Đọc và thực hành tiếng Việt - Bài 5
Giải bài tập 1 trang 26 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc lại phần tóm tắt hài kịch Quan thanh tra và văn bản Nhân vật quan trọng trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 132 – 138) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Các từ ngữ và câu tiếng Pháp có trong lời thoại của An-na An-dré-ép-na (Anna Andree moi) và Kho-let-xta-cốp (Khlestacov) nói lên điều gì về các nhân vật này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các từ ngữ và câu tiếng Pháp có trong lời thoại của An-na An-dré-ép-na
Lời giải chi tiết:
Các từ ngữ và câu tiếng Pháp có trong lời thoại của An-na An-dré-ép-na (Anna Andree moi) và Kho-let-xta-cốp (Khlestacov) không chỉ làm nổi bật địa vị xã hội của họ mà còn phản ánh sự giả tạo và khao khát về sự chấp nhận xã hội trong bối cảnh của vở kịch.
Câu 2
Liệt kê các chi tiết về giới văn chương mà Khơ-lét-xta-cốp nhắc đến trong văn bản và nêu tác dụng gây cười của chúng.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết về giới văn chương
Lời giải chi tiết:
+ Tên tác giả: Khhlestakov tự nhận mình là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng, bao gồm "Đám cưới chừng Phi-ga-rô" (Figaro), "Rô-be" (Robe) con quỷ, "Noóc-nu" (Normu) và "Điện tín Mát-xcơ-va" (Moska).
=> Những tác phẩm này hoàn toàn không tồn tại và có vẻ như Khhlestakov chỉ đơn giản là bịa đặt. Việc anh ta tự nhận là tác giả của nhiều tác phẩm nổi tiếng mà không có cơ sở thực tế phản ánh sự giả dối và sự khoe khoang hão huyền của anh.
+ Tác giả thật: Khi bị nghi ngờ về tác giả của "Mi-lốt-xp-xki" (Yuri Miloslavsky), Khhlestakov thừa nhận rằng tác giả thực sự là Da-gốt-xkin (Dargomyzhsky), nhưng lại khẳng định mình đã viết một cuốn khác với tên tương tự. => Việc Khhlestakov lúng túng và thay đổi câu chuyện cho thấy sự thiếu hiểu biết và sự giả mạo của anh. Sự nhầm lẫn và bịa đặt này làm nổi bật sự lố bịch và sự ngạo mạn của anh.
+ Khhlestakov tự nhận là bạn thân của Pu-skin (Pushkin), một nhà văn nổi tiếng.
+ Nói rằng mình viết rất dễ dàng và nhanh chóng, và ngay cả khi có những tác phẩm nổi tiếng khác, anh cũng được nhận tiền nhiều từ việc viết.
+ Khhlestakov kể về những bữa tiệc xa hoa và khiêu vũ tại nhà mình ở Pê-téc-bua, với những món ăn và khách mời danh giá.
=> Các chi tiết về giới văn chương mà Khhlestakov nhắc đến đều thể hiện sự giả mạo, khoe khoang hão huyền và tính cách lố bịch của anh. Những sự phô trương và bịa đặt này không chỉ làm nổi bật sự thiếu chân thực trong lời nói của Khhlestakov mà còn khiến tình huống trở nên hài hước, phản ánh rõ ràng tính cách của anh và sự châm biếm xã hội trong vở kịch.
Câu 3
Có thể coi lời nói của Khơ-lét-xta-cốp (tr. 137-138) là lời đối thoại được đối thoại hoá hay không? Tại sao? Xác định ý nghĩa của các biện pháp cường điệuuu, tương phản, nói quá, nói lỡ được sử dụng trong lời nói đó.
Phương pháp giải:
Tìm hiểu kiến thức về "đối thoại hóa", nhớ lại kiến thức về đối thoại
Nhớ lại kiến thức về các biện pháp cường điệu tương phản, nói quá, nói lỡ
Lời giải chi tiết:
Lời nói của Khơ-lét-xta-cốp trên các trang 137-138 của vở kịch Quan thanh tra có thể được coi là lời đối thoại được "đối thoại hóa" trong nghĩa là nó được sử dụng để thể hiện và phê phán một cách hài hước và châm biếm. Vì:
+ Khơ-lét-xta-cốp trình bày những lời nói phô trương và xảo quyệt, khoe khoang về mối quan hệ với các nhà văn nổi tiếng, tài năng viết lách và cuộc sống xa hoa của mình. => sự tự khẳng định mà còn là sự giả tạo nhằm tạo ấn tượng tốt với người khác, đặc biệt là với gia đình thị trưởng và các quan chức.
a. Cường điệu
+ Ví dụ: Khơ-lét-xta-cốp nói về việc mình viết các tác phẩm nổi tiếng mà thực tế không tồn tại và cách anh ta dễ dàng viết nhiều tác phẩm trong một buổi tối.
+ Ý nghĩa: Cường điệu này làm nổi bật sự thiếu chân thực và sự khoe khoang hão huyền của Khơ-lét-xta-cốp. Nó không chỉ phản ánh tính cách lố bịch của nhân vật mà còn thể hiện sự châm biếm đối với những kẻ giả vờ, tự mãn và không có thực lực.
b. Tương phản
+ Ví dụ: Khơ-lét-xta-cốp so sánh cuộc sống xa hoa ở Pê-téc-bua với cuộc sống tồi tệ ở Vôi-a-gi-rốp-ca, nơi anh ta đang ở. Anh ta nói về những cuộc khiêu vũ xa hoa và các bữa tiệc với món ăn và khách mời danh giá, trong khi thực tế anh đang sống trong hoàn cảnh nghèo nàn.
+ Ý nghĩa: Tương phản này làm nổi bật sự giả dối và sự tự mãn của Khơ-lét-xta-cốp, đồng thời phản ánh sự châm biếm đối với những người sống dựa vào những ảo tưởng về địa vị và thành công.
c. Nói quá
+ Ví dụ: Khơ-lét-xta-cốp nói về những bữa tiệc với quả dưa hấu giá bảy trăm rúp và xúp nấu từ Paris, hoặc việc anh được mời tham gia các cuộc khiêu vũ với các đại sứ và quan thượng thư.
+ Ý nghĩa: Nói quá này thể hiện sự phóng đại và thiếu thực tế trong những lời nói của Khơ-lét-xta-cốp. Nó làm nổi bật sự khoe khoang thái quá và sự thiếu chân thành của nhân vật, đồng thời góp phần vào việc tạo ra sự hài hước trong vở kịch.
d. Nói lỡ
+ Ví dụ: Khơ-lét-xta-cốp nói về việc mình không nhớ tên các tác phẩm và lẫn lộn với tên tác phẩm khác khi được hỏi về tên của tác phẩm.
+ Ý nghĩa: Nói lỡ này không chỉ làm nổi bật sự lố bịch và sự thiếu hiểu biết của Khơ-lét-xta-cốp mà còn tăng cường yếu tố hài hước trong cuộc đối thoại. Nó cho thấy sự lúng túng và không đáng tin cậy của nhân vật, tạo nên sự châm biếm và hài hước.
Câu 4
Theo văn bản, tính cách nhân vật thị trưởng đã thể hiện như thế nào qua lời nói, cử chỉ và hành động của y?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý lời nói, hành động, cử chỉ của nhân vật thị trưởng
Lời giải chi tiết:
Tính cách nhân vật thị trưởng được thể hiện qua lời nói, cử chỉ và hành động:
+ Lời nói: khoe khoang về vị trí và quyền lực của mình, sự nịnh hót và thái đội cúi chạy đối với Khơ-lét-xta-cốp. Ví dụ, y thường nhấn mạnh quyền lực và vai trò của mình trong việc điều hành công việc của thành phố...
+ Cử chỉ: kính cẩn và nhún nhường , bối rối và run rẩy trước Khơ-lét-xta-cốp. Ví dụ như khi y đứng dậy và cố gắng thể hiện sự tôn trọng đối với Khhlestakov...
+ Hành động: ra sức dàn xếp các cuộc gặp gỡ, tiệc tùng và các hoạt động nhằm làm hài lòng Khơ-lét-xta-cốp, y thay đổi hành động của mình dựa trên tình huống và tình cảm của Khơ-lét-xta-cốp. Khi y nghĩ rằng Khhlestakov có thể là một thanh tra, y cố gắng làm mọi cách để giữ gìn hình ảnh của mình và bảo vệ quyền lực của mình.
Câu 5
Qua việc đọc văn bản, hãy bình luận về nhận định sau trong SGK: "Quan thanh tra" không chỉ là vở hài kịch đả kích “tất cả những gì tệ hại của nước Nga đã thế kỉ XIX, mà còn khơi dậy nỗi đau về sự tồn tại và niềm hi vọng vào một cuộc sống tốt đẹp hơn..”
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên, đọc kĩ nhận định
Vận dụng kiến thức về thao tác bình luận
Lời giải chi tiết:
- Đả kích những tệ hại của xã hội:
+ Vở kịch phê phán sâu sắc sự tham nhũng và sự lợi dụng quyền lực của các quan chức. Các nhân vật như Thị trưởng và các quan chức trong vở kịch chỉ biết đến lợi ích cá nhân và thường xuyên làm việc bất chính. Thị trưởng và các quan chức của thành phố Vôi-a-gi-rốp-ca là những đại diện của một xã hội địa phương bị phân hóa, tham nhũng và kém phát triển. Vở kịch làm nổi bật sự chênh lệch giữa hình ảnh bề ngoài và thực tế bên trong của xã hội.
- Khơi dậy nỗi đau và niềm hy vọng
+ Vở kịch khiến người xem cảm nhận được nỗi đau của việc sống trong một xã hội mà sự công bằng và đạo đức bị lãng quên. Nó phản ánh sự bức xúc và thất vọng của người dân khi phải đối mặt với sự tha hóa và sự kém cỏi của hệ thống quan chức.
+ Mặc dù Quan thanh tra chủ yếu mang tính hài kịch, nó cũng tạo cơ hội cho người xem suy ngẫm về khả năng thay đổi. Bằng cách chỉ trích các vấn đề hiện tại, vở kịch khuyến khích khán giả nghĩ đến một tương lai tốt đẹp hơn, nơi mà sự công bằng và đạo đức sẽ được phục hồi.
+ Thông qua sự châm biếm và phê phán, Gogol kêu gọi sự cải cách trong xã hội và hệ thống quan chức. Vở kịch thúc giục khán giả và những người có trách nhiệm phải thay đổi để xây dựng một xã hội công bằng hơn.
+ Nhận định từ SGK về Quan thanh tra là rất đúng đắn. Vở kịch không chỉ là một tác phẩm hài kịch sắc sảo phê phán sự tha hóa của xã hội mà còn tạo ra một không gian để suy ngẫm về sự tồn tại và hy vọng vào một tương lai tốt đẹp hơn. Gogol dùng sự châm biếm và cường điệu để khơi gợi cảm xúc và suy nghĩ của khán giả, từ đó mở đường cho những thay đổi tích cực trong xã hội.
Giải bài tập 2 trang 26 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc đoạn trích sau trong hài kịch Quan thanh tra trả lời các câu hỏi:
HỒI THỨ NHẤT
Một căn phòng nhà thị trưởng
LỚP 1
(Thị trường, quản lí viện tế bán, kiểm học, chánh án, cảnh sát trường, thấy thuốc, hai quên những lính cảnh sát)
THỊ TRƯỜNG – Thưa các ngài, tôi mời các ngài đến để báo một tin hết sức không một ý quan vui. Có quan thanh tra đến chỗ chúng ta.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH (AMMOS PHIODOROVITR) - Thế nào! Quan thanh tra à?
ÁC-TÊ-MI PHI-LÍP-PÔ-VÍCH (ARTEMI PHILIPPOVITR) – Thế nào! Quan thanh tra à?
THỊ TRƯỞNG – Quan thanh tra ở Pê-téc-bua (Peterburg) đến, một cách bí mật lại mang theo mật lệnh.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH – Thế mới chết!
ÁC-TÊ-MI PHI-LIP-PO-VÍCH – Thật là đang yên đang lành bỗng sinh chuyện thế đấy!
LU-KÍCH (LUKA LUKITR) – Lại mang theo cả mặt lệnh kia ư, hở trời!
THỊ TRƯỞNG – Hình như tôi đã cảm thấy việc đó từ trước: suốt đêm qua, tôi nằm mơ thấy hai con chuột cống kì quái. Thật tôi chưa hề thấy loại chuột nào như thế bao giờ nó đen mà to lớn lạ thường! Chúng bò tới, đánh hơi, rồi biến mất. Đây, tôi đọc cho các ngài nghe bức thư này của An-đrây 1-va-nô-vích Tchi-mu-khốp (Andrei Ivanovitr Trmukhov) gửi cho tôi; ông Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích, ông biết lão ta chứ gì! Lão ta viết thế này: "Bạn thân mến, bạn cánh hầu và ân nhân" (lầm bầm, đưa mắt đọc lướt bức thư)... "và bảo C cho đằng ấy biết.. À! Đây. “Mình cấp tốc báo thêm cho đằng ấy biết là có một viên quan đã tới, ông ta có lệnh phải xem xét toàn tỉnh và đặc biệt là quận nhà (giơ ngón tay lên một cách có ý nghĩa). Mình đã biết việc này từ những người đăng tin nhất, mặc dù ông 5 ta già làm thường dân. Theo như mình biết, đằng ấy cũng như mọi người, thường hay phạm lỗi vặt, vì đằng ấy là người thông minh, không ưa bỏ qua những món lọt đến tay..." (ngừng lại), không sao, ở đây là cánh ta cả... "cho nên mình khuyên đằng ấy nên hết sức đề phòng, bởi vì ông ta có thể đến bất cứ lúc nào, nếu không phải là đã đến rồi, là lần quất ở đâu một cách bí mật... Hôm qua, mình..." Hừ, đoạn này là việc gia đình: "Em gái mình, An-na Ki-ri-lốp-na (Anna Kirllovna) cùng chồng nó đã đến thăm chúng mình; I-van Ki-ri-lô-vích (Ivan Kirillovitr) béo ra nhiều lắm và vẫn chơi vi-ô-lông như thường", mu v.v... Đấy, tình hình như thế đấy.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH – Phải, tình hình như vậy... thật là không bình thường, rất không bình thường. Không dưng sao lại có chuyện được.
LU-CA LU-KÍCH – Sao lại có chuyện ấy nhỉ, ông An-tôn An-tô-nô-vích (Anton Antonovitr)? Quan thanh tra đến vùng ta làm quái gì nhỉ?
THỊ TRƯỞNG – Còn sao nữa! Rõ ràng là số kiếp xui khiến ra như vậy! (Thở dài). Từ trước tới nay, ơn nhờ Bề trên, họ mò đến các thành phố khác. Bây giờ đến lượt vùng chúng ta đây.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH - Ông An-tôn An-tô-nô-vích, tôi nghĩ rằng việc Di này có nguyên nhân gì lắt léo, hơn nữa, nguyên nhân chính trị đây. Như thế nghĩa là: nước Nga... phải... nước Nga muốn tiến hành chiến tranh; và trên Bộ, các ngài thấy - đấy, cử một vị quan đến điều tra xem có vụ phản bội nào không.
THỊ TRƯỜNG – Hừ, sao lại nghĩ xa xôi như thế! Thế mà cũng là con người thông minh! Trong một thành phố ở quận như thế này mà lại xảy ra vụ phản bội! Làm như đây là một thị trấn ở biên giới không bằng! Từ ở đây, dù có phốc lên ngựa mà phi đến ba năm cũng chưa tới một nước ngoài nào cả.
AM-MỐT PHI-Ô-ĐÔ-RÔ-VÍCH – Không, tôi nói rằng, về việc đó ông không... Ông không... Quan trên có con mắt sáng suốt tỉnh vì: dù là nơi xa xôi, quan trên cũng phải để tâm tới chứ.
THỊ TRƯỞNG - Để tâm hay chẳng g để tâm, không biết, nhưng thưa các ngài, tôi đã báo trước cho các ngài biết tin rồi. Coi chừng đấy, các ngài ạ! Về phần tôi, tôi đã xếp đặt một số việc, tôi cũng khuyên các ngài nên làm như vậy. Nhất là ông, ông Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích! Không còn nghi ngờ gì nữa, quan thanh tra qua đây sẽ muốn xem xét trước tiên các nhà tế bần do ông quản lí; vì vậy, ông phải làm thế nào cho mọi cái đều được lịch sự dễ coi: mũ vải của bệnh nhân phải sạch sẽ, bệnh nhân không được ăn mặc nhem nhuốc như thợ rèn ấy, như chúng thường ăn mặc ở nhà.
AC-TÊ-MI PHI-LÍP-PÔ-VÍCH – Được, vấn đề đó cũng không đáng ngại lắm! Được, có thể kiếm mũ vài cho họ đội, mũ sạch.
(Ni-cô-lai Gô-gôn (Nikolai Gogol), Quan thanh tra, Vũ Đức Phúc dịch, NXB Lao động - Trung tâm Văn hoá Ngôn ngữ Đông Tây, Hà Nội, 2009, tr.9 – 10)
Câu 1
Dựa vào nội dung tóm tắt tác phẩm trong SGK, hãy cho biết đoạn trích nằm ở phần nào của vở kịch
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích nằm ở hồi thứ nhất của vở kịch.
Câu 2
Miêu tả tình huống kịch trong đoạn trích. Trong tình huống đó, các nhân vật đã thể hiện thái độ (qua lời đối thoại, cử chỉ, hành động) ra sao? Thái độ đó cho chúng ta biết những gì về tính cách các nhân vật?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, chú ý tình huống kịch
Chú ý thái độ của các nhân vật, từ đó suy ra tính cách nhân vật
Lời giải chi tiết:
Tình huống:
+ Thông báo về quan thanh tra: Thị trưởng thông báo cho các quan chức rằng có một quan thanh tra từ Pê-téc-bua (Peterburg) đến với một mật lệnh, và họ cần chuẩn bị cho cuộc thanh tra. Sự xuất hiện của quan thanh tra được thông báo một cách bí mật và gấp gáp, khiến các nhân vật hoang mang và lo lắng.
+ Phản ứng lo lắng: Các nhân vật thể hiện sự lo lắng và bất an về cuộc thanh tra. Họ dự đoán những điều tồi tệ và lo sợ rằng quan thanh tra sẽ kiểm tra và phát hiện các vấn đề trong quản lý của họ.
+ Thảo luận về các biện pháp chuẩn bị: Thị trưởng chỉ đạo các quan chức, đặc biệt là Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích, phải chuẩn bị cho cuộc thanh tra, đặc biệt là làm cho các cơ sở của ông sạch sẽ và gọn gàng.
|
Nhân vật |
Thái độ của nhân vật |
Nhận xét |
|
Thị trưởng |
- Lời đối thoại: thông báo về việc quan thanh tra sắp đến và cảnh báo các quan chức cần chuẩn bị. Ông thể hiện sự lo lắng và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc chuẩn bị tốt. - Căng thẳng và bồn chồn, tỏ ra nghiêm túc trong việc cảnh báo và chỉ đạo quan chức |
Thị trưởng là người lo lắng và cẩn thận, nhưng cũng có phần bất an và thiếu tự tin. Ông cảm thấy áp lực vì sắp có sự kiểm tra và lo sợ về kết quả. |
|
Am-mốt Phi-ô-đô-rô-vích và Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích |
- Lo lắng và bất ngờ vì sự xuất hiện của thanh tra. - Am-mốt phản ứng bằng sự hoảng hốt, trong khi Ác-tê-mi suy đoán rằng có thể có nguyên nhân chính trị liên quan. |
Các nhân vật này có phần hoảng sợ và thiếu tự tin. Họ thể hiện sự bối rối và lo lắng về những gì có thể xảy ra khi quan thanh tra đến. |
|
Luka Lukich |
- ngạc nhiên và lo lắng về việc có cả mật lệnh đi kèm với quan thanh tra. - Ông có phần hoang mang và bối rối, không hiểu rõ lý do quan thanh tra đến. |
Luka Lukich có vẻ đơn giản và thiếu hiểu biết về tình hình, phản ứng của ông cho thấy sự lo lắng và thiếu thông tin. |
|
Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích |
- đề xuất một lý do xa vời về việc nước Nga có thể đang chuẩn bị cho chiến tranh, cho thấy sự lo lắng và tưởng tượng quá mức.
|
có xu hướng suy diễn và tưởng tượng, cho thấy sự bất an và thiếu khả năng xử lý tình huống thực tế. |
Câu 3
Xác định các thủ pháp trào phúng được sử dụng trong đoạn trích. Lựa chọn phân tích một trong các thủ pháp đó.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về các thủ pháp trào phúng
Lời giải chi tiết:
+ Làm quá vấn đề
+ Sự hoang mang và thiếu hiểu biết
+ Sự đối lập giữa sự nghiêm trọng và thực tế
Sự hoang mang và thiếu hiểu biết là một thủ pháp trào phúng quan trọng trong đoạn trích. Đây là cách thể hiện rõ nhất tính chất hài hước trong tình huống kịch.
Phản ứng của các nhân vật: Các nhân vật phản ứng với sự hoang mang và thiếu thông tin khi nghe tin về quan thanh tra. Họ đoán mò về lý do của cuộc thanh tra, làm cho tình hình trở nên phức tạp và hài hước. Luka Lukich không hiểu lý do tại sao lại có cả mật lệnh, trong khi Ác-tê-mi suy đoán về nguyên nhân chính trị không thực tế.
=> Thủ pháp này tạo ra một bức tranh hài hước về các quan chức địa phương. Sự thiếu hiểu biết và lo lắng của họ về cuộc thanh tra, cùng với những lý do không thực tế mà họ đưa ra, làm nổi bật sự bất lực và sự thiếu năng lực của họ trong việc quản lý công việc. Điều này không chỉ tạo ra sự hài hước mà còn chỉ trích sự yếu kém và thiếu năng lực của các quan chức.
Câu 4
Phân tích ngôn từ hài kịch trong lời thoại của nhân vật thị trưởng ("Hình như ... như thế đấy.").
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về ngôn từ hài kịch
Đọc kĩ văn bản và chú ý lời thoại của nhân vật thị trưởng
Lời giải chi tiết:
a. Sự hoang mang và không hợp lý
+ “Hình như tôi đã cảm thấy việc đó từ trước: suốt đêm qua, tôi nằm mơ thấy hai con chuột cống kì quái...”
=> Thị trưởng bắt đầu bằng cách thể hiện sự hoang mang và cảm giác mơ hồ về tình hình. Việc ông ta cảm thấy “việc đó từ trước” và liên kết nó với giấc mơ về “hai con chuột cống kì quái” là một cách phóng đại không có căn cứ, nhằm làm rõ sự thiếu hiểu biết và thần thoại hóa của ông ta về vấn đề. Điều này tạo ra một hiệu ứng hài hước, vì giấc mơ không có liên quan gì đến thực tế, nhưng Thị trưởng lại coi đó là một điềm báo nghiêm trọng.
b. Lời đọc thư bất thường
+ “Đây, tôi đọc cho các ngài nghe bức thư này của An-đrây 1-va-nô-vích Tchi-mu-khốp gửi cho tôi; ông Ác-tê-mi Phi-líp-pô-vích, ông biết lão ta chứ gì!”
=> Thị trưởng tiếp tục bằng cách đọc một phần bức thư, nhưng lại lạc đề và lầm bầm không rõ ràng. Ông ta đọc một cách không mạch lạc và ngắt quãng, làm cho thông tin trong bức thư trở nên khó hiểu và hài hước. Việc ông ta lạm dụng danh tính của người gửi thư và chỉ trích những điều không cần thiết làm nổi bật sự kém cỏi trong việc quản lý thông tin của Thị trưởng.
c. Phóng đại và châm biếm
+ “Mình đã biết việc này từ những người đăng tin nhất... và bảo C cho đằng ấy biết... cho nên mình khuyên đằng ấy nên hết sức đề phòng...”
=> Thị trưởng phóng đại sự nghiêm trọng của tình hình và lời khuyên của ông ta trở nên hài hước bởi vì sự sợ hãi vô lý và thái độ không cần thiết của ông. Việc ông ta nói “có thể đến bất cứ lúc nào” và “nếu không phải là đã đến rồi” cho thấy sự lo lắng thái quá và không cần thiết.
d. Lời kể chuyện gia đình
+ “Hôm qua, mình... Hừ, đoạn này là việc gia đình: ‘Em gái mình, An-na Ki-ri-lốp-na... I-van Ki-ri-lô-vích...’”
=> Lời kể về gia đình và những vấn đề không liên quan như việc em gái của Thị trưởng và chồng của cô ấy đi thăm là một chi tiết thêm vào không cần thiết. Sự chuyển hướng này làm tăng thêm tính hài hước vì nó thể hiện sự lạc đề và làm giảm mức độ nghiêm trọng của tình huống được đề cập.
Tác dụng:
a. Chỉ trích sự kém cỏi và thiếu hiệu quả
Lời thoại của Thị trưởng chỉ trích sự kém cỏi và thiếu hiệu quả trong quản lý của các quan chức. Sự hoang mang và cách giải quyết vấn đề không hợp lý của ông ta làm nổi bật sự yếu kém trong sự lãnh đạo và quản lý, từ đó chỉ trích hệ thống quan chức và sự quản lý địa phương.
b. Tạo ra hiệu ứng hài hước
Sự pha trộn giữa giấc mơ kì quái, sự đọc thư lộn xộn và những vấn đề gia đình không liên quan tạo ra một hiệu ứng hài hước và phản ánh sự không nghiêm túc của Thị trưởng. Sự đối lập giữa thực tế và sự lo lắng của Thị trưởng làm tăng thêm tính hài hước của tình huống.
c. Phản ánh xã hội và chính trị
Lời thoại này phản ánh sự thiếu chuyên nghiệp và sự quan liêu trong hệ thống quan chức của thời kỳ đó. Thị trưởng, như một biểu tượng của sự quản lý kém, đóng vai trò trong việc chỉ trích xã hội và hệ thống quan liêu qua sự thiếu hiệu quả và tính cách hài hước của ông.
Câu 5
Theo Tri thức ngữ văn trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 130), “Tiếng cười hài kịch cất lên từ sự vênh lệch, không tương thích giữa mục đích và phương tiện thực hiện, bản chất và biểu hiện, hành động và hoàn cảnh, tham vọng cá nhân và các khả năng thực hiện,... tức là từ những cái ngộ nghĩnh, ngược đời, bất hợp lí.” Sự “vênh lệch, không tương thích” này đã được thể hiện trong đoạn trích như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tri thức và áp dụng để phân tích đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Sự “vênh lệch, không tương thích” trong đoạn trích từ vở hài kịch Quan thanh tra của Nikolai Gogol thể hiện rõ nét qua những điểm sau:
1. Sự vênh lệch giữa thực tế và sự lo lắng
+ Thực tế: Theo bức thư của Andrei Ivanovich, quan thanh tra đến để xem xét tình hình, nhưng không có thông tin cụ thể nào cho thấy tình hình ở quận này có gì đặc biệt nghiêm trọng.
+ Sự lo lắng: Thị trưởng và các nhân vật khác lo lắng quá mức và tưởng tượng ra những điều không có thực, như việc có thể xảy ra vụ phản bội chính trị, mặc dù thực tế thì không có dấu hiệu nào cho thấy điều đó. Sự lo lắng thái quá này phản ánh sự “vênh lệch” giữa thực tế và phản ứng của các nhân vật.
2. Sự vênh lệch giữa thực tế và hành động
+ Hành động: Thị trưởng và các quan chức khác bắt đầu chuẩn bị cho sự xuất hiện của quan thanh tra bằng cách trang trí lại các cơ sở, cải thiện hình ảnh một cách vội vã và không cần thiết.
+ Biểu hiện: Họ hành động như thể việc thanh tra là một sự kiện có tính chất cực kỳ nghiêm trọng, trong khi thực tế không có bằng chứng cho thấy sự cần thiết phải làm như vậy. Sự khác biệt này tạo ra một hiệu ứng hài hước, vì hành động của họ không tương xứng với thực tế của tình huống.
3. Sự vênh lệch trong tầm nhìn và sự thực
+ Tầm Nhìn: Các nhân vật trong đoạn trích, đặc biệt là Thị trưởng, tưởng tượng ra các vấn đề lớn như vụ phản bội chính trị hoặc chiến tranh, điều này không có cơ sở trong thực tế.
+ Sự Thực: Thực tế là việc thanh tra chỉ là một hành động kiểm tra thông thường. Sự “vênh lệch” này giữa tầm nhìn của các nhân vật và thực tế tạo ra sự hài hước, vì sự lo lắng và sự chuẩn bị của họ hoàn toàn không tương xứng với sự thật.
4. Sự vênh lệch trong việc đọc thư
+ Lời đọc thư: Thị trưởng đọc thư của Andrei Ivanovich một cách không rõ ràng và lạc đề, khiến cho thông tin trở nên khó hiểu và không liên quan.
+ Kỳ vọng: Người đọc kỳ vọng rằng thông tin trong thư sẽ giúp hiểu rõ tình hình, nhưng thực tế thì lời đọc của Thị trưởng lại làm cho thông tin trở nên nhầm lẫn và phức tạp hơn. Sự khác biệt này giữa kỳ vọng và thực tế làm nổi bật sự hài hước trong cách truyền đạt thông tin của Thị trưởng.
Giải bài tập 3 trang 28 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc lại phần tóm tắt hài kịch Quẫn và văn bản Giấu của trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 140-145) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Hãy cho biết vị trí của đoạn trích (văn bản Giấu của) trong kết cấu vở kịch.
Phương pháp giải:
Đọc lại phần tìm hiểu chung về đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Giấu của là đoạn tríchtừ Cảnh vào trò,nằm ở giữa của kết cấu vở kịch Quẫn, khi các xung đột và mâu thuẫn giữa các nhân vật đang ở đỉnh điểm
Câu 2
Phân tích ý nghĩa của nhan đề Quẫn.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề và đoạn trích
Rút ra nội dung chính của đoạn trích, từ đó nhận xét nhan đề
Lời giải chi tiết:
Nhan đề Quẫn phản ánh tình trạng bế tắc và căng thẳng mà các nhân vật trong vở kịch phải đối mặt. Nó biểu thị sự khó khăn trong việc giải quyết xung đột và mâu thuẫn, cũng như sự căng thẳng trong các mối quan hệ và nội tâm của các nhân vật. Tuy nhiên, nhan đề cũng cho thấy sự giải quyết và thoát khỏi tình trạng bế tắc qua các tình huống hài hước và sáng tạo, dẫn đến một kết thúc tích cực và hài hòa.
Câu 3
Dựa vào tri thức ngữ văn đã học về hành động trong hài kịch và kết cấu hài kịch, hãy tìm trong đoạn trích các dẫn chứng cho thấy các nhân vật hài kịch đã hiện ra “với thói tật và những toan tính, mưu mô, ảo tưởng của họ”.
Phương pháp giải:
Đọc lại tri thức về hành động trong hài kịch và kết cấu hài kịch
Đọc kĩ đoạn trích và áp dụng phần tri thức ngữ văn để hoàn thành yêu cầu
Lời giải chi tiết:
- Thói tật mưu mô của nhân vật:
+ Ông Đại Cát nói: "Để trong két, con Trinh nó mở ra luôn, có bao nhiêu nó biết cả..." thể hiện sự lo lắng về việc tài sản sẽ bị phát hiện nếu cất trong két.
+ Bà Đại Cát đề xuất: "Hay là treo nó lên buồng ngủ?" và ông Đại Cát phản đối, cho rằng việc treo ảnh sẽ không an toàn: "Ảnh đang treo ở dưới này lại vác lên đấy, có khác gì lạy ông tôi ở đây không?"
- Sự ảo tưởng và bất lực của nhân vật:
+ Cả hai vợ chồng đều có những ảo tưởng về sự an toàn của các phương án giấu của. Bà Đại Cát lo lắng: "Thì cứ cất trong két ở ngay đầu giường mình có hơn không!" mà không nhận ra rằng tài sản vẫn có thể bị phát hiện.
+ Họ đề xuất những phương án không thực tế như chôn tài sản hoặc nhét vào các tấm ảnh để che giấu. Ông Đại Cát còn chế giễu: "Được rồi, cho vào ảnh mẹ... Rỡn."
- Hành động vụng về và tính cách hài hước:
+ Việc ông bà Đại Cát cố gắng khiêng kẻ và làm rơi đèn trong bóng tối tạo ra tình huống hài hước, phản ánh sự bất lực và vụng về của họ khi thực hiện mưu mô.
+ Sự việc bà Đại Cát kêu to và ông Đại Cát cào vào mặt vợ khi mò mẫm trong bóng tối là những chi tiết tạo nên tiếng cười, phản ánh sự thiếu khéo léo và vụng về của họ.
Câu 4
Phần Tri thức ngữ văn trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 130) đã liệt kê một số tiếng cười hài kịch như: tiếng cười bông đùa, hài hước; tiếng cười châm biếm mỉa mai; tiếng cười lật tẩy, tố cáo, đả kích;... Theo bạn, tiếng cười được thể hiện trong đoạn trích thuộc loại nào? Tại sao?
Phương pháp giải:
Đọc lại phần tri thức ngữ văn
Đọc kĩ đoạn trích, đưa ra kết luận và lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
Tiếng cười trong đoạn trích này chủ yếu là tiếng cười bông đùa, hài hước và tiếng cười châm biếm mỉa mai, với sự kết hợp của những yếu tố vụng về, mâu thuẫn, và ảo tưởng của các nhân vật.
Vì: Các hành động vụng về của ông bà Đại Cát khi cố gắng giấu tài sản trong bóng tối, như việc làm rơi đèn và va vào nhau, tạo ra những tình huống hài hước. Ví dụ, bà Đại Cát bị ông Đại Cát cào vào mặt khi họ mò mẫm trong đêm, và sự lúng túng của họ khi bật đèn là những tình huống gây cười.
Sự bất lực và không thực tế: Việc ông bà Đại Cát đưa ra các phương án giấu của không thực tế như treo ảnh hay chôn tài sản, cùng với những cuộc tranh luận của họ, cũng mang lại tiếng cười bông đùa và hài hước. Ví dụ, việc ông Đại Cát nói: "Được rồi, cho vào ảnh mẹ... Rỡn" phản ánh sự hài hước trong cách xử lý tình huống.
Giải bài tập 4 trang 30 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc đoạn trích sau trong hài kịch Quẫn (Hồi năm) và trả lời các câu hỏi:
ÔNG ĐẠI CÁT – Dứt khoát. Thôi đủ rồi... Mời ông bước!
BA LƯỜNG – Nhìn chéo. Trình Hì... dạ bước ạ! Phất tay ra hiệu cho hai người khiêng áo quan. Ta khiêng đi thôi, hai bác. Cổ áo quan được khiêng đi.
CỤ ĐẠI LỢI – Vội bước theo ngăn lại. Với Ba Lường. Khiêng đi đâu? Các người thiêng đi đâu? Quay vào doạ bố con ông Đại Cát. Bố con anh báo hiếu tôi như thế đấy phỏng? Lại quay ra Ba Lường. Ông Ba, cỗ hậu sự của tôi, của tôi... tôi nhận ... Tôi đưa gửi lên chùa ngay bây giờ. Hấp tấp chạy theo cổ áo quan.
[...]
THUỶ TRINH - Tiến lại bố. Có thế này con chắc cậu mới thấy, nên đi theo con đường nào, có phải không ạ?
ÔNG ĐẠI CÁT - Nhìn Trinh, rồi nhìn Hùng. Cậu hiểu rồi... Đứng lên, vỗ vai Hùng. Đúng là phải cải tạo thật... phải cải tạo tất, anh ạ...
HÙNG - Nhìn nhanh Trinh, cười với ông Đại Cát. Để con lái xe đưa cậu mợ lên chơi bác Tứ Hải. Cậu mợ sẽ thấy bác Tứ Hải được giúp đỡ và cải tạo như thế nào.
ÔNG ĐẠI CÁT - Ô... phải... phải... Nói với vợ, từ này vẫn lúng túng với gói vàng. Ta đi lên tham quan trên bác Tứ Hải chứ mợ!
BÀ ĐẠI CÁT - Choáng choàng. Ấy, để tôi cất cái này đi đã! Định vào.
ÔNG ĐẠI CÁT – Này... này mợ... Còn phải cất đi đâu nữa. Cứ giao cho con...
THUÝ TRINH - Sao lại giao cho con?
ÔNG ĐẠI CÁT – Ô, thì tương lai là của các anh các chị tất chứ sao!
THUÝ TRINH – Nhìn Hùng tủm tỉm. Thưa cậu, tương lai là của chúng con. Nhưng tương lai chúng con lại không cần đến cái thứ... vàng này!
ÔNG ĐẠI CÁT – Ở... ờ phải. Đúng rồi! Tương lai các cô các cậu thì cần gì đến vàng thật... Với vợ. Đúng là tương lai các con chúng nó không cần đến vàng... Đúng là như thế... Mình quẫn thật! Cười hề hề với vợ.
Hùng Trinh nhìn nhau. Trong khi đó u Trinh đi mở toang các cánh cửa phòng. Ánh sáng trời ùa vào chỗ Hùng – Trinh đứng. U Trinh hồ hởi tiến lại, kéo hai người sát vào nhau, sung sướng cười nheo nheo cặp mắt.
Màn hạ hết trò.
(Nhiều tác giả, Nhà hoạt động sân khấu Lộng Chương - Sống để cho đil, NXB Sân khấu, Hà Nội, 2021, tr. 86 - 88)
Câu 1
Dựa vào nội dung tóm tắt tác phẩm trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 145), hãy xác định vị trí của đoạn trích trong vở kịch.
Phương pháp giải:
Đọc lại phần tóm tắt tác phẩm trong sgk
Lời giải chi tiết:
Hồi năm: Đoạn trích này nằm trong hồi năm, hồi cuối cùng của vở kịch, nơi mà các nhân vật chính đối diện với những vấn đề và tình huống cuối cùng trước khi kết thúc câu chuyện. Đây là thời điểm các vấn đề được giải quyết và các nhân vật có những bước chuyển biến lớn trong cách nhìn nhận và hành động của mình.
Câu 2
Dựa vào các kiến thức đã học về nhân vật hài kịch, hãy chia các nhân vật trong đoạn trích thành các nhóm và lí giải sự phân chia của bạn.
Phương pháp giải:
Đọc lại kiến thức về nhân vật trong hài kịch
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
1. Nhóm nhân vật chính
+ Ông Đại Cát: Nhân vật đại diện cho sự cứng nhắc, bảo thủ, và thường phản ứng chậm chạp trước các tình huống mới. Ông có một số đặc điểm của nhân vật hài kịch, như sự bối rối và những phản ứng không phù hợp với thực tế. Trong đoạn trích, ông vừa thể hiện sự ngạc nhiên trước các ý kiến của Thủy Trinh và Hùng, vừa không nhận thức được sự vô ích của việc giữ lại gói vàng.
+ Bà Đại Cát: Vợ của ông Đại Cát, cũng đóng vai trò phụ nhưng thể hiện sự bối rối tương tự và lo lắng về gói vàng. Bà có những phản ứng hài hước khi cố gắng cất gói vàng, và điều này tạo thêm sự hài hước trong tình huống.
2. Nhóm nhân vật phụ
+ Thủy Trinh: Nhân vật đại diện cho sự thông minh và tinh tế. Thủy Trinh biết cách dùng sự hài hước và sự khéo léo để làm sáng tỏ tình huống, khiến ông Đại Cát phải nhận ra sự vô nghĩa của việc giữ gói vàng. Thủy Trinh cũng là người gợi ý cho ông Đại Cát tham quan bác Tứ Hải, và điều này phản ánh sự khéo léo trong việc dẫn dắt ông Đại Cát đến những nhận thức mới.
+ Hùng: Là nhân vật phụ giúp Thủy Trinh trong việc điều chỉnh tình huống. Hùng thể hiện sự thông minh và tinh tế qua việc hỗ trợ Thủy Trinh và đồng thời tạo ra sự hài hước bằng cách cười và chỉ dẫn ông Đại Cát. Hùng và Thủy Trinh phối hợp nhịp nhàng để làm cho ông Đại Cát phải thay đổi quan điểm của mình.
- Phân loại dựa trên cơ sở những gì đã được đọc về nhân vật, nội dung tóm tắt vở kịch và nội dung đoạn trích.
Câu 3
Phân tích tính chất gây cười của chi tiết cái áo quan của cụ Đại Lợi.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Chú ý chi tiết cái áo quan của cụ Đại Lợi
Lời giải chi tiết:
+ Tình huống bất ngờ và mâu thuẫn: Cụ Đại Lợi cố gắng ngăn không cho cái áo quan của mình bị khiêng đi, mặc dù rõ ràng là ông không còn sống để sử dụng nó.Sự bất hợp lý này gây cười vì nó vượt ra ngoài những quy chuẩn bình thường và hợp lý.
+ Nhầm lẫn về sự quan trọng của áo quan: Cụ không hiểu rằng việc giữ lại chiếc áo quan không còn có ý nghĩa gì nữa. Ông dường như không nhận ra rằng cái áo quan chỉ là một phần của quá trình hậu sự và không còn cần thiết nữa. Sự nhầm lẫn này làm nổi bật sự kém cỏi và vô lý của hành động ông.
+ Sự tương phản giữa các nhân vật: Sự bối rối và lo lắng của cụ Đại Lợi về chiếc áo quan đối lập rõ ràng với thái độ bình tĩnh và thông minh của các nhân vật khác như Thủy Trinh và Hùng.
=> Chi tiết cái áo quan của cụ Đại Lợi mang lại sự gây cười chủ yếu thông qua tình huống bất ngờ, sự nhầm lẫn và phản ứng quá mức của nhân vật. Sự tương phản giữa hành động của cụ Đại Lợi và thái độ bình tĩnh của các nhân vật khác, cùng với châm biếm về các giá trị truyền thống, tạo ra một cái nhìn hài hước và sâu sắc về các chủ đề của vở kịch.
Câu 4
Hùng Trình nhìn nhau. Trong khi đó u Trình đi mở toang các cánh cửa phòng. Ánh sáng trời ùa vào chỗ Hùng - Trình đứng. U Trinh hồ hởi tiến lại, kéo hai người sát vào nhau, sung sướng cười nheo nheo cặp mắt.
Theo bạn, tác giả muốn gửi gắm thông điệp gì qua đoạn này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Thông điệp:
- Sự đoàn kết và tình yêu thương gia đình: Hình ảnh u Trinh kéo Hùng và Trinh sát vào nhau, cùng với nụ cười sung sướng, thể hiện sự đoàn kết và tình yêu thương trong gia đình.
- Niềm vui và sự lạc quan: Nụ cười của u Trinh và hành động kéo hai người sát vào nhau thể hiện niềm vui và sự lạc quan. Dù có những khó khăn, nhưng tình cảm gia đình và sự lạc quan sẽ giúp vượt qua tất cả.
Câu 5
Thông qua đoạn trích trên, hãy chứng minh nhận định: “Xung đột trong hài kịch dù căng thẳng đến mấy, cũng luôn có khả năng được giải quyết theo hướng cái xấu, cái không hoàn thiện bị phủ nhận, cái tốt đẹp, tiến bộ được khẳng định.” (SGK Ngữ văn 12, tập một, tr. 131).
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích và nhận định
Chú ý những chi tiết quan trọng và tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
+ Xung đột mâu thuẫn: Đoạn trích thể hiện sự căng thẳng và mâu thuẫn giữa các nhân vật, đặc biệt là giữa ông Đại Cát và các nhân vật khác. Cụ Đại Lợi, người lo lắng và phản đối việc di chuyển cái áo quan, tạo ra mâu thuẫn trong tình huống. Sự căng thẳng được tăng cường khi ông Đại Cát cũng phản ứng mạnh mẽ về vấn đề này.
+ Giải pháp và kết quả tích cực:
Ánh sáng trời ùa vào khi U Trinh mở cánh cửa phòng và hành động vui mừng của các nhân vật (Hùng, Thủy Trinh, và U Trinh) cho thấy rằng xung đột đã được giải quyết một cách thành công. Ông Đại Cát và bà Đại Cát nhận ra rằng việc giữ lại gói vàng là không cần thiết và đã đồng ý tham quan bác Tứ Hải, điều này phản ánh sự thay đổi tích cực trong quan điểm của họ.
Khẳng định cái tốt đẹp và tiến bộ: Sự vui mừng của các nhân vật và ánh sáng trời biểu thị rằng cái tốt đẹp và tiến bộ đã được khẳng định. Ông Đại Cát cuối cùng nhận thức được sự vô lý của việc giữ lại gói vàng và đồng ý với cách nhìn nhận mới. Điều này cho thấy rằng cái xấu (sự bảo thủ và không thực tế) đã bị phủ nhận, và cái tốt đẹp (sự thông minh, tinh tế, và tiến bộ) đã được khẳng định.
Giải bài tập 5 trang 30 sách bài tập văn 12 - kết nối tri thức
Đọc lại phần tóm tắt vở kịch Thợ cạo thành Xê-vin (Séville) và văn bản Cẩn thận hão trong SGK Ngữ văn 12, tập một (tr. 153- 157) và trả lời các câu hỏi:
Câu 1
Theo bạn, nội dung của văn bản có phù hợp với nhận định về “kết cấu có hậu, vui vẻ” của hài kịch trong phần Tri thức ngữ văn hay không? Vì sao?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra nội dung
Lời giải chi tiết:
Cả hai văn bản đều thể hiện rõ những đặc trưng của hài kịch, đó là việc khai thác những tình huống trớ trêu, bất ngờ và hài hước để mang lại tiếng cười cho khán giả. Mặc dù có những khó khăn hoặc thử thách trong suốt câu chuyện, cuối cùng, tất cả đều được giải quyết theo cách có hậu, mang lại niềm vui và sự hài lòng cho các nhân vật cũng như người đọc.
Do đó, nội dung của cả hai văn bản này đều phù hợp với nhận định về "kết cấu có hậu, vui vẻ" của hài kịch. Hài kịch thường nhằm mục đích mang lại niềm vui, giải trí và kết thúc với sự hòa giải hoặc một kết quả tích cực, điều mà cả "Thơ cao thành Xê-vin (Séville)" và "Cẩn thận hão" đều thể hiện rõ ràng.
Câu 2
Xác định tình huống gây cười trong văn bản Cẩn thận hão.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, đọc lại tri thức về tình huống gây cười
Lời giải chi tiết:
- Tình huống gây cười:
+ Sự mỉa mai: Tên lừa đảo lợi dụng sự háo danh, sĩ diện của thầy đồ để lừa gạt.
+ Sự ngây thơ, cả tin: Thầy đồ dễ dàng tin vào những lời hứa hẹn của tên lừa đảo.
+ Sự lố bịch: Thầy đồ "cẩn thận" một cách thái quá, nhưng lại không hề đề phòng những kẻ lừa đảo.
Câu 3
Phân tích một trong các thủ pháp trào phúng được sử dụng trong văn bản.
Phương pháp giải:
Đọc lại kiến thức về thủ pháp trào phúng
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Các thủ pháp trào phúng được tác giả sử dụng trong đoạn trích "Cẩn thận hão" của Bô-mác-se:
- Phóng đại:
+ Tác giả phóng đại tính cách, hành động của nhân vật để làm nổi bật sự lố bịch, hài hước.
+ Ví dụ: Thầy đồ được miêu tả là "kẻ sĩ hão danh, hay khoe khoang", "dốt nát", "ngây thơ", "dễ tin người".
- So sánh:
+ So sánh nhân vật với những vật dụng tầm thường để hạ thấp giá trị của nhân vật.
+ Ví dụ: So sánh thầy đồ với "con lừa", "con bò".
- Châm biếm:
+Sử dụng những lời khen ngợi, mỉa mai để vạch trần sự giả dối, lố bịch của nhân vật.
+ Ví dụ: "Thầy quả là một bậc thầy uyên bác", "Thầy thật là một người tài ba".
- Nghệ thuật đối lập:
+ Đối lập giữa lời nói và hành động, giữa vẻ bề ngoài và bản chất của nhân vật.
+ Ví dụ: Thầy đồ luôn tỏ ra uyên bác nhưng thực ra lại chẳng biết gì.
- Ngôn ngữ trào phúng:
+ Sử dụng những từ ngữ có tính mỉa mai, châm biếm.
+ Ví dụ: "kẻ sĩ hão danh", "dốt nát", "ngây thơ", "dễ tin người".
- Tác dụng:
+ Tạo tiếng cười cho người đọc, người xem.
+ Phê phán những tính cách xấu xa, lố bịch trong xã hội.
+ Giáo dục con người sống trung thực, cẩn thận, không nên hão danh, sĩ diện.
- Ví dụ:
+ Khi tên lừa đảo hứa hẹn sẽ cho thầy đồ "được làm quan to", "sẽ có nhiều tiền", thầy đồ "vui mừng khôn xiết", "tin tưởng răm rắp".
+Khi tên lừa đảo lấy hết tiền của thầy đồ, thầy đồ "vô cùng tức giận", "nhưng cũng đành chịu".
Câu 4
Theo bạn, nhân vật Bác-tô-lô (Bartholo) đáng cười ở những điểm nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các chi tiết về nhân vật Bác-tô-lô (Bartholo)
Lời giải chi tiết:
Nhân vật Bác-tô-lô (Bartholo) trong vở kịch Thơ cao thành Xê-vin (Séville) đáng cười ở nhiều điểm, chủ yếu liên quan đến tính cách bảo thủ, đa nghi, và dễ bị lừa của ông. Những điểm hài hước của Bác-tô-lô có thể được liệt kê như sau:
+ Sự đa nghi quá mức
+ Sự bảo thủ và cố chấp khiến ông trở nên lố bịch trong mắt người khác, mà còn làm cho những âm mưu của ông dễ bị phá vỡ bởi sự linh hoạt và thông minh của các nhân vật khác.
+ Dễ bị lừa và thao túng: Mặc dù rất đa nghi, Bác-tô-lô lại dễ dàng bị Figaro và Bá tước Almaviva lừa dối. Những kế hoạch đơn giản của họ, như việc giả làm thầy dạy nhạc, đều thành công một cách trôi chảy, trong khi Bác-tô-lô tin tưởng vào những giả thuyết và kế hoạch của mình. Điều này tạo nên một sự đối lập hài hước giữa sự tự tin thái quá của Bác-tô-lô và thực tế là ông luôn bị dắt mũi.
+ Phản ứng quá đà và kịch tính: Khi phát hiện ra điều gì đó không theo ý mình, ông dễ dàng nổi giận hoặc hoảng sợ, điều này làm cho ông trở thành mục tiêu của sự chế giễu.
Câu 5
Trong văn bản, lí giải nguyên nhân của sự đảo ngược tình thế, Bác-tô-lô cho rằng đó là vì "thiếu cẩn mật”, còn Phi-ga-rô (Figaro) lại cho rằng đó là vì “thiếu lương tri”. Việc tác giả làm rõ sự khác nhau trong hành động lí giải này có thể đưa đến thông điệp gì?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
+ Phê phán sự thiếu hiểu biết và bảo thủ
Bác-tô-lô (Bartholo) cho rằng nguyên nhân là "thiếu cần mật": Bác-tô-lô, với sự đa nghi và bảo thủ của mình, cho rằng sự đảo ngược tình thế là do thiếu sự bảo mật và kế hoạch không chặt chẽ. Đây là một cách giải thích có phần hẹp hòi và không nhận ra các yếu tố tinh vi và nhân tố con người trong câu chuyện. Điều này phản ánh sự hạn chế trong tư duy của Bác-tô-lô, đồng thời chỉ trích sự không nhạy bén và thiếu sáng suốt của ông.
+ Đề cao trí tuệ và lương tri
Phi-ga-rô (Figaro) cho rằng nguyên nhân là "thiếu lương tri": Figaro, ngược lại, coi sự đảo ngược tình thế là do sự thiếu lương tri và phẩm hạnh ở những người có trách nhiệm. Figaro nhấn mạnh rằng sự thiếu đạo đức và sự thao túng không trung thực là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng hiện tại. Quan điểm này phản ánh sự coi trọng trí tuệ, đạo đức và sự công bằng trong các hành động và quyết định.
+ Khuyến khích sự tự phản ánh và nhận thức
Thông điệp về tự phản ánh: Sự khác biệt trong cách lý giải cũng có thể khuyến khích người đọc tự phản ánh về các nguyên nhân sâu xa của các vấn đề xã hội và cá nhân. Việc nhận ra rằng sự đảo ngược tình thế không chỉ do những yếu tố bề ngoài mà còn liên quan đến giá trị đạo đức và sự thông minh có thể dẫn đến việc cải thiện cách nhìn nhận và hành động của mỗi cá nhân trong xã hội.
Câu 6
Bình luận câu nói của nhân vật Phi-ga-rô ở cuối đoạn trích: "khi tuổi trẻ và tình yêu đồng tình để lừa gạt một ông già, thì tất cả những việc ông ta làm để ngăn ngừa, đều có thể gọi tên rất chí lí là Cẩn thận hão."
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu nói của nhân vật
Chú ý các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Tính hài hước và châm biếm
Tạo ra tiếng cười thông qua sự đối lập giữa thông minh, sáng tạo của Phi-ga-rô và sự ngây thơ, bất lực của Bác-tô-lô. Đồng thời đưa ra cái nhìn châm biếm về quyền lực và kiểm soát của người già không thể chống lại được sức mạnh của tình yêu và tuổi trẻ. Điều này thể hiện sự hoài nghi về các cấu trúc quyền lực truyền thống và sự khẳng định sức mạnh của các yếu tố cá nhân hơn là các quy tắc và hệ thống.
Luyện trắc nghiệm Toán lớp 1 Lớp LOP12
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
