Đề thi vào 10 môn Văn Yên Bái
Đề thi vào 10 môn Văn Yên Bái năm 2025
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và thực hiện các yêu cầu:
(Lược trích: Hai cha con ông Tư đã sống ở bìa rừng núi Hòn Hèo được mười năm. Tâm mồ côi mẹ năm lên bốn tuổi. Ông Tư ở vậy, một mình gà trống nuôi con. Ngoài một miếng rẫy con con để trồng mít và hoa màu, ông hầu như không có nguồn thu nhập nào khác. Có chăng là mùa nước lũ, nước tràn về bưng trũng dưới chân núi Hòn Hèo, nước trắng xóa mênh mênh mông mông, cá về đàn đàn lũ lũ, hai cha con cùng đi bắt cá, chuột đồng, cúm núm.)
Tâm có một bí mật, mà nếu nói ra, thế nào cha nó cũng cho là dở hơi. Tâm mới phát hiện một con chim rất lạ ở sau đồi. Nó đen như chèo bẻo, nhưng lại không phải chèo bẻo. Tiếng hót của nó thật khó tả. Tâm có cảm giác chừng như không phải là tiếng chim. Có một cái gì đó quá thân thuộc ở con chim này, cho dù trước đây Tâm chưa nhìn thấy nó. Và điều đặc biệt là nó có hai con chim non, đang mọc lông, mỏ còn vàng, lúc Tâm trèo lên xem, thấy hai cái miệng há ra, nhìn phát ghét. Phát ghét tức là yêu lắm lắm. Tâm có cảm giác như đứa trẻ mồ côi vừa tìm thấy gia đình. Nó chạy vô nhà lấy một ít lúa, rải dưới gốc cây. Nó sung sướng nhìn chim mẹ sà xuống ăn, rồi bay lên mớm cho hai đứa con. Xong, chim mẹ cất tiếng hót, tiếng hót như không hề là tiếng chim, của một con chim đen như chèo bẻo nhưng không phải chèo bẻo.
Bây giờ mà đốt rẫy, Tâm biết thế nào lửa cũng bén tới cái gia đình bé nhỏ tội nghiệp kia. Nghĩ tới cảnh đó, tự nhiên Tâm buông đũa. Nó rơm rớm nước mắt. Cha nó càng lấy làm lạ. Nó nhìn cha, nói khẩn khoản, “cha, con nhớ mẹ quá ... Cha hứa với con, mai hãy đốt rẫy nghe cha”.
Ông Tư lấy làm lạ. Giữa hai chuyện đốt rẫy và chuyện nó nhớ mẹ, có liên quan gì nhau?
Nhưng dạo này ông đã quen với việc không hiểu nổi con mình, nên ông làm thinh, khe khẽ gật đầu. Ăn cơm xong, Tâm cắp cặp xuống núi. Nó chào ông Tư, “Con đi học đây. Hôm nay nước xuống rồi, cha khỏi chèo ghe đưa con".
Con đường qua bên kia cánh đồng vẫn còn ngập nhưng Tâm lội được. Nửa tiếng sau nó đã vào lớp. Ngồi trong lớp mà nó cứ nhấp nhổm không yên, mắt nhìn ra cửa sổ về phía đông. Nơi đó là Hòn Hèo hầu như lúc nào cũng có mây phủ. Ở ngọn đồi tiếp giáp chân núi, là rẫy nhà ông Tư, cha nó, mà nơi đây, ngồi trong lớp học nhìn ra cửa sổ nó có thể trông thấy được. Và rồi một làn khói đã len lén vươn lên từ sau rẫy nhà nó. Và Tầm tức thì xin cô giáo cho nghỉ học sớm, nhà có chuyện gấp. Nó chạy như bay về nhà. Lúc đi nửa tiếng mà lúc về chỉ khoảng mươi phút.
Lửa lúc này đã bén ngút. Tâm chạy vòng qua đám lửa, lại đầu trên. Ôi thôi, lửa đã tiến rất sát lùm cây có tổ con chim đen, khói nghi ngút ác độc. Tâm leo lên phiến đá để nhìn cho rõ hơn. Chim mẹ đang đập cánh trong tuyệt vọng. Phải làm sao đây? Có đủ thời gian cho nó leo lên ngọn cây, mang cái tổ xuống rồi chạy ngược trở ra hay không? Nếu Tâm không làm như vậy, chắc con chim mẹ sẽ chết chung với hai con của nó. Khi đó ai sẽ hót cho nó nghe, tiếng hót thân thuộc như một người quen, một người mà nó luôn tiếc nhớ.
Rồi Tâm nhắm mắt làm liều. May sao lúc đó thím Hai đang phơi bắp ngoài sân và tự hỏi sao ông Tư năm nay đốt rẫy sớm thế, rồi lại tự hỏi sao thằng con ông làm gì mà chạy vô đám lửa vậy, sao mà liều mình thế không biết. Nhưng thím nghĩ đây đâu phải lúc để hỏi, phải làm cái gì đó chứ. Và thím chạy sang lán nhà ông Tư, dậm cẳng dậm chân. “Bở Tư! Vô cứu con mày mau Tư ơi!”.
Khi Tâm mở mắt, nó nhìn thấy thím Hai. Nó mấp máy môi, thím Hai phải cúi xuống thật thấp mới nghe nó nói gì. “Mẹ đâu?", Tâm nói. Thím Hai mim cười, thím nghĩ chắc nó còn mê. Thím chỉ sang giường bên. “Cha con kìa. Cha cũng không sao". Tâm liếc sang, thấy cha nó chẳng khác gì con cúm núm nướng, nó cũng chẳng khác gì con cúm núm nướng. Rồi nước mắt lăn dài, nó lại nói, “còn mẹ đâu?", thím Hai ngơ ngần.
Có một điều kì diệu đã xảy ra với ba mẹ con con chim đen. Tâm đã ngã xuống trước khi kịp tới lùm cây, rồi sau đó được ông Tư cõng ra. Nhưng ngay khi ngọn lửa chừng như muốn nuốt sống tổ chim non, một trận mưa cuối mùa ở đâu đổ ào xuống, dập tắt đám cháy.
Một mai khi Tâm rời bệnh viện về nhà, nó sẽ lại được nghe tiếng hót con chim đen, trên những tàn tro. Tiếng nói thân quen như từ năm nảo năm nào.
(Trích Tiếng hót con chim đen, Trương Tiếp Trương, Đan vịt bơi qua sông, NXB Giáo dục Việt Nam, 2012)
Câu 1. (0,5 điểm) Chỉ ra lời người kể chuyện và lời nhân vật trong đoạn văn: Và thím chạy sang lán nhà ông Tư, dậm cẳng dậm chân. "Bở Tư! Vô cứu con mày mau Tư ơi!".
Câu 2. (0,5 điểm) Xác định thành phần biệt lập trong câu văn: Ôi thôi, lửa đã tiến rất sát lùm cây có tổ con chim đen, khói nghi ngút ác độc.
Câu 3. (1,0 điểm) Cho biết tác dụng của ngôi kể được sử dụng trong văn bản.
Câu 4. (1,0 điểm) Vì sao khi biết cha có ý định đốt rẫy, nhân vật Tâm lại nhìn cha, khẩn khoản “cha, con nhớ mẹ quá ... Cha hứa với con, mai hãy đốt rẫy nghe cha"?
Câu 5. (1,0 điểm) Rút ra một thông điệp ý nghĩa từ văn bản và lí giải.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích một đặc điểm của nhân vật Tâm
Câu 2. (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) trình bày suy nghĩ về hiện tượng con người thiếu gắn kết với thiên nhiên và đề xuất giải pháp khả thi, thuyết phục để giải quyết vấn đề.
Lời giải chi tiết
|
Phần |
Câu |
Hướng dẫn giải |
|
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm) |
Câu 1. (0,5 điểm) |
Lời người kể chuyện: Và thím chạy sang lán nhà ông Tư, dậm cẳng dậm chân Lời nhân vật: Bớ Tư! Vô cứu con mày mau Tư ơi! |
|
Câu 2. (0,5 điểm) |
Thành phần biệt lập: ôi thôi |
|
|
Câu 3. (1,0 điểm) |
Ngôi kể thứ 3 Tác dụng: - Giúp người kể dễ dàng miêu tả bao quát sự việc, hành động, diễn biến tâm trạng của nhiều nhân vật. - Tạo sự khách quan cho câu chuyện nhưng vẫn bộc lộ được suy nghĩ, cảm xúc của nhân vật chính (Tâm) một cách sinh động, chân thực. - Tăng tính hấp dẫn và truyền cảm cho câu chuyện. |
|
|
Câu 4. (1,0 điểm) |
Vì: - Vì Tâm vừa phát hiện một tổ chim lạ với tiếng hót thân thuộc, khiến Tâm liên tưởng tới tình thương của người mẹ đã mất. - Tâm sợ việc đốt rẫy sẽ thiêu cháy tổ chim, mất đi tiếng hót thân quen ấy. - Nhưng vì sợ cha không hiểu được lý do thật sự nên Tâm lấy cớ “nhớ mẹ” để trì hoãn việc đốt rẫy, mong giữ lại sự sống cho tổ chim và tiếng hót mà Tâm quý mến. |
|
|
Câu 5. (1,0 điểm) |
HS dựa vào văn bản, rút ra thông điệp phù hợp Gợi ý: - Trong cuộc sống, mỗi sự sống đều đáng trân trọng, dù là nhỏ bé nhất. - Tình yêu thương, lòng nhân hậu và sự thấu cảm với muôn loài không chỉ giúp con người sống đẹp hơn mà còn gìn giữ những điều tốt lành, ý nghĩa trong cuộc đời. |
|
|
PHẦN II. VIẾT (6,0 điểm) |
Câu 1. (2,0 điểm) |
HS lựa chọn 1 đặc điểm của nhân vật và tiến hành phân tích Gợi ý: Tâm là cậu bé giàu lòng yêu thương, tình cảm sâu sắc 1. Mở đoạn: Giới thiệu chung 2. Thân đoạn: - Hoàn cảnh sống của nhân vật Tâm + Mồ côi mẹ từ năm bốn tuổi, sống với cha trong hoàn cảnh khó khăn, nghèo khổ ở vùng rừng núi Hòn Hèo. + Công việc hằng ngày chủ yếu là làm rẫy, bắt cá, bắt chuột để kiếm sống. + Dù thiếu thốn vật chất nhưng Tâm lại là cậu bé có đời sống tâm hồn phong phú, nhạy cảm và giàu tình cảm. - Tâm là cậu bé giàu lòng yêu thương, luôn khao khát được yêu thương: Tâm luôn khắc khoải nhớ mẹ, tình cảm thiêng liêng và da diết ấy luôn hiện diện trong tâm trí Tâm: “Cha, con nhớ mẹ quá…” khi nghĩ đến tổ chim và gia đình bé nhỏ của nó sắp bị đốt cháy. Tâm dễ xúc động, đồng cảm với những sinh linh bé nhỏ, nhất là với ba mẹ con con chim đen — coi tổ chim như một gia đình nhỏ, là người thân của mình. + Dù bản thân kiệt sức, bất tỉnh, vẫn hỏi “Mẹ đâu?” → thể hiện nỗi khao khát yêu thương và sự cô đơn trong tâm hồn trẻ nhỏ. => Tâm là cậu bé giàu lòng yêu thương, khao khát được yêu thương. - Nghệ thuật: + Tác giả sử dụng ngôn ngữ miêu tả nội tâm tinh tế, chân thực. + Xây dựng tình huống truyện giàu kịch tính (đốt rẫy – tổ chim – trận mưa cuối mùa). + Đan xen giữa hiện thực cuộc sống khắc nghiệt và vẻ đẹp nhân hậu của con người. 3. Kết đoạn: Tổng kết vấn đề nghị luận |
|
Câu 2. (4,0 điểm) |
1. Mở bài: Giới thiệu chung 2. Thân bài: - Thực trạng + Ngày nay, nhiều người chỉ chú tâm vào công việc, công nghệ, cuộc sống ảo mà quên đi sự hiện diện và vai trò quan trọng của thiên nhiên. + Không ít người thờ ơ, vô ý thức trong việc bảo vệ thiên nhiên: xả rác bừa bãi, phá rừng, săn bắt động vật hoang dã, gây ô nhiễm môi trường… + Tình trạng đô thị hóa nhanh khiến không gian xanh ngày càng bị thu hẹp, con người sống trong nhà cao tầng, xa rời cây cỏ, sông hồ, đồng ruộng. - Hậu quả: Khi thiên nhiên xanh bị thu hẹp sẽ khiến: + Con người bị ảnh hưởng sức khỏe thể chất và tinh thần, dễ căng thẳng, stress, thiếu nguồn năng lượng tích cực từ thiên nhiên. + Mất đi sự kết nối với cội nguồn và giá trị sống chân thật. - Giải pháp: + Mỗi cá nhân cần nâng cao ý thức bảo vệ và yêu thiên nhiên: hạn chế rác thải nhựa, trồng cây xanh, giữ gìn vệ sinh môi trường xung quanh. + Tăng cường các hoạt động gần gũi với thiên nhiên: đi dã ngoại, trồng vườn, tham gia chiến dịch làm sạch môi trường, bảo vệ động vật hoang dã… + …. HS lấy dẫn chứng minh hoạ phù hợp - Liên hệ bản thân 3. Kết bài: Tổng kết vấn đề nghị luận |
Đề thi vào 10 môn Văn Yên Bái năm 2023
Đề bài
I. ĐỌC HIỂU
Đọc đoạn trích:
Bà nội dẫn tôi ra vườn, cái nắng sau mưa nồng ngả vàng pha sắc đỏ, những giọt nước còn đọng lại trên tán lá non. Ở đây cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau. Trái chín đỏ lừ bên hông cau trắng muốt, tóc Nội cũng trắng phau phau, bà nắm tay tôi, bàn tay bà nhăn nheo, gân guốc. Đêm hôm ấy bà mắc mùng cho tôi ngủ, giường lạ ngủ không được. Ba kể hồi trước, ba cùng hai chú ở trên bàn thờ là đồng chí của nhau, các chú ấy hiên ngang và anh dũng lắm, ba bảo Nội là một bà mẹ anh hùng. Tôi hơi bất ngờ, lẽ ra anh hùng phải là cao to, đẹp khỏe chứ!
- Vậy Nội có súng không ba?
- Nội bán ve chai.
- Bán ve chai cũng là anh hùng hở ba?
- Ừ Nội gánh giỏ đi đầu làng cuối xóm. Nội đưa thư cho ba, Nội mang thức ăn, tin tức.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính và ngôi kể của đoạn trích trên.
Câu 2. Tìm hai từ ghép chỉ màu sắc trong câu: “Trái chín đỏ lừ bên hông cau trắng muốt, tóc nội cũng trắng phau phau”. Đặt câu với một trong các từ vừa tìm được (không chép lại câu đã cho).
Câu 3. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong câu: “Ở đây cái gì cũng chín, từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau".
II. LÀM VĂN (7,0 điểm)
Câu 1. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý nghĩa của lòng biết ơn.
Câu 2. Nêu cảm nhận về đoạn thơ sau:
Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi, đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm
Nhóm bếp lửa ấp iu nồng đượm
Nhóm niềm yêu thương, khoai sắn ngọt bùi
Nhóm nồi xôi gạo mới sẻ chung vui
Nhóm dậy cả những tâm tình tuổi nhỏ
Ôi kì lạ và thiêng liêng - bếp lửa !
Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở:
- Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa ?...
(Bằng Việt, Bếp lửa, SGK Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.144, 145)
Lời giải chi tiết
I. ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Căn cứ phương thức biểu đạt, ngôi kể.
Cách giải:
- Phương thức biểu đạt chính: tự sự.
- Ngôi kể: ngôi thứ nhất.
Câu 2:
Phương pháp:
Căn cứ bài từ ghép.
Cách giải:
- Từ ghép chỉ màu sắc: đỏ lừ, trắng muốt.
- HS đặt câu theo yêu cầu.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ bài liệt kê, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ liệt kê: từ trái mít, trái đu đủ, trái chanh, đến cả buồng cau.
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu cho câu văn.
+ Nhấn mạnh vẻ đẹp của khu vườn khi trái cây đến độ chín.
II. LÀM VĂN
Câu 1:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Ý nghĩa lòng biết ơn.
2. Giải thích
Biết ơn: là thái độ cảm kích, trân trọng trước những hành động, những việc tốt đẹp mà người khác làm cho mình. Bên cạnh đó, biết ơn còn là sự đền đáp trước sự giúp đỡ của người khác dành cho mình.
=> Biết ơn là một truyền thống tốt đẹp của ông cha ta từ xưa đến nay, chúng ta phải có ý thức học tập, giữ gìn và noi theo truyền thống này.
3. Bàn luận
- Ý nghĩa của lòng biết ơn:
+ Lòng biết ơn thể hiện thái độ trân trọng của người được giúp đỡ với người đã giúp đỡ mình. Trong một xã hội, con người thường xuyên giúp đỡ nhau và biết ơn người đã giúp đỡ mình là một xã hội tràn ngập tình yêu thương, vô cùng đáng sống.
+ Biết ơn và biết đền ơn cho thấy đó là con người có nhân cách và phẩm chất tốt đẹp.
+ Lòng biết ơn giúp con người có những định hướng và hành động đúng đắn giúp chúng ta rèn luyện những đức tính tốt đẹp khác như: sống có ích, yêu thương,… truyền tải những thông điệp tích cực ra xã hội.
Học sinh tự lấy dẫn chứng về những người có lòng biết ơn để minh họa cho bài làm văn của mình.
- Phê phán những người sống vô ơn.
4. Tổng kết vấn đề: Khái quát lại vấn đề nghị luận: lòng biết ơn, đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân mình.
Câu 2:
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung về tác giả, tác phẩm.
- Giới thiệu 2 khổ thơ cần phân tích.
2. Thân bài
– Suốt một đời lận đận, vất vả, bà đã và vẫn đang làm công việc nhóm lửa:
“Lận đận đời bà biết mấy nắng mưa
Mấy chục năm rồi đến tận bây giờ
Bà vẫn giữ thói quen dậy sớm”
+ Từ láy “lận đận” với điệp từ “nắng mưa” nhấn mạnh cháu chưa từng và chẳng thể nào quên cuộc đời bà, một cuộc đời đầy lo toan, vất vả.
+ Khôn lớn trưởng thành, cháu càng thấu hiểu những ý nghĩa cao cả, thiêng liêng từ một công việc rất đỗi bình dị của bà: nhóm lửa. Điệp từ nhóm điệp lại 4 lần với hai lớp nghĩa. Bà đã làm công việc khởi đầu của một ngày: nhóm bếp lửa mỗi sớm mai và làm công việc khởi đầu của một đời, đó là bồi đắp tâm hồn, thắp lên những tình cảm cao quý. Từ “nhóm” thứ nhất hiểu theo nghĩa thực: thắp lên ngọn lửa trong gian bếp để sưởi ấm, để nấu chín thức ăn.... Ba từ “nhóm” sau được hiểu theo nghĩa ẩn dụ: bà truyền cho cháu tình yêu thương ruột thịt, tình đoàn kết chia sẻ xóm làng và đặc biệt hơn bà đã khơi dậy những tâm tình tuổi nhỏ, thức tỉnh trong tâm hồn cháu biết bao ước mơ và tình cảm tốt đẹp
=> Như vậy đến đây ta thấy bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là người truyền lửa. Ngọn lửa của tình yêu, của niềm tin, đức hi sinh không chỉ bà truyền cho cháu mà còn là của những thế hệ đi trước tiếp lửa cho thế hệ sau
– Khám phá ra những ý nghĩa kì diệu, cao cả, thiêng liêng từ bếp lửa của bà, cháu sung sướng thốt lên
“Ôi kì lạ và thiêng liêng bếp lửa”
Phép đảo ngữ, câu cảm thán với từ “ôi” đặt ở đầu câu bôc lộ sự ngạc nhiên, ngỡ ngàng, và vui sướng của cháu. Bếp lửa ấy luôn hiện diện cùng bà, tỏa sáng vẻ đẹp của bà. Đứa cháu nhỏ cảm thấy thật bất ngờ khi phát hện được những điều kì diệu thiêng liêng từ những thứ bình thường, giản dị. Cháu nhớ về bà, nhớ về Bếp lửa cũng chính là nhớ về quê hương, cội nguồn với tấm lòng tri ân sâu nặng.
– Suốt dọc bài thơ, 10 lần hình ảnh bếp lửa xuất hiện là 10 lần cháu nhớ tới bà và khổ thơ kết thúc này nỗi nhớ đó càng trào dâng mãnh liệt được tác giả trực tiếp bộc lộ:
“Giờ cháu đã đi xa. Có ngọn khói trăm tàu
Có lửa trăm nhà, niềm vui trăm ngả
Nhưng vẫn chẳng lúc nào quên nhắc nhở
Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”
– Dấu chấm xuất hiện ở giữa dòng thơ tạo thành một sự ngắt nhịp dài, giống như quá khứ đã trôi đi quá xa so với hiện tại.
– Tác giả sử dụng điệp từ “trăm” với ý nghãi khái quát như khẳng định giờ đây đứa cháu năm xưa đã lớn khôn, trưởng thành, được chắp cánh bay cao, bay xa tới những khung trời rộng lớn với những niềm vui rộng mở. Xong vẫn không nguôi quên bếp lửa giản dị của bà.
– Âm điệu dòng thơ nhanh, mạnh như từng đượt sóng tình cảm dâng trào để cháu phải tự hỏi lòng mình “Sớm mai này bà nhóm bếp lên chưa?”
=> Bếp lửa đã trở thành tấm lòng, niềm tin thiêng liêng kì diệu nâng bước cháu trên hành trình dài rộng của cuộc đời, có nghĩa là từ một bếp lửa đơn sơ, giản dị của bà, nhiều bếp lửa khác đã được nhen lên, sự sống cứ thế truyền đời, bất diệt. Đến đây, ta có thể khẳng định: bà không chỉ là người nhóm lửa, giữ lửa mà còn là niềm tin. Bếp lửa đã nâng cao để trở thành biểu tượng cho tình nghĩa gia đình, tình yêu quê hương, đất nước, tấm lòng biết ơn nguồn cội. Câu hỏi tu từ khép lại bài thơ đã tạo ra một kết thúc mở với nỗi nhớ khôn nguôi, với niềm hoài vọng thiết tha, đau đáu.
3. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Yên Bái năm 2022
Đề bài
Câu 1. (3 điểm) Đọc đoạn văn:
Còn nhà họa sĩ và cô gái cũng nín bặt, vì cảnh trước mặt bỗng hiện lên đẹp một cách kì lạ. Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây. Những cây thông chỉ cao quá đầu, rung tít trong nắng, những ngón tay bằng bạc dưới cái nhìn bao che của những cây tử kinh thỉnh thoảng nhô cái đầu màu hoa cà lên trên màu xanh của rừng. Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả
vào gầm xe.
(Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.181)
Thực hiện các yêu cầu sau:
a. Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?
b. Xác định các danh từ trong câu: “Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây.” Đặt câu với một trong các danh từ đó (không chép lại câu đã cho).
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong câu: “Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe”
Câu 2. (2,0 điểm) Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Thiên nhiên có vai trò như thế nào với cuộc sống con người?
Câu 3. (5,0 điểm) Phân tích đoạn thơ sau:
Mặt trời xuống biển như hòn lửa.
Sóng đã cài then, đêm sập cửa.
Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi,
Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng,
Cá thu biển Đông như đoàn thoi
Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng
Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi!
(Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.139-140)
Lời giải chi tiết
Câu 1:
|
a. Đoạn văn trên được trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? |
Phương pháp: Căn cứ bài Lặng lẽ Sa Pa.
Cách giải:
- Tác phẩm: Lặng lẽ Sa Pa.
- Tác giả: Nguyễn Thành Long.
|
b. Xác định các danh từ trong câu: “Nắng bây giờ bắt đầu len tới, đốt cháy rừng cây.” Đặt câu với một trong các danh từ đó (không chép lại câu đã cho). |
Phương pháp: Căn cứ bài danh từ.
Cách giải:
Danh từ: nắng, rừng cây.
Đặt câu: Hôm nay, trời nắng to quá.
|
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong câu: “Mây bị nắng xua, cuộn tròn lại từng cục, lăn trên các vòm lá ướt sương, rơi xuống đường cái, luồn cả vào gầm xe” |
Phương pháp: Căn cứ bài nhân hóa, phân tích.
Cách giải:
- Biện pháp tu từ: Nhân hóa.
- Tác dụng: Việc sử dụng biện pháp nhân hóa đã làm cho câu văn trở nên sinh động, hấp dẫn, gợi hình, gợi cảm hơn. Nó đã làm nổi bật vẻ đẹp thiên nhiên Sa Pa lặng lẽ, thơ mộng và tràn đầy sức sống.
Câu 2:
|
Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trả lời câu hỏi: Thiên nhiên có vai trò như thế nào với cuộc sống con người? |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: Vai trò của thiên nhiên đối với đời sống con người.
2. Bàn luận: Ý nghĩa của thiên nhiên với đời sống con người:
- Trước hết, thiên nhiên cung cấp cho ta môi trường sống, sinh hoạt.
- Không chỉ vậy, thiên thiên còn cung cấp cho ta những tài nguyên để phục vụ cho cuộc sống và sản xuất sinh hoạt của con người. Con người không thể sống nếu không có oxi để thở, không có nước để uống, sinh hoạt. Nếu không có thiên nhiên, khí thải CO2 sẽ đi về đâu? Đồng thời, thiên nhiên cung cấp cho con người những đồ ăn, thức uống để tồn tại.
- Thiên nhiên còn là nơi giúp con người nghỉ ngơi, giải lao, giải tỏa căng thẳng khi được đắm chìm trong đó.
=> Mọi hành động huỷ diệt thiên nhiên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của con người.
- Tuy nhiên, các hoạt động sinh sống và khai thác của con người ở một số vùng hiện nay đang phá hủy thiên nhiên và môi trường tự nhiên. Vì vậy, mỗi người cần chung tay trong việc bảo vệ thiên nhiên.
Câu 3:
|
Phân tích đoạn thơ sau: Mặt trời xuống biển như hòn lửa. Sóng đã cài then, đêm sập cửa. Đoàn thuyền đánh cá lại ra khơi, Câu hát căng buồm cùng gió khơi.
Hát rằng: cá bạc biển Đông lặng, Cá thu biển Đông như đoàn thoi Đêm ngày dệt biển muôn luồng sáng Đến dệt lưới ta, đoàn cá ơi! (Đoàn thuyền đánh cá - Huy Cận, Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2018, tr.139-140) |
Phương pháp: Phân tích, tổng hợp.
Cách giải:
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Huy Cận, tác phẩm Đoàn thuyền đánh cá.
- Giới thiệu về bức tranh thiên nhiên và con người lao động trong 5 khổ được trích.
2. Thân bài: Cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi
* Được xây dựng trên nền của một buổi hoàng hôn tuyệt đẹp.
“Mặt trời xuống biển như hòn lửa
Sóng đã cài then đêm sập cửa”
- Hình ảnh so sánh độc đáo trong câu 1:
+ Điểm nhìn nghệ thuật: nhìn từ con thuyền đang ra khơi.
+ Thời gian: hoàng hôn -> sự vận động của thời gian.
+ Quang cảnh hùng vĩ của bầu trời lúc chiều tà -> vẻ đpẹ kì vĩ, tráng lệ của cảnh hoàng hôn trên biển.
- Biện pháp tu từ nhân hóa
+ Được sáng tạo từ chi tiết thực : những con sóng cài ngang như chiếc then cửa của vũ trụ. Bóng đêm “sập cửa” gợi khoảnh khắc ánh ngày vụt tắt và màn đêm bất ngờ buông xuống bao trùm tất cả.
+ Gợi không gian vũ trụ rộng lớn, mênh mông, kì vĩ mà vẫn gần gũi, ấm áp như ngôi nhà của con người.
* Hình ảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi
- “Lại”
+ Chỉ một sự kiện lặp đi lặp lại.
+ Chỉ sự trái chiều vì khi vũ trụ đã kết thúc một ngày dài để lắng vào yên nghỉ thì đoàn thuyền đánh cá lại bắt đầu một cuộc lao động mới.
-> Gợi một nhịp sống thanh bình của quê hương, đất nước. Sau bao năm tháng chiến tranh con ngườ Việt Nam mới có một cuộc sống lao động bình yên.
- “Câu hát căng buồm cùng gió khơi” :
+ Kết hợp hai hình ảnh : “câu hát” – “gió khơi” -> cụ thể hóa sứ mạnh đưa con thuyền ra khơi.
+ Ẩn dụ chuyển đổi cảm giác “câu hát căng buồm” -> tái hiện vẻ đẹp tâm hồn, niềm vui lao động của người dân chài.
-> Đoàn thuyền ra khơi trong niềm vui lao động.
* Câu hát của người dân chài :
- Biện pháp liệt kê : “cá bạc”, “cá thu”…-> sự giàu có của biển.
- Bút pháp tả thực kết hợp với trí thưởng tượng phong phú :
+ Tả đàn cá thu giống như con thoi đang bơi lượn mà như dệt tấm vải giữa biển đêm bừng muôn luồng sáng -> liên tưởng đến dệt lưới của đoàn thuyền.
+ Gợi những vệt nước ấp lánh khi đàn cá bơi lội.
+ Niềm vui của người dân chài. Những đàn cá như thoi đứa là niềm hứa hẹn chuyến về bội thu “khoang đầy cá nặng”
=> Hai khổ đầu, tác giả phác họa thành công một bức tranh thiên nhiên hùng vĩ và thơ mộng. Qua đó, ông đã làm hiện lên cảnh đoàn thuyền đánh cá ra khơi và tâm hồn phóng khoáng, tràn đầy niềm vui, niềm hi vọng của người lao động mới.
3. Kết bài : Tổng kết vấn đề.
Đề thi vào 10 môn Văn Yên Bái năm 2021
Đề bài
Câu 1. (3,0 điểm) Đọc đoạn thơ và thực hiện các yêu cầu ở dưới:
Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời
Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy
Võng mắc chông chênh đường xe chạy
Lại đi, lại đi trời xanh thêm.
(Ngữ văn 9, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2020, tr.132)
a. Đoạn thơ trên được trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai?
b. Xác định một từ láy được sử dụng trong đoạn thơ và đặt câu với từ đó.
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong đoạn thơ.
Câu 2. (2,0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sức mạnh của tinh thần lạc quan trong cuộc sống.
Câu 3. (5,0 điểm)
Phân tích tình nghĩa cha con sâu nặng và cao đẹp của nhân vật anh Sáu trong đoạn trích truyện Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng).
Lời giải chi tiết
Câu 1.
|
a. Đoạn thơ trên được trích trong tác phẩm nào? Tác giả là ai? |
Phương pháp: căn cứ tác phẩm Bài thơ về tiểu đội xe không kính, đọc và tìm ý
Cách giải:
Đoạn thơ trên được trích trong văn bản Bài thơ về tiểu đội xe không kính của tác giả Phạm Tiến Duật.
|
b. Xác định một từ láy được sử dụng trong đoạn thơ và đặt câu với từ đó. |
Phương pháp: căn cứ bài Từ láy
Cách giải:
Từ láy trong đoạn thơ: Chông chênh
Đặt câu:
Chiếc bàn được kê trên một nền đất không bằng phẳng vì thế có vẻ khá chông chênh.
|
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ trong đoạn thơ. |
Phương pháp: căn cứ bài Điệp ngữ, phân tích
Cách giải:
Biện pháp tu từ: Điệp ngữ (lại đi)
Tác dụng:
- Nhấn mạnh, tạo chất nhạc
- Khẳng định tinh thần quyết tâm chiến đấu của anh bộ đội cụ Hồ
Câu 2.
|
Từ nội dung đoạn trích ở Câu 1, hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của em về sức mạnh của tinh thần lạc quan trong cuộc sống. |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở đoạn
- Giới thiệu vấn đề nghị luận: ý nghĩa, sức mạnh của tinh thần lạc quan trong cuộc sống
II. Thân bài:
Bàn luận về tinh thần lạc quan
1. Giải thích
Lạc quan: cảm giác vui vẻ, thoải mái, vô tư dù gặp phải hoàn cảnh khó khăn hay gian nan thử thách hay gặp phải chuyện không vui trong cuộc sống.
=> Khẳng định lạc quan rất quan trọng đối với cuộc sống con người, mỗi người nên rèn luyện cho bản thân sự lạc quan để sẵn sàng đối mặt với những thử thách của cuộc sống.
2. Ý nghĩa của tinh thần lạc quan
- Trong cuộc sống, con người không tránh khỏi những lúc vấp ngã, chán nản, tinh thần lạc quan sẽ giúp người đó đứng lên và tiếp tục chiến đấu, chinh phục con đường mà mình đã lựa chọn.
- Lạc quan giúp con người sống vui vẻ hơn, tận hưởng được nhiều vẻ đẹp hơn của cuộc sống, giúp cho cuộc sống muôn màu sắc hơn.
- Người lạc quan luôn truyền được năng lượng tích cực cho người khác.
- Lạc quan sẽ tạo nên cuộc sống tươi đẹp cho tất cả mọi người
- Giúp chúng ta biết sống một cách có ý nghĩa hơn
- Giúp con người tránh khỏi những hiểm họa trong cuộc sống
- Những người lạc quan thường thành công trong cuộc sống và công việc
3. Chứng minh: Một số tấm gương về tinh thần lạc quan
Học sinh tự lấy dẫn chứng để minh họa cho bài làm của mình.
Lưu ý: dẫn chứng phải tiêu biểu, xác thực, được nhiều người biết đến.
Gợi ý: một người bệnh nhân bị ung thư nhưng có tinh thần lạc quan đã vượt qua và khỏi bệnh; nhưng lại có người bình thường nhưng vì bi quan mà mắc tâm bệnh; …
- Bác Hồ ở trong tù vẫn có thể sáng tác thơ, ngắm trăng
- Một người bệnh nhân bị ung thư nhưng có tinh thần lạc quan đã vượt qua và khỏi bệnh; nhưng lại có người bình thường nhưng vì bi quan mà mắc tâm bệnh; …
- Các em bé mồ côi vẫn lạc quan sống để mong ngày gặp lại cha mẹ của mình
4. Phản biện
Trong cuộc sống, có nhiều người bi quan, khi đứng trước khó khăn thử thách không dám đương đầu hoặc luôn chán nản mà gục ngã; lại có nhiều người vì quá lạc quan mà trở nên vô tâm;… những người này nên bị chỉ trích, phê phán
III. Kết đoạn
Nêu cảm nghĩ của em về ý nghĩam, sức mạnh tinh thần lạc quan:
- Đây là một tinh thần rất tốt, giúp con người vượt qua số phận
- Bênh cạnh đó nó còn có những tác động xấu khi con người có tinh thần lạc quan thái quá.
Câu 3.
|
Phân tích tình nghĩa cha con sâu nặng và cao đẹp của nhân vật anh Sáu trong đoạn trích truyện Chiếc lược ngà (Nguyễn Quang Sáng). |
Phương pháp: phân tích, giải thích, tổng hợp
Cách giải:
I. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả: Nguyễn Quang Sáng (1932 - 2014), ông từng tham gia kháng chiến và giữ nhiều trọng trách quan trọng. Cuộc đời nhà văn trải qua biết bao nhiêu năm tháng kháng chiến của cả hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ.
- Giới thiệu tác phẩm: Truyện ngắn “Chiếc lược ngà” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha con và những năm tháng chiến tranh ác liệt. Ông Sáu là một trong những nhân vật được nhà văn gửi gắm vào đó rất nhiều tâm tư, tình cảm của mình với tình nghĩa cha con sâu nặng và cao đẹp.
II. Thân bài:
1. Tình nghĩa cha con sâu nặng và cao đẹp của ông Sáu:
- Ông Sáu là một người cha yêu thương con vô bờ bến.
- Khi đi bộ đội thì con gái ông mới được 1 tuổi, niềm yêu thương con và nhớ con da diết
- Khi về đến nhà bé Thu không nhận ra mình vì vết thẹo không giống người trong hình. Con bé chạy đi, xa lánh, không nhận ông Sáu là cha, thậm chí còn hỗn, nói trổng khiến ông cảm thấy buồn tủi.
- Trong khi ăn cơm ông đã nóng vội, không kiềm chế được mà đánh bé Thu, ông cảm thấy rất hối hận nhưng cũng chỉ vì ông thương con quá mà thôi.
- Khát khao lớn nhất của ông hiện giờ là được nghe con gái gọi một tiếng Ba, chính tình cha con sâu nặng đã khiến ông kiên trì đến tận bây giờ
- Trước khi ông Sáu lên đường, bé Thu đã khiến anh và mọi người vô cùng bất ngờ khi cất tiếng gọi anh Sáu là ba. Ông cảm thấy hạnh phúc vô cùng.
- Ở chiến trường ông rất nhớ con, muốn được ôm con, hôn con. Ông dồn hết tình cảm để làm một cây lược bằng ngà voi tặng con.
=> Ông Sáu là một người cha trên cả tuyệt vời, vĩ đại, yêu thương con cái hết mực.
(Học sinh chú ý lấy dẫn chứng từ các chi tiết trong truyện)
2. Cảm nhận về nhân vật ông Sáu
- Hình ảnh giản dị, bình thường nhưng tình yêu thương của ông dành cho con là vô bờ bến
- Hình ảnh người chiến sĩ, người cha đã làm nổi bật lên tình cảm cha con của con người
- Ông Sáu luôn dành tình cảm yêu thương sâu sắc nhất dành cho con và gia đình mình
- Ông Sáu là một người chiến sĩ uy nghiêm trên chiến trường nhưng ông rất tình cảm đối với con.
- Ông Sáu cũng chính là nhân vật đại diện cho biết bao thế hệ cha anh thời đó. Họ vì tình yêu quê hương đất nước mà sẵn sàng lên đường ra đi bảo vệ Tổ quốc
- Câu chuyện còn là bản cáo trạng đanh thép tố cáo tội ác mà chiến tranh đã gây ra cho biết bao người dân vô tội.
- “Chiếc lược ngà” là truyện ngắn xuất sắc của Nguyễn Quang Sáng viết về tình cha con và những năm tháng chiến tranh ác liệt. Ông Sáu là một trong những nhân vật được nhà văn gửi gắm vào đó rất nhiều tâm tư, tình cảm của mình.
III. Kết bài:
- Truyện “Chiếc lược ngà” và hình ảnh ông Sáu đã khơi gợi trong lòng ta bao ý nghĩa về sự hi sinh và hạnh phúc ở đời do các thế hệ cha anh đã đổ xương máu làm nên. Và bài học “uống nước nhớ nguồn” càng thêm thấm thía.
- Nhân vật ông Sáu đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc:
+ Nhân vật ông Sáu - người cha giàu tình yêu thương con, ông là hình ảnh tiêu biểu của con người Việt Nam sẵn sàng hi sinh tất cả vì độc lập dân tộc, thống nhất đất nước.
- Nhà văn Nguyễn Quang Sáng đã khắc họa sinh động mà không kém phần chân thực hình ảnh người cha vĩ đại cùng với tình yêu to lớn dành cho con của mình.
Đề thi vào 10 môn Văn Yên Bái năm 2020
Đề bài
Câu 1: (3.0 điểm)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu:
“Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng an hem đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá, … KHông biết cái chòi gác ở đầu làng đã dựng xong chưa? Những đường hầm bí mật chắc còn là khướt lắm. Chao ôi! Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá”.
(SGK Ngữ Văn 9, tập một)
a. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai?
b. Phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu: Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng an hem đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá, …
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá.
Câu 2: (2.0 điểm)
Từ nội dung đoạn trích ở câu 1, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ về vai trò của quê hương trong cuộc đời mỗi con người.
Câu 3: (5.0 điểm)
Phân tích đoạn thơ trong bài Viếng lăng Bác của Viễn Phương:
Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng
Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ,
Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ
Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên
Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền
Vẫn biết trời xanh là mãi mãi
Mà sao nghe nhói ở trong tim!
Lời giải chi tiết
Câu 1
|
a. Đoạn văn trên được trích từ tác phẩm nào? Tác giả là ai? |
Phương pháp: căn cứ bài Làng
Cách giải:
- Tác phẩm: Làng
- Tác giả: Kim Lân
|
b. Phân tích cấu tạo ngữ pháp của câu: Ông lại muốn về làng, lại muốn được cùng an hem đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá, … |
Phương pháp: căn cứ bài cấu tạo câu
Cách giải:
Ông // lại muốn về làng, lại muốn được cùng anh em đào đường, đắp ụ, xẻ hào, khuân đá.
CN VN
|
c. Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ được sử dụng trong câu văn: Ông lão nhớ làng, nhớ cái làng quá. |
Phương pháp: căn cứ Điệp ngữ
Cách giải:
- Phép điệp: Nhớ
- Nhấn mạnh nỗi nhớ làng tha thiết của ông Hai. Tạo nhịp điệu tha thiết cho câu văn.
Câu 2
|
Từ nội dung đoạn trích ở câu 1, hãy viết đoạn văn khoảng 200 chữ về vai trò của quê hương trong cuộc đời mỗi con người. |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu vấn đề: vai trò của quê hương đối với cuộc đời mỗi người.
2. Bàn luận vấn đề
* Vai trò của quê hương:
- Quê hương là nguồn cội sinh dưỡng, nuôi lớn ta trưởng thành.
- Quê hương là chốn bình yên để ta trở về sau những vấp ngã của cuộc đời.
- Giúp mỗi con người sống tốt hơn trong cuộc đời, không quên nguồn cội.
- Nâng cao tinh thần và ý chí quyết tâm vươn lên của mỗi con người.
- Thúc đẩy sự phấn đấu hoàn thiện bản thân và tinh thần cống hiến giúp đỡ cộng đồng của mỗi cá nhân.
- Gắn kết cộng đồng, kéo con người lại gần nhau hơn trong mối quan hệ thân hữu tốt đẹp.
HS lấy dẫn chứng minh họa phù hợp.
* Bàn luận mở rộng:
- Mỗi cá nhân nên xây dựng, bồi dưỡng cho mình tình yêu quê hương đất nước và có những hành động cụ thể để góp phần bảo vệ, xây dựng, làm đẹp cho quê hương.
- Nếu không có tình yêu thương đối với quê hương đất nước thì cuộc sống con người không còn hoàn chỉnh và thiếu đi nhiều ý nghĩa.
- Trong xã hội hiện nay, một bộ phận người dân thiếu ý thức trách nhiệm, sống vô tâm với mọi người, không biết đóng góp xây dựng quê hương đất nước ngược lại còn có những hành vi gây hại đến lợi ích chung của cộng đồng, ...
3. Tổng kế
Câu 3
|
Phân tích đoạn thơ trong bài Viếng lăng Bác của Viễn Phương: Ngày ngày mặt trời đi qua trên lăng Thấy một mặt trời trong lăng rất đỏ, Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân
Bác nằm trong giấc ngủ bình yên Giữa một vầng trăng sáng dịu hiền Vẫn biết trời xanh là mãi mãi Mà sao nghe nhói ở trong tim! |
Phương pháp: phân tích, tổng hợp
Cách giải:
1. Giới thiệu chung
2. Phân tích
a. Những cảm xúc, suy ngẫm của nhà thơ khi vào lăng viếng Bác:
- Là nỗi tiếc thương, lòng biết ơn sâu nặng dành cho công lao của Bác.
+ Sáng tạo hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ sóng đôi: mặt trời trên lăng – mặt trời tự nhiên, mặt trời trong lăng - ẩn dụ cho Bác. Bác đã mang lại ánh sáng chân lí, giúp dân tộc thoát khỏi kiếp sống nô lệ, khổ đau. Hình ảnh ẩn dụ đã vừa khẳng định, ngợi ca sự vĩ đại của Người vừa thể hiện tình cảm tôn kính, biết ơn của cả dân tộc đối với Người.
+ Hình ảnh “dòng người” đi liền với điệp từ “ngày ngày” gợi dòng thời gian vô tận và sự sống vĩnh cửu; mang giá trị tạo hình, vẽ lên quang cảnh những đoàn người nối tiếp nhau không dứt, lặng lẽ và thành kính vào viếng Bác. Lối nói “đi trong thương nhớ” thể hiện nỗi tiếc thương, nhớ nhung lớn lao của bao thế hệ người dân Việt Nam trong giây phút vào lăng viếng Bác.
+ “Tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân”: 79 năm cuộc đời Người đã hiến dâng trọn vẹn cho quê hương, đất nước. Nó được kết từ hàng ngàn, hàng vạn trái tim để bày tỏ niềm tiếc thương, kính yêu vị cha già dân tộc. Đó cũng là cách để nhà thơ khẳng định Bác sống mãi trong lòng dân tộc.
b. Vào đến trong lăng tác giả đã thể hiện niềm thương nhớ, nỗi xót xa khi đứng trước di hài Người:
+ Tái hiện chân thực khung cảnh yên tĩnh, trang nghiêm trong lăng và dáng vẻ thư thái của Người. Ánh sáng dịu nhẹ như thế nơi đây có sự hiện diện của vầng trăng. Người nằm đó như đang nghỉ ngơi trong giấc ngủ bình yên.
+ Sử dụng lối nói giảm, nói tránh “giấc ngủ bình yên”. Câu thơ nói lên sự bình yên, thanh thản của Bác Hồ trong giấc ngủ ngàn thu, phải là một người sống có ích, hy sinh cho nước, cho dân, vì thế đến phút cuối người ra đi mà không hề ân hận, tiếc nuối. Vì thế dù đã về cõi vĩnh hằng, người say giấc ngủ ngàn thu mà chúng ta vẫn thấy được sự bình yên, thư thái, thanh thản. Bác vẫn chỉ “ngủ” mà thôi, ý nói là Bác vẫn còn sống mãi cùng chúng ta.
+ Hình ảnh ẩn dụ “trời xanh”: khẳng định sự bất tử của Bác trong tâm hồn dân tộc.
+ “Nghe nhói”: gợi nỗi đau đột ngột, bất ngờ, tê tái của một đứa con về muộn, không được gặp Người mà chỉ được ở bên di hài của Người.
=> Đoạn thơ đã nói được nỗi lòng sâu kín của biết bao thế hệ con người Việt Nam dành cho Bác: lòng biết ơn, sùng kính, niềm thương nhớ, xót xa…
3. Tổng kết
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP9
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
