Đọc hiểu và thực hành Tiếng Việt - Bài 1
Giải Bài tập 1 trang 4 sách bài tập Ngữ văn 8 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Bài tập 1. Đọc từ câu “Hoài Văn nằn nì thế nào, quân Thánh Dực cũng không cho chàng xuống bến.” đến câu “Mắt Hoài Văn giương to đến rách, nhìn những lá cờ bay múa trên những đoàn thuyền đẹp như gấm như hoa” trong văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng (SGK, tr. 10 – 11) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Câu 1 (trang 5, SBT Ngữ văn 8 KNTT, tập 1)
Những dấu hiệu nào cho biết đây là đoạn được trích từ một tác phẩm truyện lịch sử?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ đoạn trích
- Đọc kĩ phần Tri thức Ngữ Văn liên quan đến Truyện lịch sử
Lời giải chi tiết:
Những dấu hiệu cho biết đây là đoạn trích từ một tác phẩm truyện lịch sử:
- Bối cảnh lịch sử: Thời đại nhà Trần, khi quân Nguyên đang lăm le sang xâm lược nước ta
- Nhân vật lịch sử: Trần Quốc Toản, các con trai của Hưng Đạo Vương, vua Thiệu Bảo Trần Nhân Tông, Hưng Đạo Vương,…
- Cốt truyện lịch sử: Quân Nguyên lấy cớ mượn đường đánh Chiêm Thành để lăm le xâm phạm bờ cõi nước ta. Nhà Vua cho mở hội nghị Diên Hồng ở bến Bình Than để lấy ý kiến của các đại thần và bô lão. Trần Quốc Toản còn nhỏ tuổi, muốn tham gia nghị sự đánh giặc nhưng bị vua từ chối, ban cho quả cam. Chàng tay không bóp nát quả cam, về xin mẹ chiêu mộ binh lính, dựng cờ lớn thêu sáu chữ “Phá cường địch, báo hoàng ân”
- Ngôn ngữ nhân vật: phù hợp với thời đại phong kiến, phù hợp với chức vị: “chàng”, “quan gia”, “hầu”, “thiên tử”, “phu nhân”….
Câu 2
Câu 2 (trang 5, SBT Ngữ văn 8 KNTT, tập 1)
Sự kiện gì được đề cập trong đoạn trích? Sự kiện đó có tầm quan trọng như thế nào?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ đoạn trích và các chú thích
- Liên hệ kiến thức Lịch sử giai đoạn nhà Trần
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích đề cập đến sự kiện vua Trần Nhân Tông mở hội nghị Diên Hồng, họp các tướng lĩnh tại bến Bình Than để bàn kế sách chống giặc Nguyên.
Đây là một sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt, liên quan đến sự tồn vong của đất nước khi kẻ thù đang có ý định xâm phạm bờ cõi nước ta.
Câu 3
Câu 3 (trang 5, SBT Ngữ văn 8 KNTT, tập 1)
Những người như thế nào mới đủ điều kiện tham dự sự kiện được nói đến ở đoạn trích?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Tham gia dự họp cùng vua bàn việc chống giặc ở bến Bình Than phải là những người đáp ứng hai điều kiện:
- Phải thuộc dòng dõi nhà Trần, quyền cao chức trọng
- Phải đến tuổi trưởng thành theo quy định
Câu 4
Câu 4 (trang 5, SBT Ngữ văn 8 KNTT, tập 1)
Những chi tiết nào trong đoạn trích có tác dụng khắc hoạ nhân vật Hoài Văn Hầu?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ đoạn trích
- Chọn lọc những chi tiết nổi bật khắc họa tính cách, phẩm chất nhân vật
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích, có một số chi tiết có tác dụng khắc hoạ rõ nét về nhân vật Hoài Văn Hầu:
- Nhìn bến Bình Than – nơi vua Trần và các vương hầu đang họp bàn việc đánh giặc với ánh mắt thẫn thờ.
- Đăm đăm nhìn, mắt giương to đến rách nhìn thuyền của những người anh em chỉ hơn mình dăm sáu tuổi mà đã được dự họp, cảm thấy một nỗi nhục nhã vì phải đứng rìa.
- Tha thiết muốn xuống thuyền rồng, chỉ có một ý nghĩ là đánh, đánh để giữ quốc thể
- Xô mấy người Thánh Dực ngã chúi, xăm xăm xuống bến. Khi bị ngăn lại thì tuốt gươm, mắt trừng lên một cách điên dại
- Biết xông vào là mang tội nhưng vẫn chạy xồng xộc đến, quỳ xuống tâu với vua “xin đánh”
- Tay không bóp quả cam nát bét, chỉ còn trơ lại bã
=> Có thể nói, Trần Quốc Toản là một nhân vật tuy còn nhỏ tuổi nhưng có lòng yêu nước sâu sắc, có tinh thần căm thù giặc, có lòng tự tôn và ý chí chiến đấu mãnh liệt
Câu 5
Câu 5 (trang 6, SBT Ngữ văn 8 KNTT, tập 1)
Đoạn trích là lời của người kể chuyện hay lời của nhân vật? Em căn cứ vào đâu để nhận biết điều đó?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ đoạn trích
- Vận dụng kiến thức của ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba
Lời giải chi tiết:
- Đoạn trích chủ yếu là lời của người kể chuyện ngôi thứ ba. Ngôn ngữ được sử dụng là ngôn ngữ của người kể chuyện giấu mình đi, kể lại diễn biến của hội nghị ở bến Bình Than
- Tuy nhiên, trong đoạn trích còn xen vào lời nói thầm của nhân vật Hoài Văn - lời của nhân vật theo góc nhìn thứ nhất: “Cha ta mất sớm nên ta mới phải đứng rìa nhục nhã thế này!” Chính đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất và ý nghĩa của câu nói đó đã giúp ta nhận biết đây là lời nhân vật.
Câu 6
Câu 6 (trang 6, SBT Ngữ văn 8 KNTT, tập 1)
“Thuyền của các vị đại vương chức trọng quyền cao nhất của triều đình đều ở gần thuyền ngự”. Thuyền ngự nghĩa là thuyền của vua. Theo em, nếu thay thuyền ngự bằng thuyền của vua, sắc thái nghĩa của câu sẽ thay đổi như thế nào?
Phương pháp giải:
Áp dụng kiến thức từ Hán Việt
Lời giải chi tiết:
Nếu thay từ thuyền ngự bằng cụm từ thuyền của vua thì câu văn sẽ không còn sắc thái trang trọng, cổ kính. Vì “thuyền ngự” là một từ Hán Việt, mà tác dụng của từ Hán Việt thường sẽ đem lại màu sắc trang nghiêm, cổ kính, xưa cũ nên sẽ phù hợp với bối cảnh lịch sử của câu chuyện trong đoạn trích hơn.
Giải Bài tập 2 trang 4 sách bài tập Ngữ văn 8 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Bài tập 2. Đọc từ câu “Suốt ngày hôm qua, Hoài Văn ruổi ngựa đi tìm vua, quên không ăn uống!” đến câu “Tiếng kêu, tiếng thét náo động cả bến sông”. trong văn bản Lá cờ thêu sáu chữ vàng của Nguyễn Huy Tưởng (SGK, tr. 12) và chọn phương án trả lời đúng:
Câu 1
Câu 1 (trang 4 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Trong đoạn trích có câu “Hoài Văn không chịu được nữa.”. Lí do nào khiến Hoài Văn có tâm trạng như vậy?
A. Đường sá xa xôi, cưỡi ngựa đi lại suốt hai ngày, quá đói, quá mệt
B. Giặc Nguyên đã đến tận bờ cõi đất nước, tình hình nguy cấp
C. Bị quân Thánh Dực ngăn cản, không cho xuống gặp vua
D. Bức xúc vì chưa nói được điều nung nấu trong lòng
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
D. Bức xúc vì chưa nói được điều nung nấu trong lòng
Câu 2
Câu 2 (trang 5 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Câu văn nào sau đây tóm lược đúng về sự kiện được kế lại ở đoạn trích?
A. Do nóng lòng muốn tâu trình ý nguyện đánh giặc, Hoài Văn Hầu đã làm liều, xung đột với quân Thánh Dực để được gặp vua.
B. Quân Thánh Dực bực bội, ngăn cản quyết liệt hành động khinh thường phép nước của Hoài Văn Hầu.
C. Hoài Văn Hầu tự ái vì không được xuống bến Bình Than dự họp, đã tuốt gươm dọa quân Thánh Dực.
D. Hoài Văn Hầu biết mình thuộc hoàng tộc nên đã coi thường phép nước, vượt sự ngăn cản của quân Thánh Dực.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
A. Do nóng lòng muốn tâu trình ý nguyên đánh giặc, Hoài Văn Hậu đã làm liều, xung đột với quân Thánh Dực để được gặp vua.
Câu 3
Câu 3 (trang 5 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Trong các câu văn sau, câu nào giúp ta hiểu và thông cảm với hành động gây náo loạn của Hoài Văn Hầu?
A. Suốt ngày hôm qua, Hoài Văn ruổi ngựa đi tìm vua, quên không ăn uống.
B. Ta cứ xuống, chỉ nói hai tiếng xin đánh, rồi mặc cho triều đình luận tội.
C. Hoài Văn xô mấy người lính Thánh Dực ngã chúi, xăm xăm xuống bến.
D. Thực ra, vì nể chàng là một vương hầu, nên họ đã để cho chàng đứng đấy từ sáng.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
B. Ta cứ xuống, chỉ nói hai tiếng xin đánh, rồi mặc cho triều đình luận tội.
Câu 4
Câu 4 (trang 5 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Những câu nào nêu ĐÚNG đặc điểm của truyện lịch sử được thể hiện qua đoạn trích?
A. Câu chuyện được kể bằng lời của người kể chuyện ngôi thứ ba.
B. Đoạn trích kể về Trần Quốc Toản – một người anh hùng trẻ tuổi sống vào thời nhà Trần.
C. Trong đoạn trích có các nhân vật thời xưa (vua, các vương hầu, quân Thánh Dực,...).
D. Lời đối thoại giữa các nhân vật mang đặc điểm cách nói năng của người thời xưa.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần Tri thức ngữ văn về Truyện lịch sử và đoạn trích
Lời giải chi tiết:
B, C, D
Câu 5
Câu 5 (trang 5 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Quân pháp vô thân, hầu không có phận sự ở đây, nên trở ra cho anh em làm việc. Trong câu này, quân pháp vô thân là:
A. Một thành ngữ thuần Việt
B. Một cụm động từ có yếu tố Hán Việt
C. Một cụm tính từ có yếu tố Hán Việt
D. Một thành ngữ có yếu tố Hán Việt
Phương pháp giải:
Áp dụng kiến thức từ Hán Việt
Lời giải chi tiết:
Áp dụng kiến thức từ Hán Việt
Giải Bài tập 3 trang 6 sách bài tập Ngữ văn 8 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Bài tập 3. Đọc lại văn bản Quang Trung đại phá quân Thanh trong SGK (tr. 17 – 23) và chọn phương án trả lời đúng cho các câu hỏi:
Câu 1
Câu 1 (trang 6 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Lời nói của vua Quang Trung: “Chớ có quen theo thói cũ, ăn ở hai lòng, nếu như việc phát giác ra, sẽ bị giết chết ngay tức khắc, không tha một ai, chớ bảo là ta không nói trước!” đã thể hiện tình cảm, thái độ gì của người anh hùng?
A. Ý thức sâu sắc về chủ quyền của đất nước, độc lập của dân tộc
B. Tự hào về truyền thống oanh liệt của cha ông, quyết tâm tiêu diệt kẻ thù xâm lược
C. Căm ghét hành động bán nước của Lê Chiêu Thống, quyết tâm trừng trị
D. Cảnh báo trước những kẻ có ý đồ phản trắc, không chịu đồng tâm hiệp lực để chống giặc
Phương pháp giải:
Đọc kĩ lời nói của Quang Trung trong đoạn trích
Lời giải chi tiết:
D. Cảnh báo trước những kẻ có ý đồ phản trắc, không chịu đồng tâm hiệp lực để chống giặc
Câu 2
Câu 2 (trang 6 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Từ ngữ nào sau đây KHÔNG thể hiện đúng thái độ của tác giả khi miêu tả kết cục của vua Lê Chiêu Thống?
A. Phê phán, chê bai
B. Nuối tiếc, xót xa
C. Hả hê, vui sướng
D. Thương xót, ngậm ngùi
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
C. Hả hê, vui sướng
Câu 3
Câu 3 (trang 6 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Dòng nào sau đây khái quát đầy đủ nhất nội dung của đoạn trích?
A. Được tin báo quân Thanh chiếm Thăng Long, Bắc Bình Vương Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế.
B. Ca ngợi người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, đồng thời lên án gay gắt quân cướp nước và bè lũ bán nước
C. Cuộc hành quân thần tốc và chiến thắng lẫy lừng của vua Quang Trung
D. Sự đại bại của quân tướng nhà Thanh và tình trạng thảm bại của vua tôi Lê Chiêu Thống
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
B. Ca ngợi người anh hùng dân tộc Nguyễn Huệ, đồng thời lên án gay gắt quân cướp nước và bè lũ bán nước
Câu 4
Câu 4 (trang 6 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Vì sao các tác giả là những bề tôi của nhà Lê nhưng lại ca ngợi vua Quang Trung?
A. Vì căm ghét, muốn nhà Lê bị lật đổ
B. Vì họ nhận được nhiều ân huệ của vua Quang Trung
C. Vì tinh thần dân tộc và sự tôn trọng lịch sử
D. Vì họ luôn ủng hộ kẻ mạnh, kẻ chiến thắng
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
C. Vì tinh thần dân tộc và sự tôn trọng lịch sử
Câu 5
Câu 5 (trang 6 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Thật là: “Tướng ở trên trời xuống, quân chui dưới đất lên.”. Cụm từ in đậm trong câu trên nói về điều gì của quân Tây Sơn?
A. Sự dũng cảm, gan dạ
B. Sự đông đúc, mạnh mẽ
C. Sự thần tốc, bất ngờ
D. Sự quyết tâm, bền chí
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu văn, chú ý các từ “trên trời xuống”, “chui dưới đất lên”
Lời giải chi tiết:
C. Sự thần tốc, bất ngờ
Giải Bài tập 4 trang 7 sách bài tập Ngữ văn 8 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Bài tập 4. Đọc đoạn trích từ “Vua Quang Trung cưỡi voi ra doanh yên ủi quân lính” đến “Vua Quang Trung bèn sai mở tiệc khao quân, chia quân số ra làm năm đạo, hôm đó là ngày 30 tháng Chạp.” trong văn bản Quang Trung đại phá quân Thanh (SGK, tr. 19 – 20) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Câu 1 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Các sự việc trong đoạn trích được kể theo trình tự như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích theo yêu cầu đề bài, chú ý cách sắp xếp thứ tự các sự kiện
Lời giải chi tiết:
Các sự việc trong đoạn trích được kể theo trình tự thời gian, việc nào diễn ra trước thì kể trước, việc nào diễn ra sau thì kể sau.
Câu 2
Câu 2 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
“Trong khoảng vũ trụ, đất nào sao ấy đều đã phân biệt rõ ràng, phương Nam, phương Bắc chia nhau mà cai trị”. Theo em, câu nói của vua Quang Trung trong văn bản này có điểm gì tương đồng với lời của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo: “Như nước Đại Việt ta từ trước/ Vốn xưng nền văn hiến đã lâu/ Núi sông bờ cõi đã chia/ Phong tục Bắc Nam cũng khác”? Điểm tương đồng đó cho thấy điều gì ở các bậc anh hùng hào kiệt của nước ta trong các thời kì lịch sử?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ đoạn trích
- Phương pháp so sánh với Bình Ngô đại cáo
Lời giải chi tiết:
Câu nói của Nguyễn Huệ có nhiều điểm tương đồng với lời của Nguyễn Trãi trong Bình Ngô đại cáo: Cả hai đều khẳng định sự tồn tại độc lập, bình đẳng của một quốc gia phương Nam trước quốc gia phương Bắc; khẳng định ở nước ta đời nào cũng có anh hùng hào kiệt. Đó là sự thật hiển nhiên đã được lịch sử thừa nhận, không thể chối cãi, cũng không thể gộp vào; thể hiện quyền độc lập, tự chủ riêng của nước ta
Qua đây, ta cảm nhận được phẩm chất của những anh hùng trong các thời kì lịch sử khác nhau: lòng tự hào, tự tôn dân tộc; ý thức về độc lập tự chủ; ý chí quyết tâm bảo vệ nền độc lập, chủ quyền lãnh thổ trước mọi kẻ thù xâm lược.
Câu 3
Câu 3 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Qua cách hành xử của vua Quang Trung đối với Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân và Ngô Thì Nhậm, em cảm nhận được vẻ đẹp gì của người anh hùng này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Ta thấy Quang Trung là người sáng suốt, nhạy bén trong việc nhìn người và dùng người. Ông hiểu được điểm mạnh cũng như điểm yếu của các tướng sĩ, khen chê đúng người, đúng việc; biết nhu biết cương nên làm cho tướng sĩ kính phục và một lòng trung thành
Câu 4
Câu 4 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
“Các ngươi đều là những kẻ có lương tri lương năng, hãy nên cùng ta đồng tâm hiệp lực, để dựng nên công lớn”. Theo em, việc vua Quang Trung dùng từ lương tri, lương năng để nói với các tướng sĩ nhằm mục đích gì?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ lời nói nhân vật và phần chú thích
- Áp dụng kiến thức từ Hán Việt
Lời giải chi tiết:
Từ lương tri được dùng để chỉ người có khả năng nhận thức phải trái, đúng sai, tốt xấu; còn từ lương năng là để chỉ năng lực vốn có của con người.
Như vậy, với việc dùng từ lương tri, lương năng, vua Quang Trung muốn khẳng định tất cả các tướng lĩnh, quân sĩ đều là những người biết phải trái, đúng sai, đều là những người có lương tâm, biết yêu nước, thương dân. Đây chính là cách Quang Trung khích lệ được lòng tự trọng, tinh thần tự tôn dân tộc của quân sĩ; thể hiện sự đánh giá cao của bản thân với tài năng, phẩm chất của các tướng sĩ.
Câu 5
Câu 5 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Qua đoạn trích, em thấy vua Quang Trung là người như thế nào? Em có nhận xét gì về thái độ của tác giả khi miêu tả nhân vật này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, rút ra nhận xét khái quát
Lời giải chi tiết:
- Vua Quang Trung là người mạnh mẽ, quyết đoán; sáng suốt, nhạy bén trong việc nhận định tình hình địch, ta. Ông biết cách khơi dậy lòng yêu nước, tinh thần tự tôn dân tộc, tài ăn nói khiến người khác phải nể phục, trung thành. Tầm nhìn chiến lược, tài năng và ý chí quyết tâm bảo vệ độc lập của vua Quang Trung đã góp phần làm nên chiến thắng thần tốc đại phá quân Thanh.
- Qua đoạn trích, ta cũng cảm nhận được thái độ của các tác giả: Ca ngợi trí tuệ và phẩm chất đẹp đẽ của vua Quang Trung; từ đó bộc lộ sự kính trọng, nể phục tài năng của ông.
Giải Bài tập 5 trang 7 sách bài tập Ngữ văn 8 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Bài tập 5. Đọc lại đoạn trích Minh sư trong SGK (tr. 35 – 37) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Câu 1 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Đoạn trích đề cập đến sự kiện lịch sử nào?
Phương pháp giải:
- Đọc kĩ phần Giới thiệu và đoạn trích
- Liên hệ kiến thức lịch sử
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích Minh sư đề cập đến sự kiện lịch sử Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa nhưng sau đó mở rộng bờ cõi, gây dựng đất nước.
Câu 2
Câu 2 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Chi tiết “Vào năm Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng gần tròn tám mươi tuổi, ông lên Hải Vân để vào Quảng Nam. Suốt chặng đường lên đèo ông chỉ phải nằm cáng hai lần còn thì ngồi trên lưng ngựa.” gợi cho em cảm nhận gì về nhân vật Nguyễn Hoàng?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ chi tiết
Lời giải chi tiết:
Chi tiết trên cho thấy tâm huyết, sự nhiệt tình, nghiêm túc của Nguyễn Hoàng đối với đất nước. Dù tuổi cao sức yếu, ông vẫn không ngại khó khăn gian khổ để thực hiện giấc mơ, tâm nguyện của bản thân
Câu 3
Câu 3 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Hãy cho biết hai người lính đã bàn tán những gì về Đoan Quốc công Nguyễn Hoàng. Khi nghe những lời bàn tán về mình, Đoan Quốc công đã có phản ứng như thế nào? Từ đó, em hiểu thêm gì về tính cách của nhân vật này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ chi tiết trong đoạn trích
Lời giải chi tiết:
- Lời bàn tán của hai người lính: việc mở mang bờ cõi của ông chủ yếu là do gặp thời vận, chẳng phải là kết quả của những tính toán trước. Chẳng qua Quốc công sợ bị Trịnh Kiểm giết, tìm đường chạy thoát thân vào đây, gặp đất rộng thì mở mang.
- Khi nghe những lời bàn tán về mình của hai người lính, Đoan Quốc công đi thụt lùi để họ không nhận ra mình. Sau đó, ông bảo họ đừng làm ảnh hưởng tới quân lính đang ngủ, mời họ ra uống trà cùng mình. Sau khi nghe những lời van xin của hai người lính, ông chỉ nhìn họ đầy hồn hậu, nói chuyện ân cần, tâm sự về những suy nghĩ của ông đối với sự nghiệp, cuộc đời, về những người ông coi là “minh sư”
Qua đây, ta thấy Đoan Quốc công là một người có tấm lòng bao dung, có thái độ cầu thị, muốn lắng nghe những lời nhận xét thẳng thắn, không xu nịnh và có suy nghĩ rất bình dị, đúng đắn.
Câu 4
Câu 4 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Em hiểu như thế nào về câu nói: “Không phải chỉ có nhiều người gần gũi ta, những người nói điều hợp với lòng ta mà ngay cả những người nói điều trái ý ta [...] họ đều là những bậc thầy sáng suốt của ta, ta tri ân họ vì họ đã dạy ta nhiều điều?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu nói của Nguyễn Hoàng
Lời giải chi tiết:
Câu nói có ý nghĩa rất sâu sắc, đã góp phần nêu bật chủ đề của tác phẩm. Qua câu nói này, ta thấy Đoan Quốc công là người biết phân rõ phải trái, đúng sai, biết tiếp thu ý kiến của người khác.
Qua đó, chúng ta có thể suy ra ý nghĩa rằng không chỉ nên nghe những lời thuận tai, mà còn phải lắng nghe, tiếp thu những ý kiến, quan điểm trái chiều bởi vì nhờ chúng mà ta nhìn ra thiếu sót của bản thân, biết tự hoàn thiện mình. Đây cũng là chủ đề của tác phẩm.
Câu 5
Câu 5 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Nhan đề Minh sư gợi cho em những suy nghĩ gì?
Phương pháp giải:
- Áp dụng kiến thức từ Hán Việt
- Đọc kĩ lời chiêm nghiệm của Nguyễn Hoàng ở cuối đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Minh sư có nghĩa là người thầy sáng suốt, thấu tỏ
Qua văn bản, có thể thấy minh sư không chỉ là những người gần gũi cạnh bên, nói lời hay ý đẹp mà minh sư còn là những người dám nói những điều trái ý để ta nhìn nhận lại khuyết điểm của bản thân, từ đó tiến bộ hơn
Câu 6
Câu 6 (trang 7 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Nêu cảm nhận của em về tình cảm, tư tưởng của tác giả được thể hiện trong đoạn trích.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích cho ta thấy niềm kính trọng, ngưỡng mộ của tác giả đối với người anh hùng Nguyễn Hoàng. Bên cạnh đó, ta cũng thấy được sự ghi nhận, tán thành của tác giả đối với việc tiếp nhận lời khen chê.
Đây cũng chính là cách tác giả thể hiện lòng yêu nước và những tâm sự, suy nghĩ của bản thân về cuộc đời.
Giải Bài tập 6 trang 8 sách bài tập Ngữ văn 8 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Bài tập 6. Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Bữa nay, điện Diên Hồng được trang trí rất khéo. Điện không có những hàng cột thếp vàng lộng lẫy và những bức tường chạm nổi bằng gỗ trầm như Thiên An. Điển cũng không có những bậc thềm rộng mà người lên hoặc xuống thềm cảm thấy thăm thẳm triền miên. Diên Hồng là một ngôi điện rộng làm từ cuối triều trước, có một vẻ đẹp trầm mặc, hùng vĩ với lớp mái vảy cá chót cong và hàng cột chò chỉ trơn, màu đã xuống với tuổi gần một thế kỉ. Nền điện trải toàn chiếu cạp điều sát vào nhau và nhà vua đã sai bày tiệc yến lên đó để thết đãi các bộ lão. [...]
- Xin Quan gia cho đánh! Sát Thát! Sát Thát!
Nhân Tông thoáng lấp lánh cặp mắt, nhà vua sai nội giám rót rượu vào chén của các cụ, rót sao cho đầy bồng mắt thỏ. Nhà vua phán:
- Mời các cụ hãy uống đi! Ta mời các cụ. Các cụ để ta suy nghĩ giây lát rồi sẽ trả lời sau.
Nhưng cụ Nhiệu lại đứng dậy, nói:
- Quan gia chưa truyền chỉ, chúng tôi chưa an tâm. Quan gia chưa cho đánh, chúng tôi không đành lòng nhắp một giọt rượu.
Nhân Tông nhìn Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng,... nhìn các tướng đang im lặng mở to mắt trước quang cảnh và không khí trang nghiêm, chờ đợi tiếng nói tiêu biểu cho cả nước.
Nhà vua khẽ nhắm mắt lại. Cả lịch sử oai hùng hàng nghìn năm của dân tộc trở về thét vang trong tâm hồn Nhân Tông. Trưng Trắc thét: “Đánh”. Triệu Trinh Nương thét: “Đánh”. Lý Bí và Triệu Quang Phục thét: “Đánh”. Ngô Quyền rồi Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt,... biết bao nhiêu anh hùng thuở trước vụt hiện ra lẫm liệt nghiêm nghị trước mặt Nhân Tông và vị nào cũng thét: “Đánh”
Nhân Tông mở to cặp mắt. Điện Diên Hồng im phăng phắc trong sự chờ đợi căng thẳng. Nhân Tông nói rất chậm nhưng rành rẽ:
- Vậy thì... các bô lão hãy nghe chỉ ta. Các bô lão hãy uống với ta một chén rượu thề vua tôi đồng lòng, cả nước đấu sức. Ta truyền: “Đánh!”
Điện Diên Hồng rung lên trong tiếng thét như sét nổ: “Đánh! Đánh! Đánh!” [..] Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa truyền lại nâng cao tâm hồn ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mạng nặng nề.
Ông thét lớn:
- Bớ ba quân!
Tiếng dạ vang dậy kinh thành và sông nước. Trần Quốc Tuấn lại thét tiếp:
- Quan gia đã hạ chỉ cho ta lĩnh cờ Tiết chế cùng các ngươi xuất sư phá giặc. Kiếm Thượng Phương đây! – Trần Quốc Tuấn nâng cao kiếm lên khỏi đầu. – Ai trái mệnh, phản dân, hại nước, ta sẽ nghiêm trị không tha.
Quân sĩ lại đồng thanh dạ ran.
Nhân Tông vẫy Dã Tượng lại gần, cầm lấy cái gậy trúc xương cá của Trần Quốc Tuấn. Nhà vua ân cần trao cây gậy lại cho vị tướng già và dặn dò:
– Trọng phụ tuổi đã cao, xin vì trẫm, vì đất nước và trăm họ mà giữ gìn sức khoẻ. Sau đó, Trần Quốc Tuấn ra lệnh cho đạo quân bộ lên đường. Khi các cánh quân bắt đầu chuyển, Trần Quốc Tuấn cũng xuống bến thuyền. [...]
Từ đài cao, Dã Tượng đường hoàng, giương cao ngọn cờ Tiết chế đi xuống bến. Yết Kiêu đã đứng đón sẵn ở đấy. Dã Tượng trao cán cờ Tiết chế cho Yết Kiêu. Họ không nói với nhau một lời nào nhưng bốn mắt nhìn nhau đăm đắm như đang truyền cho nhau tình cảm dạt dào. Trần Quốc Tuấn chờ Yết Kiêu cắm lá cờ Tiết chế thật thẳng rồi ra lệnh nhổ sào.
Thuyền tướng từ từ kéo buồm. Khi con thuyền bắt đầu chuyển, Nhân Tông để hai tay vào đuôi thuyền khẽ đẩy. Thuyền tướng rời bến. Mặt sông la liệt buồm và cờ. Đội trống đồng đánh nhịp xuất quân. Tiếng trống thì thùng thì thùng rạo rực.
[...] Trần Quốc Tuấn lên mui thuyền. Sông bao la chan hoà ánh nắng. Thăng Long từ từ xa dần, và trong tâm hồn vị tướng già bỗng đinh ninh lời thề khải hoàn với kinh thành yêu dấu.
(Hà Ân, Trên sông truyền hịch, NXB Kim Đồng, Hà Nội, 1973, tr. 125 – 133)
Câu 1
Câu 1 (trang 9 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Sự kiện được kể lại trong đoạn trích thuộc thời nào trong lịch sử nước ta? Hãy liệt kê những nhân vật lịch sử được tác giả nhắc đến trong đoạn trích.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
- Sự kiện được kể lại trong đoạn trích thuộc thời Trần với sự kiện Hội nghị Diên Hồng do thượng hoàng Trần Thánh Tông và hoàng đế Trần Nhân Tông đích thân chủ trì
- Những nhân vật lịch sử được tác giả nhắc đến trong đoạn trích: Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Trần Bình Trọng, Yết Kiêu, Dã Tượng,...
Câu 2
Câu 2 (trang 9 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Tác giả đã dùng những chi tiết nào để miêu tả điện Diên Hồng? Qua cách miêu tả đó, em hình dung như thế nào về ngôi điện này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
- Điện Diên Hồng được tác giả miêu tả: “Diên Hồng là một ngôi điện rộng làm từ cuối triều trước, có một vẻ đẹp trầm mặc, hùng vĩ với lớp mái vảy cá chót cong và hàng cột chò chỉ trơn, màu đã xuống với tuổi gần một thế kỉ”
- Qua những chi tiết miêu tả đó, ta thấy được vẻ đẹp cổ kính, trầm mặc và trang nghiêm của nơi diễn ra một sự kiện có ý nghĩa vô cùng thiêng liêng, quyết định vận mệnh dân tộc lúc bấy giờ.
Câu 3
Câu 3 (trang 9 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Câu nói “Ai trái mệnh, phản dân, hại nước, ta sẽ nghiêm trị không tha.” đã làm nổi bật tính cách gì của nhân vật Trần Quốc Tuấn?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Câu nói trên cho thấy lòng yêu nước, quyết tâm chống giặc cứu nước; thái độ nghiêm minh, dứt khoát, căm ghét những kẻ phản bội, kiên quyết diệt trừ mầm mống gây nguy hại tới nền thái bình đất nước của Trần Quốc Tuấn.
Câu 4
Câu 4 (trang 9 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Trong đoạn trích, tác giả đã sử dụng nhiều chi tiết sinh động để miêu tả tinh thần quyết tâm đánh giặc của quân đội nhà Trần. Hãy phân tích một chi tiết mà em có ấn tượng mạnh nhất.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Chi tiết khiến em ấn tượng nhất là “Điện Diên Hồng rung lên trong tiếng thét như sét nổ: “Đánh! Đánh! Đánh!” [..] Trần Quốc Tuấn thấy tất cả sức mạnh của dân tộc từ nghìn xưa truyền lại nâng cao tâm hồn ông lên khiến cho hai vai ông dư sức gánh sứ mạng nặng nề”. Chi tiết trên đã cho thấy quyết tâm chống giặc. sĩ khí tướng lĩnh, trên dưới một lòng của quân thần nhà Trần. Đó là tình yêu nước, là khí khái hiên ngang, lẫm liệt, là lòng tự tôn dân tộc. Hơn nữa, nó cũng minh chứng cho truyền thống yêu nước chống giặc, cho quyết tâm bảo vệ bờ cõi của cha ông ta từ nghìn xưa vọng lại, khơi dậy tinh thần cho tất cả mọi người.
Câu 5
Câu 5 (trang 9 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Nêu cảm nhận của em về tinh thần, nghĩa khí của quân đội nhà Trần trong buổi xuất quân được tác giả khắc hoạ ở phần cuối của đoạn trích.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, đưa ra nhận xét khái quát
Lời giải chi tiết:
Qua đoạn trích, có thể thấy rằng, tinh thần và nghĩa khí của quân đội nhà Trần trong buổi xuất quân được đẩy lên mức độ cao trào nhất qua những hình ảnh như: mặt sông la liệt buồm và cờ; đội trống đồng đánh nhịp xuất quân, tiếng trống thì thùng thì thùng rạo rực.... Cả quân và dân trên dưới một lòng, ai cũng nêu cao quyết tâm “Đánh!”. Tinh thần, thái độ của các bô lão, của nhà vua, của tướng lĩnh khiến chúng ta phải nể phục về một thời kì, một triều đại anh hùng, ba lần đánh đuổi quân Nguyên - Mông ra khỏi bờ cõi nước ta.
Câu 6
Câu 6 (trang 9 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Hẫy chỉ ra biện pháp tu từ được dùng trong đoạn văn sau và phân tích tác dụng của nó: "Cả lịch sử oai hùng hàng nghìn năm của dân tộc trở về thét vang trong tâm hồn Nhân Tông. Trưng Trắc thét: "Đánh". Triệu Trinh Nương thét: "Đánh". Lý Bí và Triệu Quang Phục thét: "Đánh". Ngô Quyền rồi Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt,... biết bao nhiêu anh hùng thuở trước vụt hiện ra lẫm liệt nghiêm nghị trước mặt Nhân Tông và vị nào cũng thét: "Đánh".
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, áp dụng kiến thức biện pháp nghệ thuật đã được học
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn văn trên, nhà văn đã sử dụng biện pháp tu từ liệt kê: Trưng Trắc, Triệu Trinh Nương, Lý Bí, Triệu Quang Phục, Ngô Quyền, Lê Hoàn, Lý Thường Kiệt
Tác dụng: gợi lại những nhân vật và thời kì anh hùng trong lịch sử dân tộc, nhấn mạnh tinh thần, quyết tâm chống giặc là truyền thống nghìn đời của con dân Việt Nam
Giải Bài tập 7 trang 10 sách bài tập Ngữ văn 8 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Bài tập 7. Đọc đoạn trích sau và chọn phương án trả lời đúng:
Khi cha con Hồ Quý Ly hiệp binh lại với nhau rồi thì lại phân ra làm ba đạo, hai đạo binh bộ thì đi hai bên bờ sông, còn một đạo binh thuỷ thì đi chính giữa; kéo lên đánh Hàm Tử quan.
Chẳng dè quân Minh hay trước, đã phân binh ra phục sẵn mấy chỗ hiểm yếu mà chờ, cho nên khi quân Hồ vừa mới kéo tới nơi, thì quân Minh ba bên bốn bề khắc ki với nhau ào ra một lượt, đánh rát quá quân họ Hồ chịu không nổi, nên phải vỡ tan chạy ráo, hai đạo binh bộ thua rồi, lớp thì đầu giặc, lớp thì chạy nhào xuống sông mà chết rất nhiều. Hồ Nguyên Trừng cũng tử trận.
Còn đạo binh thuỷ tuy chạy thoát khỏi được, song những thuyền chở lương đều bị chìm mất hết nhiều.
Lúc bấy giờ, những quan tướng An Nam mà bị quân Minh bắt được, không chịu đầu nó thì nó giết đi; cái lòng độc ác của quân Minh đối đãi với An Nam ta, thiệt là cực kì tàn nhẫn.
Hồ Quý Ly dẫn cả đạo binh thuỷ chạy thẳng ra biển, rồi dò theo đường biển chạy về Thanh Hoá; nhưng mới vừa đến Mã Giang, lại gặp quân Minh chặn đánh, làm cho quân nhà Hồ tan tác như cua gãy càng. Cha con Hồ Quý Ly không dám vào Thanh Hoá, phải chạy thẳng vào Nghệ An mà trốn.
Trương Phụ cho người đi thám dọ, biết cha con họ Hồ đã chạy vào Nghệ An, bèn cho mời Mộc Thạnh đến mà nghị kế rằng: “Nay cha con Hồ Quý Ly đã thế cùng lực tận rồi, chúng nó vào Nghệ An mà trốn đó, thì thế nó đã cùng đường, chúng ta phải đồng tâm hiệp lực, phân binh thuỷ lục kéo vào, thì thế nào cũng bắt được, chứ nếu chúng ta mà dụ dự lôi thôi, dung dưỡng nó nhiều ngày, để cho nó nảy nhánh đâm chồi, thì ắt sanh hậu hoạn đó”. Mộc Thạnh cùng chư tướng thảy đều bái phục.
Rồi đó Trương Phụ và Mộc Thạnh thì dẫn đại binh đi đường bộ kéo vào. Lại khiến Liễu Thăng dẫn một đạo hải quân kéo đi đường thuỷ.
Quân Minh rần rộ kéo đi, đánh đến đầu thì chúng nó cứ bắt đàn bà con gái tới đó, lại cướp giật của dân, cách chúng nó ngược đãi người mình thiệt là nhiều bé khắc bạc
Còn Hồ Quý Ly, khi chạy vào vừa đến cửa Kì La, bị quân Minh bắt được, bọn Hồ Hán Thương... thì dắt hết gia quyến và con cháu nhà Hồ chạy vào trốn nơi núi Cao Vọng; lại đụi chẳng mấy ngày, rồi cũng bị quân Minh bắt sạch.
Lúc bấy giờ, những quan tướng của nhà Hồ, lớp ra đầu hàng, lớp bị bắt, còn lớp thì không chịu nhục, nên phải tự tử mà chết rất nhiều.
Nhà Hồ từ ngày soán đoạt ngôi Trần mà làm vua từ năm Canh Thìn (1400), qua đến năm Đinh Hợi (1407) thì mất nước; có hai đời vua, trị được có 7 năm.
(Nguyễn Chánh Sắt, Việt Nam Lê Thái Tổ, NXB Hồng Đức, 2015, tr. 130 – 132)
Câu 1
Câu 1 (trang 11 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Câu nào sau đây khái quát chính xác nhất về nội dung đoạn trích?
A. Sự tàn ác của giặc Minh và nỗi thống khổ của nhân dân ta dưới ách xâm lược.
B. Quân Minh sang xâm lược nước ta, cha con Hồ Quý Ly hợp binh chống giặc nhưng cuối cùng thất bại.
C. Tinh thần chống giặc kiên cường, bất khuất của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Hồ Quý Ly.
D. Những trận chiến ác liệt giữa quân Minh xâm lược và quân ta dưới sự lãnh đạo của Hồ Quý Ly.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
B. Quân Minh sang xâm lược nước ta, cha con Hồ Quý Ly hợp binh chống giặc nhưng cuối cùng thất bại.
Câu 2
Câu 2 (trang 11 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Nguyên nhân thua trận của quân Hồ Quý Ly được đoạn trích miêu tả:
A. Không có tinh thần hăng hái chiến đấu
B. Lực lượng yếu hơn quân giặc
C. Bị trúng kế mai phục của quân Minh
D. Vũ khí không tối tân bằng vũ khí của giặc
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
C. Bị trúng kế mai phục của quân Minh
Câu 3
Câu 3 (trang 11 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Dựa vào nội dung của đoạn trích, hãy cho biết ý nào sau đây KHÔNG khái quát đúng bản chất của quân xâm lược nhà Minh?
A. Đối xử tàn tệ đối với nhân dân ta
B. Lập lại kỉ cương cho nhà nước phong kiến của ta
C. Truy diệt đến cùng cha con Hồ Quý Ly
D. Thể hiện sự độc ác đối với quan tướng nhà Hồ
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
B. Lập lại kỉ cương cho nhà nước phong kiến của ta
Câu 4
Câu 4 (trang 12 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Câu “Nhà Hồ từ ngày soán đoạt ngôi Trần mà làm vua từ năm Canh Thìn (1400), qua đến năm Đinh Hợi (1407) thì mất nước; có hai đời vua, trị được có 7 năm.” có ý nghĩa gì?
A. Bình luận, đánh giá về triều đại nhà Hồ ở nước ta
B. Tóm lược về lịch sử thời phong kiến ở nước ta
C. Tóm lược về triều đại nhà Hồ ở nước ta
D. Rút ra bài học lịch sử qua triều đại nhà Hồ
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
C. Tóm lược về triều đại nhà Hồ ở nước ta
Câu 5
Câu 5 (trang 11 SBT Ngữ Văn 8, tập 1)
Những dòng nào sau đây thể hiện đúng thái độ của người kể chuyện?
A. Căm ghét quân xâm lược nhà Minh
B. Cảm thông với nỗi khổ của nhân dân ta
C. Khách quan khi thuật lại thất bại của Hồ Quý Ly
D. Hả hê trước sự thất bại của Hồ Quý Ly
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
A, B, C
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP8
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
