểm)
Người đồng mình thương lắm con ơi
Cao đo nỗi buồn
Xa nuôi chí lớn
Dẫu làm sao thì cha vẫn muốn
Sống trên đá không chê đá gập ghềnh
Sống trong thung không chê thung nghèo đói
Sống như sông như suối
Lên thác xuống ghềnh
Không lo cực nhọc
Người đồng minh thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con.
(Trích Nói với con - Y Phương, Ngữ văn 9, Tập hai, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.2)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm) Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
Câu 2 (0,75 điểm) Tìm và cho biết tác dụng của biện pháp tu từ so sánh có trong đoạn trích.
Câu 3 (0,75 điểm) Chỉ ra thành ngữ có trong đoạn trích và cho biết ý nghĩa của thành ngữ đó.
Câu 4 (2,0 điểm) Từ nội dung gợi ra của các câu thơ: Sống như sống như suối / Lên thác xuống ghềnh / Không lo cực nhọc, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của ý chí con người trong cuộc sống.
PHẦN II (6,0 điểm) Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bé Thu trong đoạn trích Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng (Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.195-200).
Lời giải chi tiết
Phần I.
Câu 1.
|
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? |
Phương pháp: căn cứ tác phẩm Nói với con, các thể thơ đã học
Cách giải:
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ tự do.
Câu 2.
|
Tìm và cho biết tác dụng của biện pháp tu từ so sánh có trong đoạn trích |
Phương pháp: căn cứ bài So sánh, phân tích
Cách giải:
Biện pháp tu từ so sánh: “Sống như sông như suối”
=> Thể hiện sự mộc mạc, hồn nhiên, khoáng đạt của người đồng mình, họ luôn sống gần gũi và chan hòa với thiên nhiên. Ngoài ra, “sống như sông như suối” còn thể hiện được sức sống dẻo dai, bền bỉ, giàu nghị lực của người đồng mình.
Câu 3.
|
Chỉ ra thành ngữ có trong đoạn trích và cho biết ý nghĩa của thành ngữ đó. |
Phương pháp: căn cứ bài Thành ngữ, phân tích
Cách giải:
Thành ngữ có trong bài thơ là “Lên thác xuống ghềnh”.
⇒ Nhấn mạnh nỗi vất vả, khó nhọc trong cuộc sống làm ăn của “người đồng mình”.
Câu 4.
|
Từ nội dung gợi ra của các câu thơ: Sống như sống như suối / Lên thác xuống ghềnh / Không lo cực nhọc, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về vai trò của ý chí con người trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
1.Giới thiệu vấn đề: vai trò của ý chí con người trong cuộc sống.
2. Giải quyết vấn đề
- Ý chí là bản lĩnh, sự dũng cảm và lòng quyết tâm cố gắng vượt qua thử thách dù khó khăn, gian khổ đến đâu để đạt được mục tiêu đề ra.
- Người có ý chí nghị lực là người luôn vượt qua mọi khó khăn, không ngại gian khổ, thử thách.
- Vai trò của ý chí:
+ Nghị lực giúp con người đối chọi với khó khăn, vượt qua thử thách của cuộc sống một cách dễ dàng hơn. Ví dụ: Bill Gate…
+ Có niềm tin vào bản thân, tinh thần lạc quan để theo đuổi đến cùng mục đích, lí tưởng sống.
+ Thay đổi được hoàn cảnh số phận, cuộc sống có ích, có ý nghĩa hơn.
+ Trở thành những tấm gương về ý chí, nghị lực vượt lên số phận.
+ Người có ý chí nghị lực sẽ luôn được mọi người ngưỡng mộ, cảm phục, đồng thời tạo được lòng tin ở người khác.
- Phê phán những người không có ý chí, gặp khó khăn thường lẩn tránh hoặc bỏ cuộc.
3. Tổng kết vấn đề
Phần II.
|
Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật bé Thu trong đoạn trích Chiếc lược ngà của nhà văn Nguyễn Quang Sáng (Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2019, tr.195-200). |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm
- Giới thiệu luậ đề: Diễn biến tâm trạng của bé Thu
2. Thân bài:
* Tâm trạng của bé Thu trước khi nhận ra cha:
- Thu thương cha như thế. Ta tưởng chừng như khi được gặp cha, nó sẽ bồi hồi, sung sướng và sà vào vòng tay của ba nó nũng nịu với tình cảm mãnh liệt hơn bao giờ hết. Nhưng không, Thu đã làm cho người đọc phải bất ngờ qua hành động quyết liệt không chịu nhận ông Sáu là ba. “Nghe gọi, con bé giật mình, tròn mắt nhìn…ngơ ngác, lạ lùng…”
- Khi ông Sáu đến gần, giọng lặp bặp run run: “Ba đây con! Ba đây con” thì “Con bé thấy lạ quá, mặt bỗng tái đi, rồi vụt chạy và kêu thét lên: Má! Má!”. Sự lạ lẫm ấy khiến ông Sáu vô cùng hụt hẫng
- Suốt ba ngày, ông Sáu chẳng đi đâu xa, muốn ở bên con vỗ về, chăm sóc, bù đắp cho con sự thiếu thốn tình cảm. Song, ông càng xích lại gần thì nó càng tìm cách xa lánh, nhất định không gọi một tiếng “ba”. Khi má dọa đánh bắt kêu “ba” vào ăn cơm, nó nói trổng: “Vô ăn cơm!”; “Cơm chín rồi!”; “Con kêu rồi mà người ta không nghe”. Hai tiếng “người ta” làm ông Sáu đau lòng đến mức không khóc được, chỉ khe khẽ lắc đầu cười.
- Đến bữa sau, má giao cho nó nhiệm vụ ở nhà trông nồi cơm, nó không thể tự chắt nước. Tưởng chừng nó phải cầu cứu đến người lớn, phải gọi “ba”. Nhưng quyết không, nó vẫn nói trổng “Cơm sôi rồi, chắt nước giùm cái!”. Bác Ba mở đường cho nó, nhưng nó không để ý, nó lại kêu “Cơm sôi rồi, nhão bây giờ!”. Ông Sáu cứ vẫn ngồi im. Và nó đã tự mình làm lấy công việc nguy hiểm và quá sức, mà nhất định không chịu nhượng bộ, nhất định không chịu cất lên cái tiếng mà ba nó mong chờ.
- Đỉnh điểm của kịch tính: bé Thu hất cái trứng cá mà ông Sáu đã gắp cho nó, làm cơm văng tung tóe. Ông Sáu không thể chịu đựng nổi nữa trước thái độ lạnh lùng của đứa con gái mà ông hết mực yêu thương, ông đã nổi giận và chẳng kịp suy nghĩ, ông vung tay đánh vào mông nó. Bị ông Sáu đánh, Thu không khóc, gắp lại trứng cá rồi bỏ sang nhà ngoại, lúc đi còn cố ý khua dây lòi tói kêu rổn rảng.
=> Những chi tiết bình thường mà tinh tế này chứng tỏ nhà văn rất thấu hiểu tâm lí trẻ em. Trẻ con vốn rất thơ ngây nhưng cũng đầy cố chấp, nhất là khi chúng có sự hiểu lầm, chúng kiên quyết chối từ tình cảm của người khác mà không cần cân nhắc, nhất là với một cô bé cá tính, bướng bỉnh như Thu. Người đọc nhiều khi thấy giận em, thương cho anh Sáu. Nhưng thật ra em vẫn là cô bé dễ thương. Bởi nguyên nhân sâu xa của sự chối từ ấy vẫn là tình yêu ba.Tình yêu đến tôn thờ, trung thành tuyệt đối với người ba trong tấm ảnh chụp chung với má – người ba với gương mặt không có vết thẹo dài.
* Tâm trạng của bé Thu khi nhận ra cha:
- Tình yêu ba trong bé Thu đã trỗi dậy mãnh liệt vào cái giây phút bất ngờ nhất, giây phút ông Sáu lên đường trong nỗi đau vì không được con đón nhận. Bằng sự quan sát tinh tế, bác Ba là người đầu tiên nhận ra sự thay đổi của Thu trong “vẻ mặt sầm lại buồn rầu”, “đôi mắt như to hơn nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa”. Điều đó cho thấy trong tâm hồn đứa trẻ nhạy cảm như Thu đã có ý thức về cảm giác chia li, giây phút này em thèm biểu lộ tình yêu với ba hơn hết, nhưng sự ân hận về những gì mình đã làm ba buồn khiến em không dám bày tỏ. Để rồi tình yêu ba trào dâng mãnh liệt trong em vào khoảnh khắc ba nhìn em với cái nhìn trìu mến, giọng nói ấm áp “thôi, ba đi nghe con!”.
- Đúng vào lúc không một ai ngờ tới, kể cả ông Sáu, Thu thốt lên tiếng kêu thét “Ba…a…a…ba!”. “Tiếng kêu của nó như tiếng xé, xé sự im lặng và ruột gan mọi người nghe thật xót xa”. Đó là tiếng “ba” nó cố kìm nén trong bao nhiêu năm nay, tiếng “ba” như “vỡ tung ra từ đáy lòng nó”. Tiếng gọi thân thương ấy đứa trẻ nào cũng gọi đến thành quen nhưng với cha con Thu là nỗi khát khao của 7 năm trời xa cách thương nhớ. Đó là tiếng gọi của trái tim, của tình yêu trong lòng đứa bé 8 tuổi mong chờ giây phút gặp ba.
- Đi liền với tiếng gọi là những cử chỉ vồ vập, cuống quýt trong nỗi ân hận của Thu. Như môt con sóc, nó chạy xô tới, nhảy thót lên, dang chặt hai tay ôm lấy cổ ba, hôn ba cùng khắp, hôn tóc, hôn cổ, hôn vai, hôn cả vết thẹo dài trên má, khóc trong tiếng nấc, kiên quyết không cho ba đi…Cảnh tượng ấy tô đậm thêm tình yêu mãnh liệt, nỗi khát khao mong mỏi mà Thu dành cho ba. Phút giây ấy khiến mọi người xung quanh không ai cầm được nước mắt và bác Ba “bỗng thấy khó thở như có bàn tay ai nắm chặt trái tim mình”.
- Dường như nhà văn Nguyễn Quang Sáng cũng muốn kéo dài thêm giây phút chia ly của cha con Thu trong cảm nhận của người đọc bằng cách rẽ mạch truyện sang một hướng khác, để bác Ba nghe bà ngoại Thu kể lại cuộc chuyện trò của hai bà cháu đêm qua. Chi tiết này vừa giải thích cho ta hiểu thái độ bướng bỉnh không nhận ba hôm trước của bé Thu và sự thay đổi trong hành động của em hôm nay. Như vậy, trong lòng cô bé, tình yêu dành cho ba luôn là một tình cảm thống nhất, mãnh liệt. Dù cách biểu hiện tình yêu ấy thật khác nhau trong hai hoàn cảnh, nhưng nó vẫn xuất phát trừ một cội nguồn trong trái tim đứa trẻ luôn khao khát tình cha.
- Tuy nhiên, Thu trước sau vẫn chỉ là một cô bé ngây thơ, em đồng ý cho ba đi để ba mua một chiếc lược, món quà nhỏ mà bất cứ em bé gái nào cũng ao ước. Bắt đầu từ chi tiết này, chiếc lược ngà bước vào câu chuyện, trở thành một chứng nhân âm thầm cho tình cha con thiêng liêng, bất tử.
* Đánh giá:
Qua những biểu hiện tâm lí và hành đông của bé Thu, người đọc cảm nhận được tình cảm sâu sắc, mạnh mẽ nhưng cũng thật dứt khoát, rạch ròi của bé Thu. Sự cứng đầu, tưởng như ương ngạnh ở Thu là biểu hiện của một cá tính mạnh mẽ (cơ sở để sau này trở thành một cô giao liên mưu trí, dũng cảm). Tuy nhiên, cách thể hiện tình cảm của em vẫn rất hồn nhiên, ngây thơ. Qua những diễn biến tâm lí của Thu, ta thấy tác giả đã tỏ ra rất am hiểu tâm lí trẻ thơ và diễn tả rất sinh động với tấm lòng yêu mến, trân trọng những tình cảm trẻ thơ.
3. Kết bài:
- Tổng kết vấn đề nghị luận.
Đề thi vào 10 môn Văn Tuyên Quang năm 2020
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc đoạn văn:
Anh xoay sang người con gái đang một mắt đọc cuốn sách, một mắt lắng nghe, chân có đung đưa khe khẽ, nói:
- Và cô cũng thấy đấy, lúc nào tôi cũng có người trò chuyện. Nghĩa là có sách ấy mà. Mỗi người viết một vẻ.
- Quê anh ở đâu thế? - Hoạ sĩ hỏi.
- Quê cháu ở Lào Cai này thôi. Năm trước, cháu tưởng cháu được đi xa làm cơ đấy, hóa lại không. Cháu có ông bố tuyệt lắm. Hai bố con cùng viết đơn xin ra lính đi mặt trận. Kết quả: Bố cháu thắng cháu một - không. Nhân dịp Tết, một đoàn các chú lái máy bay lên thăm cơ quan cháu ở Sa Pa. Không có cháu ở đấy. Các chú lại cử một chú lên tận đây. Chú ấy nói: Nhờ cháu có góp phần phát hiện một đám mây khô mà ngày ấy, tháng ấy, không quân ta hạ được bao nhiêu phản lực Mĩ trên cầu Hàm Rồng. Đối với cháu, thật là đột ngột, không ngờ lại là như thế. Chú lái máy bay có nhắc đến bố cháu, ôm cháu mà lắc "Thế là một - hoà nhé !". Chưa hòa đâu bác ạ. Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. Ơ, bác vẽ cháu đây ư? Không, không đừng vẽ cháu ! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.
(Trích “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long, Ngữ văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 185)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1 (0,5 điểm). Đoạn văn trên là lời của ai nói với ai?
Câu 2 (0,5 điểm). Phân tích cấu tạo ngữ pháp câu văn sau: Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc.
Câu 3 (1,0 điểm). Theo em, vì sao nhân vật cháu lại từ chối “Không, không, đừng vẽ cháu ! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.”
Câu 4 (2,0 điểm). Từ phần đọc hiểu trên, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về đức tính khiêm tốn của con người trong cuộc sống.
II. LÀM VĂN (6,0 điểm)
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe trong đoạn thơ sau:
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Ung dung buồng lái ta ngồi,
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Như sa, như ùa vào buồng lái
Không có kính, ừ thì có bụi,
Bụi phun tóc trắng như người già
Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.
Không có kính, ừ thì ướt áo
Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời
Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa
Mưa ngừng, gió lùa khô mau thôi.
(Trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, Ngữ Văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 131)
Lời giải chi tiết
Phần I
|
Đoạn văn trên là lời của ai nói với ai? |
Phương pháp: căn cứ đoạn trích
Cách giải:
- Lời của anh thanh niên nói với cô kĩ sư và bác họa sĩ.
|
Phân tích cấu tạo ngữ pháp câu văn sau: Nhưng từ hôm ấy cháu sống thật hạnh phúc. |
Phương pháp: căn cứ cấu tạo câu
Cách giải:
(Nhưng từ hôm ấy) cháu / sống thật hạnh phúc
CN VN
|
Theo em, vì sao nhân vật cháu lại từ chối “Không, không, đừng vẽ cháu! Để cháu giới thiệu với bác những người khác đáng cho bác vẽ hơn.” |
Phương pháp: phân tích
Cách giải:
Nhân vật cháu từ chốt bác họa sĩ vẽ mình vì cảm thấy bản thân chưa thật xứng đáng khi được bác họa sĩ vẽ và theo anh có những người có nhiều đóng góp, cống hiến còn đáng để bác họa sĩ vẽ hơn nhiều. Qua đó cho thấy đức tính thành thực và khiêm tốn của anh.
|
Từ phần đọc hiểu trên, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 từ) trình bày suy nghĩ về đức tính khiêm tốn của con người trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
* Giới thiệu vấn đề nghi luận: đức tính khiêm tốn của con người trong cuộc sống.
* Giải thích
- Khiêm tốn là Có nghĩa là có ý thức và thái độ đúng mức trong việc đánh giá bản thân, không tự đề cao, không kiêu căng, tự phụ.
=> Khiêm tốn là đức tính tốt đẹp cần có ở mỗi chúng ta.
* Bàn luận vấn đề
- Người có tính khiêm tốn là người tự cho mình chưa hoàn thiện luôn phải cố gắng nhiều hơn trong mọi việc; Khi có nhiều đóng góp trong sự thành công chung, người có tính khiêm tốn, ít khi ca tụng hoặc nêu lên những đóng góp của bản thân.
- Tại sao chúng ta phải khiêm tốn?
+ Giúp ta nâng cao phẩm giá, khiến cho các mối quan hệ thêm bền chặt, khăng khít và tạo được sự tin tưởng lẫn nhau.
+ Giúp cho ta biết tự kiềm chế bản thân: khen người khác thì hết sức chân thành, đúng đắn. Khi chê người khác, lời chê phải thận trọng, nhẹ nhàng mang tính xây dựng.
+ Khiêm tốn còn giúp ta nhận ra sự thiếu sót và hạn chế của bản thân từ đó có những phương hướng khắc phục để bản thân ngày càng hoàn thiện hơn.
- Tuy vậy, khiêm tốn không có nghĩa là tự hạ thấp bản thân mà phải luôn phấn đấu, nỗ lực nhiều hơn.
- Phê phán, lên án những con người có tính tự cao, tự đại, kiêu căng, ngạo mạn. Những con người này với địa vị cao thường hay lên mặt, coi thường những người xung quanh.
* Liên hệ bản thân và tổng kết vấn đề
Phần II
|
Cảm nhận của em về vẻ đẹp của người chiến sĩ lái xe trong đoạn thơ sau: Không có kính không phải vì xe không có kính Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng Không có kính, ừ thì có bụi, Không có kính, ừ thì ướt áo (Trích “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật, Ngữ Văn 9, tập 1, NXB Giáo dục, 2005, trang 131) |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm và 4 khổ thơ
2. Phân tích
* Khổ 1: Tác giả đã lí giải nguyên nhân khiến những chiếc xe không kính và nêu bật tư thế của những người lính trên chiếc xe ấy.
- Hai câu thơ đầu đã nêu lên nguyên nhân những chiếc xe trở nên mất kính.
Câu thơ đầu tiên dài như một như một lời phân trần để dẫn vào câu thơ thứ hai với điệp từ “không”, điệp từ “bom”, kết hợp với động từ mạnh “giật”, “rung”. Qua đó, tác giả đã lí giải nguyên nhân những chiếc xe không kính là do bom đạn tàn phá. Như vậy, ở đây, qua hình ảnh những chiếc xe không kính, tác giả đã gián tiếp tố cáo sự khốc liệt của chiến tranh.
- Hai câu thơ sau, tác giả đã tạo ấn tượng mạnh khi nêu bật tư thế hiên ngang, chủ động, tự tin của người lính khi ngồi trên những chiếc xe không kính đó:
“Ung dung buồng lái ta ngồi
Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng”
+ Từ láy “ung dung” được đảo lên đầu câu, kết hợp với đại từ nhân xưng đầy tự hào “ta” đã làm nổi bật tư thế ấy.
+ Nhịp thơ 2/2/2 đều đặn, điệp từ “nhìn” lặp lại ba lần. Đặc biệt cái nhìn thẳng, đó là cái nhìn bất khuất, trang nghiêm đối mặt với gian khổ, hi sinh mà không hề run sợ, né tránh
=>Vượt lên trên cái gian khổ của chiến tranh, tư thế của người lính mới thật đàng hoàng, vững chãi.
* Khổ 2 diễn tả cảm giác cụ thể của người lính khi ngồi trên những chiếc xe không còn kính chắn gió:
- Điệp từ “nhìn thấy” kết hợp với những hình ảnh như: “gió vào xoa mắt đắng”, “con đường chạy thẳng vào tim”, “đột ngột cánh chim” đã thể hiện tốc độ nhanh của chiếc xe và sự tập trung cao độ của người lính.
- Không có kính cũng khiến người lính phải trực tiếp tiếp xúc với muôn vàn khó khăn, bất cứ vật cản nào cũng có thể “sa”, “ùa” vào buồng lái. Tuy nhiên, với giọng thơ ngang tàng, trẻ trung, người lính dường như bất chấp mọi khó khăn gian khổ. Không những vậy, vì không có kính nên người chiến sĩ đã có cơ hội gần gũi với thiên nhiên, tận hưởng vẻ đẹp của cảnh vật qua ô cửa kính vỡ.
=> Phải có một tinh thần lạc quan, yêu đời, coi thường hiểm nguy mới có thể biến cái hiện thực đầy khó khăn thành những phút thi vị đẹp đến như vậy.
* Khổ 3,4 - tinh thần lạc quan, pha chút ngang tàng của người lính
- Trên những chiếc xe không kính, người lính phải đối mặt với bao khó khăn, tình cảnh của các khó khăn được miêu tả rất chân thực “Không có kính”, “ừ thì có bụi” và “Mưa tuôn, mưa xối như ngoài trời”
Đó chỉ là khó khăn từ thiên nhiên, chiến tranh khốc liệt. Đâu chỉ có bụi, mưa mà đó là đất đá, thậm chí là bom đạn quân thù.
- Nhưng với một thái độ ngang tàng, thách thức, bất chấp mọi gian khổ, khó khăn, người chiến sĩ lái xe đã vượt lên trên với một tinh thần trách nhiệm rất cao:
+ Những câu thơ như một lời nói thường, nôm na mà đầy cứng cỏi, chắc gọn, táo tợn “không có kính, ừ thì có bụi”, “không có kính ừ thì ướt áo”, “chưa cần rửa”, “chưa cần thay”
+ Giọng thơ ngang tàng đầy hóm hỉnh, thể hiện cấu trúc lặp và cả chi tiết “Phì phèo châm điếu thuốc” và “Nhìn nhau mặt lấm cười cười ha ha”
=> Lời thơ nhẹ nhõm, trôi chảy như những chiếc xe vun vút trên đường, tất cả đã thể hiện tinh thần quả cảm, lạc quan của những chàng trai trẻ vui tính. Câu thơ như khúc nhạc vui của tuổi đôi mươi, thanh thản, nhẹ nhõm, xua tan đi bao khó khăn, nguy hiểm.
3. Tổng kết
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
