Một số bài toán dẫn đến khái niệm đạo hàm - Toán 11
Định nghĩa và ý nghĩa của đạo hàm - Từ điển môn Toán 11 Một số bài toán dẫn đến khái niệm đạo hàm - Toán 11
Một số bài toán dẫn đến khái niệm đạo hàm
1. Bài toán tìm vận tốc tức thời
Từ vị trí O (ở một độ cao nhất định nào đó), ta thả một viên bi cho rơi tự do xuống đất và nghiên cứu chuyển động của viên bi. Bằng việc chọn trục Oy theo phương thẳng đứng, chiều dương hướng xuống đất, gốc O là vị trí ban đầu của viên bi, tức là tại thời điểm 0 giây, và bỏ qua sức cản không khí, ta nhận được phương trình chuyển động của viên bi là y=f(x)=12gx2 (g là gia tốc rơi tự do, g≈9,8 m/s2).
Giả sử tại thời điểm x0, viên bi ở vị trí M0 có y0=f(x0); tại thời điểm x1, viên bi ở vị trí M1 có y1=f(x1).
Khi đó, trong khoảng thời gian từ x0 đến x1, quãng đường viên bi đi được là M0M1=f(x1)−f(x0) (hình vẽ).

Vậy vận tốc trung bình của viên bi trong khoảng thời gian đó là f(x1)−f(x0)x1−x0.
Nếu x1−x0 càng nhỏ thì tỉ số trên càng phản ánh chính xác hơn sự nhanh chậm của viên bi tại thời điểm x0. Từ đó, người ta xem giới hạn của tỉ số f(x1)−f(x0)x1−x0 khi x1 dần đến x0 là vận tốc tức thời tại thời điểm x0 của viên bi, kí hiệu là v(x0). Nói cách khác, v(x0)=limx1→x0f(x1)−f(x0)x1−x0.
Giá trị v(x0) gọi là đạo hàm của hàm số y=f(x)=12gx2 tại điểm x0.
2. Bài toán tìm cường độ tức thời
Điện lượng Q truyền trong dây dẫn là một hàm số của thời gian t, Q=Q(t). Cường độ trung bình trong khoảng thời gian |t−t0| được xác định bởi công thức Q(t)−Q(t0)t−t0.
Nếu |t−t0| càng nhỏ thì tỉ số này càng biểu thị chính xác hơn cường độ dòng điện tại thời điểm t0. Người ta đưa ra định nghĩa sau đây:
Giới hạn hữu hạn (nếu có) limt→t0Q(t)−Q(t0)t−t0 được gọi là cường độ tức thời của dòng điện tại thời điểm t0.
