Lý thuyết Trung vị và tứ phân vị của mẫu số liệu ghép nhóm

1. Trung vị

1. Trung vị

Công thức xác định trung vị của mẫu số liệu ghép nhóm:

  • Gọi n là cỡ mẫu.
  • Giả sử đó là nhóm thứ p: [um;um+1).
  • nmlà tần số của nhóm chứa trung vị.
  • C=n1+n2+...+nm1.

Khi đó trung vị là:

Me=um+n2Cnm.(um+1um)

* Ý nghĩa: Từ dữ liệu ghép nhóm nói chung không thể xác định chính xác trung vị của mẫu số liệu gốc. Trung vị của mẫu số liệu ghép nhóm là giá trị xấp xỉ cho mẫu số liệu gốc và có thể lấy làm giá trị đại diện cho mẫu số liệu.

2. Tứ phân vị

- Để tính tứ phân vị thứ nhất Q1 của mẫu số liệu ghép nhóm, ta làm như sau:

  • Giả sử nhóm chứa Q1 là nhóm [um;um+1).
  • nm là tần số của nhóm chứa phân vị thứ nhất.
  • C=n1+n2+...+nm1.

Khi đó,

Q1=um+n4Cnm.(um+1um)

- Để tính tứ phân vị thứ ba Q3 của mẫu số liệu ghép nhóm, ta làm như sau:

  • Giả sử nhóm chứa Q3 là nhóm [uj;uj+1).
  • nj là tần số của nhóm chứa phân vị thứ ba.
  • C=n1+n2+...+nj1.

 Khi đó,

Q3=uj+3n4Cnj.(uj+1uj)

- Tứ phân vị thứ hai Q2 chính là trung vị Me.

- Nếu tứ phân vị thứ k là 12(xm+xm+1), trong đó xmxm+1 thuộc hai nhóm liên tiếp thì ta lấy Qk=uj.

* Ý nghĩa:

- Ba điểm tứ phân vị chia mẫu số liệu đã sắp xếp thành bốn phần đều nhau. Giống như với trung vị, nói chung không thể xác định chính xác các điểm tứ phân vị của mẫu số liệu ghép nhóm.

- Bộ ba tứ phân vị của mẫu số liệu ghép nhóm là giá trị xấp xỉ cho tứ phân vị của mẫu số liệu gốc và được sử dụng làm giá trị đo xu thế trung tâm của mẫu số liệu.

- Tứ phân vị thứ nhất và thứ ba đo xu thế trung tâm của nửa dưới (các dữ liệu nhỏ hơn Q2) và nửa trên (các dữ liệu lớn hơn Q2) của mẫu số liệu.