Đọc và thực hành tiếng Việt - Bài 1
Giải bài tập 1 trang 4 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 11-17) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Nêu ấn tượng chung của bạn khi đọc văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đã phản ánh lên một xã hội vừa phi lý nhưng cũng hợp lý, khiến người đọc phải giật mình nhận ra chính câu chuyện hài hước này được thôi ra từ chính đời sống thường ngày, từ một thực tại mà họ được trải nghiệm hằng ngày. Thông qua nhân vật Xuân Tóc Đỏ - một thằng ất ơ, xảo trá, trưởng giả học làm sang ông đã mang đến cho người đọc một bức tranh xã hội học đòi Âu hóa đầy nhố nhăng một cách chân thực. Hiện thực đó còn thể hiện chi tiết hơn khi được nhà văn viết thông qua thể loại tiểu thuyết, với dung lượng của một tiểu thuyết, nhà văn thoải mái phơi bày mọi sự thật trần trụi đến chi tiết của xã hội qua từng góc nhỏ nơi đời sống.
Câu 2
Bạn hiểu như thế nào về nhân vật Xuân Tóc Đỏ qua những điều được kể trong văn bản? Giữa tính cách của Xuân Tóc Đỏ với môi trường, hoàn cảnh xã hội văn thời thuộc địa có mối liên hệ gì?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật Xuân tóc đỏ
Liên hệ với xã hội thời điểm đó
Lời giải chi tiết:
Xuân xuất hiện gián tiếp qua lời kể của nhân vật khác. Xuân Tóc Đỏ được miêu tả là một nhân vật có quyền lực, tài giỏi vô cùng nên mới được trao niềm tin để cứu vớt lại danh dự của một gia đình.
Tác giả sử dụng nhiều chi tiết hài hước, trào phúng để vạch trần bản chất xấu xa, giả dối của xã hội thượng lưu, họ đại diện cho một xã hội lố lăng, kệch cỡm, “chó đểu” thời bấy giờ. Và chính cái xã hội đảo điên đã tạo cơ hội cho Xuân leo cao và đạt đến địa vị “tót vời”.
Câu 3
Phân tích tính logic của sự kiện Xuân Tóc Đỏ được tung hô là "anh hùng cứu quốc". Theo bạn, điểm mấu chốt của sự kiện này nằm ở đâu?
Phương pháp giải:
Chú ý sự kiện Xuân Tóc Đỏ được tung hô
Lời giải chi tiết:
Các sự kiện chính:
- Vua Xiêm tới Bắc Kỳ
- Xuân Tóc Đỏ đăng kí tham gia thi quần vợt
- Vào chung kết với quán quân Xiêm
- Nhận lệnh “phải thua”
- Cơ hội ngụy biện “hi sinh vì nghĩa lớn”
- Đám đông tung hô “anh hùng cứu quốc”, vĩ nhân dân tộc
Điểm mấu chốt của sự kiện Xuân được tung hô cứu quốc nằm ở chính sự kiện hắn ta được lệnh “phải thua” và nhân cơ hội đó ngụy biện thành “hi sinh vì nghĩa lớn”
Câu 4
Xác định những biểu hiện của bút pháp châm biếm được sử dụng trong nhà văn bản. Chọn phân tích một câu, đoạn văn hay một chi tiết cho thấy nét đặc sắc trong bút pháp châm biếm đó.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về bút pháp châm biếm
Lời giải chi tiết:
- Ngôn ngữ mang tính khiêu khích, châm chọc
- Giễu cợt, mỉa mai nhân vật và hoàn cảnh
- Tạo một số tình huống đặc biệt để đánh rơi mặt nạ hào nhoáng mà các nhân vật đang đeo.
- Đưa ra các chi tiết đặc sắc có khả năng gây cười
- Trộn lẫn các loại ngôn ngữ vốn có sự tương phản chói gắt; thường xuyên sử dụng biện pháp tu từ nói mỉa và nghịch ngữ;...
Câu văn: “Với cái hùng biện của một người đã thổi loa cho những hiệu thuốc lậu, với cái tự nhiên của một anh lính còi chạy hiệu rạp hát, lại được ông Văn Minh vặn đĩa kèn, Xuân Tóc Đỏ đã chinh phục quần chúng như một nhà chính trị đại tài của Tây phương”.
=> Câu văn sử dụng bút pháp châm biếm bằng cách cường điệu, mỉa mai và tạo ra sự đối lập nghịch lý để chỉ trích tính cách và hành động của Xuân Tóc Đỏ. Sự so sánh giữa tài năng thực sự của nhân vật với hình ảnh hào nhoáng của các chính trị gia phương Tây, cùng với việc phác họa những chi tiết tầm thường của nhân vật, làm nổi bật sự lố bịch và thiếu nghiêm túc của Xuân Tóc Đỏ. Điều này không chỉ tạo ra sự hài hước mà còn phản ánh sự chỉ trích sắc bén đối với những nhân vật tự mãn và thiếu chất lượng trong xã hội.
Câu 5
Bạn có cảm nhận gì về hình tượng công chúng được khắc hoạ trong văn bản?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết khắc họa hình tượng công chúng
Lời giải chi tiết:
Hình tượng công chúng được khắc họa trong khung cảnh hỗn loạn, đầy nghịch lí, qua ngôn ngữ châm biếm mỉa mai, xen lẫn cường điệu để mô tả cái thôi miên lên đồng, cả một cộng đồng xã hội bị một tổ chức thôi miên, lôi kéo, dắt mũi.
Câu 6
Nếu nói tiểu thuyết có sức mạnh vô song trong việc bao quát cả bề rộng lẫn bề sâu của hiện thực thì văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc đã thể hiện điều đó như thế nào?
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Chú ý hiện thực được khắc họa trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Bằng việc quan sát tỉ mỉ, khắc hoạ sắc bén hình tượng nhân vật và bối cảnh xã hội, Vũ Trọng Phụng đã tái hiện xã hội thông qua lăng kính hiện thực trần trụi, thẳng thắn. Những lát cắt hiện thực của ông được tái hiện vừa hài hước, sâu cay vừa tạo ấn tượng sâu sắc và ghi dấu ấn mạnh mẽ trong lòng người đọc.
Ông phơi bày hiện thực xã hội thối nát, đời sống cực khổ của người dân là kết quả của tội ác bọn tư bản. Qua những trang sách của ông, ta không chỉ nhìn thấy cảm nhận được tiếng cười sảng khoái, châm biếm mà còn là thái độ xót xa, day dứt trước thời cuộc, câu chữ của ông chính là tấm gương phản chiếu xã hội tối tăm, loạn lạc của đất nước ta trước cách mạng tháng Tám.
Giải bài tập 2 trang 5 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc trong SGK Ngữ văn 12, tập một kh (tr. 14-15), đoạn từ "Mấy giơ đầu ở séc thứ ba" đến "Được thì chết! Chiến tranh!" và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Phân tích sự tương phản giữa cử chỉ, hành động của vua Xiêm cùng những người hầu cận và cử chỉ, hành động của các quan chức chính phủ Bảo hộ, chính phủ Nam triều được miêu tả trong đoạn văn bản.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết miêu tả cử chỉ, hành động của vua Xiêm
Lời giải chi tiết:
- Vua Xiêm cùng những người hầu cận:
+ Vua Xiêm tức giận “lôi trong túi áo ra một cái bản đồ Ấn Độ Chi Na do chính phủ Xiêm vẽ lại”, hành động này là sự cảnh cáo, đeo dọa rằng nếu Xiêm thua thì sẽ không để yên.
+ Những người hầu cận cũng hùa theo mà ghé tai thì thào “La guerre! La guerre!” (Chiến tranh! Chiến tranh!)
- Các quan chức chính phủ Bảo hộ, chính phủ Nam triều:
+ Đức vua nước nhà, quan Toàn quyền và quan Thống sứ đưa mắt nhìn nhau, từ hăng hái chuyển dần sang lo lắng vì sợ rằng quân Xiêm sẽ kéo sang trả thù.
+ Hành động của Giám đốc chính trị Đông Dương sau khi nghe hiệu lệnh của quan Toàn quyền, liền rỉ tai ông bầu Văn Minh một cách gấp gáp, kêu rằng phải đi tìm Xuân nhờ thua quân Xiêm => thể hiện sự nịnh nọt, nhún mình, sợ hãi của nước nhà trước kẻ thù đang có ý định chiến tranh.
Câu 2
Bản chất của hoạt động thể thao được tổ chức nhân dịp đón tiếp vua nước láng giềng đã bị tác giả phơi trần như thế nào? Bạn có nhận xét gì về cách nhìn và khám phá hiện thực của nhà văn?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết thể hiện cách nhìn hiện thực của nhà văn
Lời giải chi tiết:
- Diễn ra với hình thức giả tạo: mặc dù nó được tổ chức công phu và có vẻ trọng thể, nhưng bản chất của sự kiện không phải là để thể hiện tinh thần thể thao thực sự hay là để tôn vinh những giá trị thể thao, mà chủ yếu là để tạo ấn tượng và lấy lòng vua nước láng giềng.
- Như một trò cười và hết sức lố bịch
- Mang mục đích chính trị và xã hội: nó được tổ chức nhằm tạo ấn tượng tốt với vua nước láng giềng và củng cố vị trí của các quan chức và những người có quyền lực trong xã hội.
- Các nhìn và khám phá hiện thực của nhà văn:
+ Tính châm biếm và phê phán: sự yếu kém và lố bịch của các quan chức trong việc tổ chức, điều hành...
+ Khám phá những vấn đề xã hội và chính trị: Ông chỉ trích sự kém hiệu quả của các quan chức, sự giả tạo trong các hoạt động công cộng, và sự thiếu trách nhiệm trong quản lý quốc gia.
+ Phơi trần sự giả tạo trong các hoạt động công cộng
=> Điều này giúp làm nổi bật sự mâu thuẫn và những vấn đề nghiêm trọng trong quản lý xã hội và chính trị thời bấy giờ.
Câu 3
Nêu nhận xét về nhịp điệu trần thuật (miêu tả, kể) trong đoạn văn bản.
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về hình thức trần thuật
Lời giải chi tiết:
Nhịp điệu trần thuật trong đoạn này nhanh và gấp gáp hơn. Qua đó, thể hiện không khí căng thẳng, kịch tính và sợ hãi trước sự đe dọa của quân Xiêm La.
Câu 4
Lập bảng liệt kê, so sánh các từ ngữ, chi tiết được sử dụng để miêu tả phản ứng của đám đông và phản ứng của các yếu nhân (nhân vật quan trọng) của buổi lễ. Căn cứ vào bảng liệt kê, so sánh đó, hãy rút ra những nhận xét phù hợp.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các hình ảnh miêu tả phản ứng của 2 đối tượng và tiến hành so sánh
Lời giải chi tiết:
|
Nhân vật |
Phản ứng của nhân vật |
Nhận xét |
|
Vua Xiêm |
“Tức thì lôi trong áo ra cái bản đồ Ấn Độ Chi Na...Hoành Sơn.” “Ngắm nghía cái bản đồ... không nhìn ra cuộc đấu” |
Khi thấy tài tử của mình không lấn át được Xuân, ông đã vô cùng tức giận, và hành động này là sự cảnh cáo và đe dọa của ông về chiến tranh có thể xảy ra. |
|
Vua quan Đức và viên quan hầu Nhật |
Thì thào “La guerre! La guerre!” |
Hùa theo vua Xiêm |
|
Công chúng Pháp – Nam |
“ngây thơ, vô lo vô lự, vẫn vỗ tay rầm rộ để ủng hộ Xuân” |
Họ đơn giản, thể hiện đúng tinh thần thể thao, ủng hộ cuồng nhiệt cho người chiến thắng mà không biết ẩn sau hoạt động giải trí là một mục đích mang tính chính trị. |
|
Các quan chức chính phủ Bảo hộ, chính phủ Nam triều |
“đưa mắt nhìn nhau” |
Tỏ ra sự lo lắng trước sự không chút nhún nhường của Xuân |
|
Giám đốc chính trị Đông Dương |
“rỉ tai” ông bầu Văn Minh về bản chức tối hệ trọng về việc nhờ thua quân Xiêm |
Vội vã, gấp gáp bỏ khán đài, chạy xuống đi tìm ông bầu vì đây là một việc hệ trọng, có liên quan đến vận mệnh của đất nước. => Cứu vãn tình hình bằng phương án nhường đối thủ, đây là một lối suy nghĩ hèn nhát, thiển cận của các quan chức lúc đó. |
|
Ông bầu Văn Minh |
“đứng ngạc nhiên há hốc mồm ra” “liền thất thanh khẽ bảo nó: Thua đi! Nhường đi! Được thì chết! Chiến tranh!” |
Nhân vật như ông Văn Minh rất ngây ngô, khó hiểu khi nghe lời đề xuất của Ông Giám đốc chính trị Đông Dương vì nó quá vô lí. |
Câu 5
Nếu đặt mình trong vai nhà đạo diễn phim muốn đưa cảnh được miêu tả trong đoạn văn bản lên màn ảnh, bạn sẽ nêu những yêu cầu cơ bản nào đối với nhóm làm phim của mình?
Phương pháp giải:
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Xây dựng bối cảnh và không khí: phải tái hiện lại sự hỗn loạn của đám đông quần chúng, của xã hội lúc bấy giờ.
- Nhân vật và diễn xuất: phải thể hiện cảm xúc theo đúng mô tả của nhân vật trong văn bản, từ sự tinh ranh đến kệch cỡm của các nhân vật trào phúng.
- Kỹ thuật quay phim và hình ảnh, âm thanh: sử dụng các góc máy và ánh sáng phù hợp.
- Hiệu ứng chuyển cảnh và dựng phim: mượt mà và logic giúp khán giả theo dõi câu chuyện một cách dễ dàng.
- Tính trung thực đối với văn bản: Đảm bảo rằng các sự kiện và hành động trong cảnh phản ánh chính xác mô tả từ văn bản gốc, giữ nguyên ý nghĩa và tinh thần của đoạn văn.
Giải bài tập 3 trang 5 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Sự thật của Số đỏ, chính là cải cười. Cái cười trong số đó không phải là những phương thức nghệ thuật để chuyên chở tư tưởng của tác phẩm. Cải cười ở đây là bản chất, là tình túy của văn bàn nghệ thuật, nó đồng nhất với thế giới quan của tác giả; nó là tất cả tác phẩm - cái cười đa diện, cái cười vừa khẳng định vừa bác bỏ, cái cười lớn luôn luôn để ngỏ, không khép kín, không khô cứng. Nhiều nhà phê bình đã nói sâu sắc về cái hoạt kê, cái cười hế hả, cái hài hước, cái châm biếm, nhạo báng, cái hế, cái bouffon v.v... của Số đỏ. Tôi hiểu thêm rằng Số đỏ là cái cười nhại với một tầm cỡ lớn. Số đỏ nhại một xã hội, một phong trào chính trị, một thời đô thị hoá. Nó nhại một trào lưu văn hoá, một trào lưu văn học, một nghệ thuật trừu tượng cực đoan. Nó nhại một ngôn ngữ đang hình thành, hổ lốn, táp nham, lổn nhổn, không ăn khớp – ngôn từ khấp khểnh, xiêu vẹo, tạp pí lù. Số đỏ là một tập hợp hỗn loạn những phong cách kì dị, quái gở, lấn át nhau, xen kẽ nhau, phá huỷ nhau, – để biểu đạt chính xác cái xã hội quái dị ấy. Và chưa mấy ai thấy cái cười của Vũ Trọng Phụng, ở đây, ẩn giấu tư tưởng nhân đạo đầy bao dung, cái cười nhân văn chủ nghĩa.
(Đỗ Đức Hiếu, Những lớp sóng ngôn từ trong “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng, in trong Đồi mới phê bình văn học, NXB Khoa học xã hội - NXB Mũi Cà Mau, 1994, tr. 223-224)
Câu 1
Ở ba câu văn đầu tiên trong đoạn trích, tác giả đã cho biết quan niệm của mình về cái cười trong tiểu thuyết Số đỏ như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ ba câu văn đầu tiên trong đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Ở ba câu văn đầu tiên của đoạn trích, Vũ Trọng Phụng đã cho biết quan niệm của mình về cái cười trong tiểu thuyết Số đỏ như sau: Cái cười trong Số đỏ không phải là những phương thức nghệ thuật để chuyên chở tư tưởng của tác phẩm. Cải cười ở đây là bản chất, là tình tuỷ của văn bàn nghệ thuật, nó đồng nhất với thế giới quan của tác giả: nó là tất cả tác phẩm - cái cười đa diện, cái cười vừa khẳng định vừa bác bỏ, cái cười lớn luôn luôn để ngỏ, không khép kín, không khô cứng.
Câu 2
Giải thích luận điểm của tác giả về "cái cười nhại" trong tiểu thuyết Số đỏ.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
“Cái cười nhại” là vũ khí sắc bén để phơi bày hiện thực xã hội: Đỗ Đức Hiếu cho rằng, Vũ Trọng Phụng đã sử dụng tiếng cười nhại như một công cụ để bóc trần những mặt tối của xã hội Việt Nam thời kỳ trước Cách mạng tháng Tám. Qua những tình huống hài hước, trớ trêu, tác giả đã phơi bày sự tha hóa đạo đức, sự hời hợt, sự chạy theo những giá trị vật chất của một bộ phận xã hội.
+ Cái cười nhại tập trung vào những đối tượng tiêu biểu: Đỗ Đức Hiếu chỉ ra rằng, Vũ Trọng Phụng đã chọn những đối tượng ở tầm cỡ “lớn” như: một xã hội, một phong trào chính trị, một thời đô thị hoá, một trào lưu văn hoá, một trào lưu văn học, một nghệ thuật trừu tượng cực đoan. Qua việc khắc họa những đối tượng này, tác giả đã tạo ra những bức tranh sinh động về một xã hội đang trong quá trình chuyển đổi.
+ Cái cười nhại ngôn ngữ: Tác giả đặc biệt chú ý đến việc Vũ Trọng Phụng sử dụng ngôn ngữ một cách tài tình để tạo ra tiếng cười: hồ lốn, táp nham, lốn nhồn, không ăn khớp – ngôn từ khấp khểnh, xiêu vẹo, tạp pí lù. Ngôn ngữ trong Số đỏ là một hỗn hợp nhiều phong cách, tạo nên sự hài hước, trào phúng.
Câu 3
Nội dung đoạn trích gợi cho bạn liên hệ đến ý nào trong đoạn trình bày về khái niệm tiểu thuyết hiện đại ở phần Tri thức ngữ văn của SGK (tr. 9 – 10)?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và phần tri thức ngữ văn
Lời giải chi tiết:
Nội dung của đoạn trích gợi liên hệ: Có kết cấu nhiều tầng lớp tuyến tính và phi tuyến tính; có sự đan xen của nhiều bè ngôn ngữ, phản ánh sự tồn tại, xung đột thường xuyên giữa các ý thức xã hội.
Câu 4
“Nó nhại một ngôn ngữ đang hình thành, hổ lốn, tạp nham, lổn nhổn, không ăn khớp – ngôn từ khấp khểnh, xiêu vẹo, tạp pí lù” – khái quát đó của tác giả đoạn trích có thể tìm được minh chứng ở văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và đối chiếu với văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc
Lời giải chi tiết:
Khái quát của tác giả có thể được minh chứng qua một số lời thoại của các nhân vật trong văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc như sau:
- Viên trọng tài: “Ca răng! Ca răng ta! A văng ta sê vít! A văng ta đờ ơ!”
- Vị thượng quan của Chính phủ rỉ tai Văn Minh: “Chính phủ Bảo hộ và chính phủ Nam triều cử bản chức tới nhờ ngài ... một cách rất hậu hĩ!”
- Ông bầu Văn Minh: “Thua đi! Nhường đi! Được thì chết! Chiến tranh!”
- Những lời hò hét: “Quốc sỉ! Về nhà bò! Đi về nhà bò!”
“ A bas Xuân! A bas Xuân! Des explications!”
- Thiên hạ hoan hô: “Xuân Tóc Đỏ vạn tuế! Sự đại bại vạn tuế!”
Giải bài tập 4 trang 5 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Nỗi buồn chiến tranh trong SGK ngữ văn 12, tập một (tr. 19-24) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Tóm tắt các sự việc được kể trong từng phần của văn bản và nêu rõ mối quan hệ giữa các sự việc trong hai phần
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Phần 1: Đoạn trích nói về nhân vật Kiên, một anh bộ đội bước ra từ cuộc chiến với những chấn thương tâm hồn nặng nề, sau thành nhà văn, để lại một đống bản thảo "rối bời" khiến nhân vật "tôi" - người kể chuyện - phải suy tư không dứt. Phần đầu, người kể chuyện ở ngôi thứ ba kể về trạng thái luôn sống với kí ức chiến tranh của nhân vật Kiên - dòng kí ức đã thôi thúc anh cầm bút để ghi chép lại tất cả trải nghiệm của một đoạn đời đặc biệt.
Phần 2: Sang đến phần hai, người kể chuyện ở ngôi thứ nhất xưng "tôi", kể về những ấn tượng, cảm xúc và suy tư của mình khi đối diện với “núi bản thảo” bộn bề mà Kiên bỏ lại. Đó là ấn tượng, cảm xúc và suy tư về nhân vật Kiên, về quyền được nhớ lại, về niềm hạnh phúc đang chờ đợi những ai muốn đi ngược thời gian để sống trọn vẹn với những gì đã xảy ra trong quá khứ, về chiến tranh, về ý thức bảo vệ phẩm giá ở mỗi người trong hoàn cảnh thử thách khốc liệt,...
Đoạn trích xoay quanh tâm lí của nhân vật Kiên, những kí ức về một thời oanh tạc chiến trường tràn về trong kí ức ông, kèm theo nỗi cô đơn của thời bình đã giúp ông viết cuốn tiểu thuyết của mình. Nhân vật “tôi” là người cùng cơ quan của Kiên, sau khi Kiên bỏ đi, “tôi” nhận số bản thảo của Kiên để lại và dần thấu hiểu Kiên.
Câu 2
Cắt nghĩa nguyên nhân thúc đẩy nhân vật Kiên cầm bút viết văn qua những gì được trần thuật (kể) trong văn bản.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nguyên nhân thúc đẩy nhân vật Kiên cầm bút viết văn:
+ Kí ức trong Kiên ùa vào cái trong đêm đông lạnh giá, không khí u buồn, trong từng khung cảnh mà anh đi qua,...
+ Khi viết, Kiên tìm thấy sự giải thoát, hàn gắn trong tâm hồn
+ Càng viết, dòng trôi của tiểu thuyết càng không cho phép Kiên được trở về với hiện tại, anh chỉ là người viết, lặng lẽ hòa nhập vào cộng đồng nhân vật và hoàn toàn cam chịu trước cái logic bí ẩn của trí nhớ và trí tưởng tượng.
Câu 3
Theo bạn, "nỗi buồn chiến tranh" nặng nề, dai dẳng ở nhân vật Kiên có phải là trạng thái tâm lí chung của tất cả những người từng tham gia chiến trận hay không? Qua lí giải vấn đề này, bạn hiểu thế nào về tính chân thật của những gì được miêu của tả trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh nói riêng và trong tiểu thuyết nói chung?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và đưa ra lý giải hợp lý
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
“Nỗi buồn chiến tranh” nặng nề, dai dẳng ở nhân vật Kiên là trạng thái chung của tất cả những người từng tham gia chiến trận khốc liệt.
Điều này được thể hiện rõ nét khi nhà văn miêu tả đời sống tâm lý đầy những dằn vặt và ẩn ức của Kiên trong thời bình. Nhân vật Kiên ra khỏi chiến tranh với gánh nặng của những kỉ niệm đau đớn. Vì vậy, Kiên hay những người đã từng tham gia chiến trận không thể dễ dàng sống cho hiện tại; không thể dửng dưng hưởng thụ bầu không khí hòa bình trên những mất mát, hi sinh của bao đồng đội.
Nói một cách khác, cuộc sống thời bình của họ hoàn toàn vô nghĩa, không mục đích, không lí tưởng, không niềm vui hay chính xác hơn là không dành cho họ - những người đã dành toàn bộ những ngày tháng đẹp nhất cuộc đời trong chiến tranh. Và hòa bình chỉ là thời gian để họ lặn lội lục tìm kí ức mà thôi.
Câu 4
Người kể chuyện xưng "tôi" đã thay đổi cách nhìn, cách đọc đối với những trang bản thảo mà Kiên để lại như thế nào? Qua sự việc này, bạn rút ra được bài học gì về cách đọc đối với một số tiểu thuyết có lối kết cấu đặc thù?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về cách đọc tiểu thuyết
Lời giải chi tiết:
Tác phẩm của Kiên là những dòng kí ức lộn xộn, vì anh chỉ cắm cúi viết những kí ức tràn về chứ không hề có dụng ý sắp xếp. Vì người kể không hề biết về những kí ức gãy đứt đó của Kiên nên gặp khó khăn trong việc đọc bản thảo.
Người kể chuyện đã không còn cố gắng để lí giải những trình tự xuất hiện trong bản thảo, mà “tùy tiện” tiếp nhận theo lối nhận thức của riêng anh ta.
Đối với một số tiểu thuyết có lối kết cấu đặc thù, có thể không cần bắt buộc theo một trình tự nào cả mà có thể việc kể chuyện dựa vào tâm lí nhân vật và dụng ý của người sáng tác.
Câu 5
Qua đọc hai văn bản Xuân Tóc Đỏ cứu quốc và Nỗi buồn chiến tranh trong mối liên hệ với nhan đề của bài học, bạn có thể phát biểu điều gì về "khả năng lớn lao của tiểu thuyết"?
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên và hiểu biết và tìm hiểu của bản thân
Lời giải chi tiết:
Tiểu thuyết, với quy mô rộng và khả năng chứa nội dung thì chỉ tiểu thuyết mới có thể giúp nhà văn giãi bày những dụng ý nghệ thuật trong tác phẩm.
Qua hai tác phẩm trên cho thấy, tiểu thuyết có khả năng "lớn lao" bởi nó không chỉ đơn thuần là một câu chuyện giải trí mà còn là một công cụ để phản ánh hiện thực, khám phá tâm lý con người, đặt ra những vấn đề xã hội, và truyền tải những thông điệp nhân văn sâu sắc. Qua những trang sách, người đọc có cơ hội được sống, được cảm nhận, được suy ngẫm về cuộc đời và thế giới xung quanh mình.
Giải bài tập 5 trang 6 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Nỗi buồn chiến tranh trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 23 - 24), đoạn từ "Nhưng chúng tôi còn có chung" đến "trong trắng và chân thành.” và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Người kể chuyện xưng “tôi” đã bày tỏ sự đồng cảm như thế nào với “nỗi buồn chiến tranh" của nhân vật Kiên?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết thể hiện sự đồng cảm
Lời giải chi tiết:
Do đều trải qua những nỗi buồn, đau đớn trong chiến tranh. Có chung một nỗi buồn nhưng có lẽ nỗi buồn của Kiên lại nặng nề hơn nhiều so với “tôi”. Người kể chuyện mừng cho anh thậm chí là ghen tỵ với anh vì anh được vĩnh viễn sống trong những tháng ngày của tuổi trẻ, trở lại với tình yêu, tình bạn trong trắng và chân thành kể cả còn khó khăn, gian khổ.
Câu 2
Nêu cách hiểu của bạn về ý nghĩ sau đây của nhân vật “tôi”: “Chính nhờ nỗi buồn mà chúng tôi đã thoát khỏi chiến tranh, thoát khỏi bị chôn vùi trong cảnh chém giết triền miên, trong cảnh khốn khổ của những tay súng, những đầu lê, trong ám ảnh bạo lực và bạo hành, để bước trở lại con đường riêng của mỗi cuộc đời”. Theo bạn, ở đoạn giới thiệu về tác phẩm trong SGK (tr. 24), có câu nào liên quan đến ý nghĩ này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ ý nghĩ
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Theo em, nhân vật “tôi” và kiên đều có chung một nỗi buồn, một nỗi buồn cao cả thậm chí còn giúp họ thoát khỏi những hiểm cảnh của chiến tranh tàn ác. Đó chính là nỗi buồn về những mất mát, hi sinh, buồn vì những kỉ niệm thời son trẻ, tươi sáng chỉ còn trong tiềm thức, buồn vì cuộc sống thời bình chẳng sung sướng và cũng đầy tội lỗi.
Ở đây, câu nói trong đoạn giới thiệu về tác phẩm có liên quan đến ý nghĩa này: Đời sống nội tâm của một nhân vật luôn tự cật vấn đến đau đớn về tâm thế tồn tại trong cuộc đời, về thân phận của tình yêu, về chiến tranh như một môi trường thử thách khốc liệt đối với nhân tính.
Câu 3
Người kể chuyện xưng “tôi” biết rõ nỗi buồn chiến tranh nặng nề của Kiên mà vẫn nói rằng Kiên có niềm lạc quan đáng phải ghen tị. Cần giải đáp như thế nào về nghịch lí này?
Phương pháp giải:
Đọ kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật “tôi”, từ sự thấu hiểu, tri âm và đồng điệu với những trang bản thảo của Kiên, và thực sự đã hiểu con người anh. Bởi không phải những người lính nào khi bước vào thời bình, nhớ về quá khứ mà chỉ cảm thấy tội lỗi, đau thương. Họ ghen tỵ với Kiên bởi sự lạc quan khi quay ngược về thời chiến, sống mãi cùng những tháng ngày đau thương nhưng huy hoàng, ngày mà tất cả đều nhiệt huyết cháy bỏng, chịu đựng tất cả và hi sinh.
Câu 4
Qua đoạn văn bản này, bạn hiểu như thế nào về ý nghĩa của một câu xuất hiện ở phần một của văn bản: "Kiên tin rằng anh đã phục sinh, nhưng là một sự phục sinh lùi về sâu xa."?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý tâm trạng của nhân vật Kiên
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Bởi cuộc sống thời bình của Kiên hoàn toàn vô nghĩa, và dường như nó không còn dành cho anh. Chúng ta tưởng Kiên đã được sống lại trong một cuộc đời mới, nhưng đó là bánh quay thời gian đang dần quay ngược, làm sống lại trong tâm trí những kí ức đã qua, làm nó trỗi dậy và tồn tại mãi mãi.
Câu 5
Nỗi buồn đậm đặc trong tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh phải chăng phản ánh cái nhìn một chiều của tác giả về hiện thực cuộc sống? Đoạn văn bản này có thể giúp bạn giải đáp vấn đề vừa nêu như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, liên hệ với thực tế cuộc sống
Lời giải chi tiết:
Nỗi buồn đậm đặc trong tác phẩm phán ánh cái nhìn chủ quan nhưng đa chiều của tác giả về hiện thực cuộc sống.
Người kể chuyện trong đoạn văn bản xưng “tôi”, tạo nên cách dịch chuyển trong vai trò, thể hiện lối đi riêng đầy sáng tạo của nhà văn và tạo nên cái nhìn đa chiều về nhân vật Kiên. Và “tôi” cũng là người duy nhất hiểu và đến với những trang bản thảo của anh.
Giải bài tập 6 trang 7 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc nhận định sau về tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh và trả lời các câu hỏi:
Song điều khiến tôi kinh ngạc trong tiểu thuyết này, không chỉ là sự tàn khốc của chiến tranh cũng như sự huỷ diệt của nó đối với tâm hồn con người, mà còn là cách thức xử lí hình thức nghệ thuật trong văn bản tiểu thuyết – tức phương pháp sáng tác tiểu thuyết: sáng tác của nhà văn Bảo Ninh và sáng tác của nhân vật chính của tiểu thuyết - Kiên, câu chuyện chiến tranh về Kiên và các nhân vật khác mà Bảo Ninh kế, câu chuyện về thân phận trong tiểu thuyết mà Kiên sáng tác cho đến cả việc đọc và sắp xếp cuốn tiểu thuyết trong tiểu thuyết của người viết ở cuối tác phẩm, tất cả tạo nên một cốt truyện ghép mảnh và sáng tác chồng xếp, khiến cho Nỗi buồn chiến tranh đạt đến kết cấu gấp hộp một cách vô cùng thành công. Chính lối tự sự có thể gọi là kết cấu gấp hộp này đã làm cân bằng và trì hoãn một cách hầu như hoàn mĩ đối với sự mạo hiểm của tính trữ tình quá độ trong cốt truyện tiểu thuyết, khiến cho phong cách trữ tình và nghị luận kiểu sân khấu kịch trong văn học truyền thống phương Đông trở thành thứ màu sắc phương Đông trong văn học thế giới [...].
(Diêm Liên Khoa, Tầm cao của văn học chiến tranh phương Đông, Thiên Thai dịch, tạp chí Tia sáng, ngày 19/5/2016)
Câu 1
Xác định vấn đề chính được đề cập trong nhận định trên.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhận định
Lời giải chi tiết:
Phương pháp sáng tác tiểu thuyết độc đáo và sáng tạo của nhà văn Bảo Ninh.
Câu 2
Hiện tượng “cốt truyện ghép mảnh và sáng tác chồng xếp” mà tác giả Diêm Liên Khoa khen ngợi đã được biểu hiện cụ thể như thế nào ở tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh? (Dựa vào nội dung văn bản và phần giới thiệu tác phẩm trong SGK để trả lời.)
Phương pháp giải:
Dựa vào nội dung văn bản và phần giới thiệu tác phẩm trong SGK để trả lời
Lời giải chi tiết:
- Thay vì kể theo trật tự thời gian liên tục, tác giả sử dụng kỹ thuật xen kẫu, chuyển đổi liên tục giữa các sự kiện ở quá khứ và hiện tại.
- Các sự kiện, hồi ức của nhân vật được trình bày dưới dạng những mảnh ghép, mỗi mảnh tập trung vào một chi tiết, sự kiện cụ thể.
- Cốt truyện không mang tính hệ thống, liên tục mà mang tính phân mảnh, gián đoạn, yêu cầu độc giả phải liên kết các mảnh ghép để tái hiện lại câu chuyện.
=> Do vậy, khi mới tiếp cận đến tác phẩm của Kiên, người kể chuyện chỉ nghĩ đây là những dòng kí ức lộn xộn, vì anh chỉ cắm cúi viết những kí ức tràn về chứ không hề có dụng ý sắp xếp và người kể không hề biết về những kí ức gãy đứt đó của Kiên nên gặp khó khăn trong việc đọc bản thảo. Nhưng khi người kể chuyện hiểu anh, thì đã giống như Kiên mà tùy tiện tiếp nhận theo lối nhận thực của riêng anh ta thì lại thấy nó khá thú vị.
Câu 3
Bạn hiểu như thế nào về ý sau đây của tác giả nhận định: “Chính lối tự sự có thể gọi là kết cấu gấp hộp này đã làm cân bằng và trì hoãn một cách hầu như hoàn mì đối với sự mạo hiểm của tính trữ tình quá độ trong cốt truyện tiểu thuyết”?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhận định đề bài
Nhớ lại kiến thức về tiểu thuyết
Lời giải chi tiết:
Theo em, kết cấu gấp hộp hay lối tự sự chồng xếp túi hộp phương Đông của Bảo Ninh đã trì hoãn, kéo cái tính trữ tình miên man lan tràn (sự mạo hiểm của tự sự trong tiểu thuyết này) cho nó khỏi trượt rơi, khiến tính trữ tình đạt đến một vẻ đẹp “phục hồi/ thuyên giảm”.
Câu 4
Từ những điều được Diêm Liên Khoa gợi ý, hãy tìm những biểu hiện của tính trữ tình ở đoạn trích Nỗi buồn chiến tranh trong SGK và nêu cảm nhận của bạn.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhân định và đối chiếu với đoạn trích
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Những biểu hiện của tính trữ tình ở đoạn trích:
+ “cái đêm lạnh giá, đứng trước cửa sổ,... chiều gió đông bắc”
+ “giữa mớ đồ đạc và bàn ghế tồi tàn...không bao giờ có lại”.
+ “Mênh mang hương sắc mùa xuân tươi sáng đượm sầu xao xuyến truyền lan theo sóng hồ”
+ “anh chỉ là người viết, bền bỉ và lặng lẽ... nhân vật”
....
Những biểu hiện trữ tình trên đã góp phần tạo nên một không gian cảm xúc sâu lắng, u ám trong đoạn trích. Ngôn ngữ thi vị, hình ảnh ẩn dụ cùng những tâm tư, giằng xé nội tâm của nhân vật đã thể hiện rất rõ nét nỗi buồn và những vết thương lòng do chiến tranh để lại. Điều này khiến người đọc không khỏi xúc động, đồng cảm với những trải nghiệm đau thương mà nhân vật phải gánh chịu.
Câu 5
Qua cách nhìn nhận của Diêm Liên Khoa đối với tác phẩm Nỗi buồn chiến tranh, bạn hiểu thêm được điều gì về mối quan hệ giữa nội dung viết và cách viết trong hoạt động sáng tác tiểu thuyết?
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Diêm Liên Khoa đã nhận định sự gắn kết chặt chẽ giữa nội dung và cách viết trong hoạt động sáng tác tiểu thuyết. Nội dung của Nỗi buồn chiến tranh là sự tàn khốc, ẩn ức của chiến tranh đối với tâm hồn con người được thể hiện qua cách thức kể chuyện phi tuyến tính, phá vỡ liên tục. Đồng thời, tác phẩm còn là sự sáng tạo kép, không chỉ là sự sáng tác của Bảo Ninh, mà còn bao gồm cả câu chuyện sáng tác của nhân vật Kiên trong tiểu thuyết. Điều này tạo nên một tầng bậc sáng tạo phức tạp, khẳng định vai trò của nhân vật trong tác phẩm, làm nên sự thành công và giá trị của tác phẩm này.
Giải bài tập 7 trang 7 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Trên xuống cứu nạn trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 37 – 39) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Qua tóm tắt nội dung văn bản, hãy cho biết điều tác giả muốn kể hoặc muốn thể hiện ở đây là gì.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, tóm tắt và rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích cho ta thấy những trải nghiệm phong phú của Pi – một người gặp nạn trên biển. Pi kể lại cuộc hành trình của mình khi phải một mình đối mặt với sự bí ẩn của vũ trụ bao la. Ngay khi tình hình chính trị ở đất nước Ấn Độ gặp những biến động, bố Pi quyết định đưa cả gia đình sang định cư ở Ca-na-đa bằng một con tàu chở hàng Nhật Bản. Họ đem theo những con thú trong vườn thú của gia đình. Con tàu gặp bão và bị đắm ở vùng sâu nhất của Thái Bình Dương. Bố, mẹ và anh trai của Pi cũng như toàn bộ thuỷ thủ đoàn cùng hầu hết bầy thú đều bị biển sâu nuốt chửng. Pi may mắn sống sót. Trên con thuyền nhỏ ấy, ngoài Pi còn có con hổ tên Pác-cơ và một số con vật khác. Sau cuộc chiến sinh tồn khắc nghiệt cùng với những con thú, trên thuyên chỉ còn lại Pi và con hổ Pác-cơ. Tại đây, những nghịch lý cuộc sống được nhìn qua con mắt của Pi.
Qua tóm tắt của nội dung văn bản tác giả muốn thể hiện nghịch lý của cuộc sống, tác phẩm thể hiện những góc nhìn mới mẻ về giá trị của con người.
Câu 2
Nhân vật lênh đênh giữa đại dương trên xuống cứu nạn đã có những trải nghiệm đặc biệt nào về thiên nhiên và cuộc sống?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
- Thấy nhiều kiểu trời: trời có đám mây trắng, trời tịnh không một gợn mây, trời mỏng dính và u ám, trời là trận mưa đen ngòm, trời là trận nước đổ xuống, là trận đại hồng thủy…
- Thấy nhiều loại biển: biển gầm thét như một con hổ, biển thì thầm vào tai ta như người bạn rủ rỉ tâm tình, biển kêu lanh canh như một đồng xu lẻ trong túi quần, biển sấm sét như những trận đất lở, biển rít lên như giấy nháp cọ trên mặt gỗ, biển kêu như người nôn mửa, biển lặng ngắt như chết
- Cảm nhận thấy giữa trời và biển là gió
- Thấy được đêm và trăng
Câu 3
Có thể giải thích như thế nào về việc tác giả chủ yếu dùng đại từ "ta" (nguyên văn tiếng Anh là You) chứ không phải là đại từ "tôi" để thể hiện ngôi kể của nhân vật, khi nhân vật thuật lại những gì xảy ra với mình trong chuyến hải trình đơn độc?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, thử thay đại từ "tôi" và so sánh
Lời giải chi tiết:
- Tạo cảm giác gần gũi và trực tiếp với người đọc và người nghe, “ta” giúp họ cảm nhận rằng mình cùng trải nghiệm chuyến hải trình với nhân vật, đồng thời cảm giác được sự chia sẻ và kết nối sâu hơn.
- Đại từ “ta” tạo sự tương tác mạnh mẽ hơn, khiến gười đọc cảm thấy như mình đang là một phần của câu chuyện hoặc đang nhận được sự nhắn nhủ trực tiếp từ nhân vật.
- Mang tính tự sự, phản ánh sự thật và cảm xúc chân thực của nhân vật trong quá trình thuật lại.
Trong một số ngữ cảnh, việc sử dụng đại từ “ta” có thể phản ánh một phong cách hoặc truyền thống kể chuyện đặc thù, hoặc có thể thể hiện một cách diễn đạt có tính chất văn học đặc biệt.
Câu 4
Phân tích thái độ của nhân vật trước tình thế tranh chấp ngặt nghèo giữa sự sống và cái chết.
Phương pháp giải:
Chú ý các chi tiết miêu tả thái độ của nhân vật
Lời giải chi tiết:
+ Nhân vật Pi luôn giữ sự bình tĩnh và quyết tâm: không tỏ ra hoảng loạn trong tình cảnh hiểm nghèo, Pi luôn giữ sự bình tĩnh đáng ngạc nhiên trước hoàn cảnh cực kỳ nguy hiểm.Mặc dù biết rằng nguy cơ cái chết đang rình rập, nhân vật vẫn giữ vững tinh thần và đưa ra các quyết định cần thiết để sinh tồn.
+ Dù tình thế đang cực kỳ căng thẳng, nhân vật không mất niềm tin vào khả năng sống sót của mình. Tinh thần lạc quan này giúp nhân vật duy trì sức mạnh tinh thần và thể chất, qua đó làm tăng khả năng vượt qua khó khăn.
+ Nhân vật có nhận thức rõ ràng về tình hình nguy hiểm mà mình đang phải đối mặt, và tự đánh giá được khả năng và hạn chế của bản thân. Đồng thời, nhân vật cũng cho thấy khả năng tự quản lý cảm xúc và hành động của mình một cách hiệu quả.
Câu 5
“Vì dưới chân ta vẫn có được một con cá chết bé tí xíu”. – Đó là lời nhân vật tự giải thích về cử chỉ “đứng khoanh tay với một nụ cười trên môi” của mình, mặc dù anh đang lâm vào hoàn cảnh bi đát. Nêu nhận xét của bạn về lời giải thích này.
Phương pháp giải:
Phân tích lời giải thích
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Lời giải thích của nhân vật về cử chỉ của mình cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách nhân vật đối diện với tình thế khó khăn. Nó thể hiện sự cố gắng duy trì lạc quan và tinh thần, cho thấy một phần tính cách mạnh mẽ và kiên cường, đồng thời phản ánh sự chấp nhận thực tại một cách tinh tế và khả năng tự an ủi trong hoàn cảnh bi đát.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
