
Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11
Flashcard 60s: Kiến thức cốt lõi
Lật thẻ nhớ nhanhChỉ 1 phút nắm trọn định nghĩa, dạng bài và bí quyết làm bài trước khi đọc giải
Ghi nhớ & Mẹo giải nhanh: Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc truyện ngắn sau:
Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:
- Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.
Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.
Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về ngoại thì mùng hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.
Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:
- Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?
- Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.
- Vậy mầy được mấy bộ?
- Có một bộ hà.
Con bé Em trợn mắt:
- Ít quá vậy?
- Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.
- Vậy à?
Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.
Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:
- Còn mầy?
- Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng một tới mùng bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.
- Mầy sướng rồi.
Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới. Má nó nói hoài: “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:
- Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?
Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:
- Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.
Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé em. Thiệt đó.
(Áo Tết, Nguyễn Ngọc Tư, in trong Bánh trái mùa xưa, NXB Văn học)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ ba
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ nhất
D. Ngôi thứ nhất và thứ ba
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào?
A. Điểm nhìn của nhân vật bé Em
B. Điểm nhìn của nhân vật Bích
C. Điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện
D. Cả B và C
Câu 3. Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện?
A. Chỉ có lời nhân vật
B. Chỉ có lời người kể chuyện
C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật
D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả
Câu 4. Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là:
A. Bích và bé Em được may đồ Tết
B. Bích và bé Em mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo
C. Bé Em có bốn bộ đồ Tết, trong khi Bích chỉ có một bộ
D. Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo
Câu 5. Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện?
A. Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo
B. Kể về việc bé Em được may bốn bộ đồ Tết trong khi đó Bích chỉ được mẹ may cho một bộ
C. Kể về việc bé Em đã cố tình mặc đồ hơi giống Bích trong ngày hai đứa mặc áo mới đi thăm cô giáo
D. Kể về cuộc trò chuyện thân mật giữa Bích và bé Em về chuyện may đồ Tết
Câu 6. Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé như thế nào?
A. Là một cô bé có tâm hồn tinh tế
B. Là một cô bé thích thể hiện
C. Là một cô bé khiêm tốn
D. Là một cô bé giảu lòng nhân ái
Câu 7. Phát biểu nào sau đây nói lên chủ đề của truyện ngắn trên?
A. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em
B. Ca ngợi tình bạn chân thành, cao đẹp của bé Em và Bích
C. Phê phán sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội
D. Cả A và B
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Hãy nêu một truyện ngắn nói về sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu đối với những đứa trẻ con nhà nghèo khó. (Đó là truyện ngắn nào, của ai?)
Câu 9. Bạn rút ra được bài học gì về tình bạn sau khi đọc truyện ngắn trên?
Câu 10. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự đồng cảm đối với người khác trong hoàn cảnh khó khăn? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. LÀM VĂN (4,0 điểm)
Bạn hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em ở truyện ngắn trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
A |
A |
B |
C |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ ba B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ nhất D. Ngôi thứ nhất và thứ ba |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ ba.
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? A. Điểm nhìn của nhân vật bé Em B. Điểm nhìn của nhân vật Bích C. Điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện D. Cả B và C |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định điểm nhìn.
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật bé Em
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện? A. Chỉ có lời nhân vật B. Chỉ có lời người kể chuyện C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý ngôi kể.
Lời giải chi tiết:
Phát biểu nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện: Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật.
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là: A. Bích và bé Em được may đồ Tết B. Bích và bé Em mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo C. Bé Em có bốn bộ đồ Tết, trong khi Bích chỉ có một bộ D. Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định sự kiện nổi bật.
Lời giải chi tiết:
Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là: Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo
→ Đáp án D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện? A. Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo B. Kể về việc bé Em được may bốn bộ đồ Tết trong khi đó Bích chỉ được mẹ may cho một bộ C. Kể về việc bé Em đã cố tình mặc đồ hơi giống Bích trong ngày hai đứa mặc áo mới đi thăm cô giáo D. Kể về cuộc trò chuyện thân mật giữa Bích và bé Em về chuyện may đồ Tết |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung tóm tắt của truyện: Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo.
→ Đáp án A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé như thế nào? A. Là một cô bé có tâm hồn tinh tế B. Là một cô bé thích thể hiện C. Là một cô bé khiêm tốn D. Là một cô bé giảu lòng nhân ái |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé có tâm hồn tinh tế.
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói lên chủ đề của truyện ngắn trên? A. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em B. Ca ngợi tình yêu chân thành, cao đẹp của bé Em và Bích C. Phê phán sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội D. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật Bích. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định chủ đề của truyện.
Lời giải chi tiết:
Phát biểu nói lên chủ đề của truyện ngắn trên: Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em.
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Hãy nêu một truyện ngắn nói về sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu đối với những đứa trẻ con nhà nghèo khó. (Đó là truyện ngắn nào, của ai?) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS nêu được tên tác phẩm thể hiện sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu với những đứa trẻ con nhà nghèo khó.
- Gợi ý: Truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” của tác giả Thạch Lam.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Bạn rút ra được bài học gì về tình bạn sau khi đọc truyện ngắn trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Học sinh được tự do rút ra bài học cho bản thân, miễn là tích cực và liên quan đến nội dung câu chuyện.
Gợi ý:
- Cần tinh tế trong đối xử với bạn bè.
- Nên đề cao tình cảm chân thành, không nên quan trọng ở vật chất…
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự đồng cảm đối với người khác trong hoàn cảnh khó khăn? (Viết khoảng 5 – 7 dòng) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của sự đồng cảm.
-Thí sinh lí giải hợp lí, thuyết phục.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Sự đồng cảm giúp chúng ta có thái độ đối xử chân thành.
- Sự động cảm giúp người khác không cảm thấy tự ti, mặc cảm.
- Sự đồng cảm giúp duy trì những mối quan hệ tốt đẹp…
II. VIẾT (4 điểm)
|
Phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em ở truyện ngắn trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm. - Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. 1. Tóm tắt truyện: Truyện xoay quanh câu chuyện áo tết của hai đứa bé là bé Em và Bích. Bé Em được mẹ may cho bốn bộ áo tết, trong khi đó Bích, bạn của bé Em, vì nhà nghèo nên chỉ được mẹ may cho một bộ. Để bạn không cảm thấy tủi thân, trong ngày đi chúc tết cô giáo, bé Em đã mặc bộ đồ hơi giống Bích. Hiểu được tấm lòng của bé Em, Bích thêm yêu quý bạn của mình. 2. Xác định và phân tích, đánh giá chủ đề: a. Xác định chủ đề: Thông qua câu chuyện về áo tết và cách hành xử của nhân vật bé Em, truyện ca ngợi tình bạn chân thành giữa bé Em và Bích, ca ngợi tấm lòng nhạy cảm, tinh tế của bé Em đối với người bạn của mình. b. Phân tích, đánh giá chủ đề: - Truyện là bài ca về tình bạn hồn nhiên, trong sáng nhưng rất chân thành và tinh tế. Bé Em và Bích tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã luôn biết nghĩ cho bạn của mình. Bé Em vì nghĩ đến hoàn cảnh của bạn nên đã không nỡ khoe chuyện mình được may áo đẹp. Bích vì quan tâm đến bạn nên vẫn hỏi han bạn để bạn có cơ hội khoe áo mới của mình. Đặc biệt nhất là cách hành xử của bé Em trong ngày đi chúc tết cô giáo. Bé Em đã ăn mặc hơi giống bạn để bạn không thấy tự ti. Còn Bích thì biết được tấm lòng của bạn, nên Bích nghĩ rằng, chỉ cần sự chân thành đó, và dù bé Em có mặc đẹp hơn Bích đi chăng nữa, thì Bích vẫn thương quý bạn mình. - Tuy viết về tình bạn hồn nhiên của hai đứa trẻ, nhưng truyện cũng là bài học cho tình bạn ở mọi lứa tuổi, cho mọi mối quan hệ giữa con người với con người: Trong ứng xử với người khác, hãy luôn lấy sự chân thành làm nền tảng, phải luôn thấu hiểu lẫn nhau, để không làm cho nhau bị tổn thương. Khi ta hành xử được như vậy thì người khác cũng sẽ nhân đó mà quý trọng, yêu thương ta nhiều hơn nữa. 3. Hình tượng nhân vật bé Em: - Bé Em mang trong mình tích cách hồn nhiên của trẻ thơ: thích khoe đồ mới, và em thực hiện ý muốn đó một cách cũng rất trẻ con, bằng cách gạn hỏi bạn trước, để từ đó tìm cơ hội khoe áo mới của mình. - Nhưng dù còn nhỏ tuổi, bé Em đã là một cô bé nhạy cảm và tinh tế. Khi nghe Bích nói về hoàn cảnh của mình, bé Em đã khựng lại, hết hứng, nửa muốn khoe nửa muốn không. Bé muốn khoe vì cái nỗi sung sướng của trẻ con khi được may áo mới vẫn còn chộn rộn trong lòng, nhưng bé cũng không muốn khoe vì như thế sẽ khiến bạn cảm thấy tủi thân. - Rồi sau khi được bạn gạn hỏi, sau khi phải nói ra việc mình có những bốn bộ đồ mới, khi chứng kiến đôi mắt “xịu xuống, buồn hẳn” của bạn, và nghĩ đến hoàn cảnh của bạn, bé Em đã có một cách hành xử vô cùng đẹp, vô cùng nhân văn. Đó là ngày đi chúc tết cô giáo, để bạn không bị mặc cảm, bé em đã mặc đồ hơi giống bạn. Một cách hành xử rất trẻ con, nhưng lại khiến ta xúc động: xúc động vì cách hành xử đó xuất phát từ lòng yêu thương, từ sự sâu sắc và tinh tế của tâm hồn của một đứa trẻ. Cách hành xử ấy đáng cho người lớn phải học tập.
|
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề - Nêu ý nghĩa của truyện kể đối với bản thân và người đọc: Câu chuyện đã giúp ta hiểu được rằng: trong tình bạn, trong cách đối xử giữa con người với con người, chúng ta cần đem lòng chân thành mà đối đãi, lấy sự tinh tế mà ứng xử, từ đó mới có thể xây dựng lên được những mối quan hệ bền vững và tốt đẹp. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc văn bản sau:
XUÂN Ý
(Hồ Dzếnh)
Trời đẹp như trời mới tráng gương,
Chim ca, tiếng sáng rộn ven tường
Có ai bên cửa ngồi hong tóc
Cho chảy tan thành một suối hương.
Sắc biếc giao nhau cành lan cành
Nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh
Chim bay cành trĩu trong xuân ý
Em đợi chờ ai khuất bức mành?
Giữa một giờ thiêng tình rất đẹp
Rất buồn và rất rất thanh thanh
Mày ai bén nguyệt, người ai nhỏ
Em ạ, yêu nhau chết cũng đành!
(Trích Tổng tập văn học Việt Nam, Tập27, NXB Khoa học Xã hội, 1995, tr.397)
|
Hồ Dzếnh (1916–1991), tên thật: Hà Triệu Anh hay Hà Anh (ghi theo giọng Quảng Đông là Hồ Dzếnh) là một nhà thơ của Việt Nam. Ông được biết đến với một giọng thơ nhẹ nhàng, siêu thoát, phảng phất hương vị thơ cổ Trung Hoa. Xuân ý là thi phẩm tiêu biểu của Hồ Dzếnh với những “vần thơ duyên dáng, ngọt ngào” thể hiện hiện những tình cảm kín đáo mà rất thắm thiết”; giọng thơ đằm thắm, nhạc thơ uyển chuyển du dương. |
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Xác định thể thơ trong bài Xuân ý.
A. Tự do
B. Bảy chữ
C. Song thất lục bát
D. Lục bát
Câu 2. Khổ thứ hai trong bài Xuân ý gieo vần ở âm tiết cuối của những dòng thơ nào?
A. Dòng số 1,3,4
B. Dòng số 2,3,4
C. Dòng số 1,2,4
D. Dòng số 1,2,3
Câu 3. Câu thơ Trời đẹp như trời mới tráng gương sử dụng biện pháp tu từ nào?
A. Nói quá
B. So sánh
C. Điệp từ
D. Ẩn dụ
Câu 4. “Em” trong bài thơ là:
A. Người con gái đẹp
B. Nhân vật trữ tình
C. Đối tượng trữ tình
D. Người yêu của tác giả.
Câu 5. Giọng điệu chính của bài thơ:
A. Trầm lắng, suy tư
B. Lạnh lùng, khách quan
C. Buồn thương, tiếc nuối
D. Đằm thắm, tha thiết
Câu 6. Tác dụng của câu hỏi tu từ Em đợi chờ ai khuất bức mành?
A. Thể hiện sự băn khoăn, hồ nghi của nhân vật trữ tình
B. Lời tỏ tình ý nhị của nhân vật trữ tình
C. Thể hiện tâm trạng buồn bã, mong ngóng của nhân vật “em”
D. Thể hiện cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến của nhân vật trữ tình.
Câu 7. Nhận định nào sau đây không đúng khi nói về câu thơ: Sắc biếc giao nhau cành lan cành?
A. Câu thơ đã thể hiện sức sống của thiên nhiên mùa xuân
B. Câu thơ miêu tả màu xanh giao hòa trên cành lá
C. Câu thơ miêu tả cành lá đan cài vào nhau
D. Câu thơ miêu tả hình ảnh thiên nhiên lụi tàn
Trả lời các câu hỏi:
Câu 8. Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ.
Câu 9. Em có đồng tình với suy nghĩ của nhân vật trữ tình trong câu thơ “Em ạ, yêu nhau chết cũng đành!” không? Vì sao?
Câu 10. So sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ:
|
-Đoạn 1 Trời đẹp như trời mới tráng gương, Chim ca, tiếng sáng rộn ven tường Có ai bên cửa ngồi hong tóc Cho chảy tan thành một suối hương. (Xuân ý-Hồ Dzếnh)
|
- Đoạn 2 Tôi có chờ đâu, có đợi đâu Ðem chi xuân lại gợi thêm sầu? - Với tôi, tất cả như vô nghĩa Tất cả không ngoài nghĩa khổ đau! (Xuân-Chế Lan Viên)
|
II. VIẾT (4,0 điểm)
“Cuộc sống không phải để sợ, mà là để hiểu. Đây chính là lúc chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn về cuộc sống để làm vơi bớt mọi nỗi sợ hãi.” (Marie Curie)
Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận để trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU (6 điểm)
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
C |
B |
C |
D |
D |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định thể thơ trong bài Xuân ý. A. Tự do B. Bảy chữ C. Song thất lục bát D. Lục bát |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể thơ
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: Bảy chữ
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Khổ thứ hai trong bài Xuân ý gieo vần ở âm tiết cuối của những dòng thơ nào? A. Dòng số 1,3,4 B. Dòng số 2,3,4 C. Dòng số 1,2,4 D. Dòng số 1,2,3 |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ khổ thơ 2
Xác định cách gieo vần.
Lời giải chi tiết:
Khổ thứ hai trong bài Xuân ý gieo vần ở âm tiết cuối của những dòng thơ: 1,2,4
→ Đáp án C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu thơ Trời đẹp như trời mới tráng gương sử dụng biện pháp tu từ nào? A. Nói quá B. So sánh C. Điệp từ D. Ẩn dụ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu thơ
Xác định biện pháp tu từ.
Lời giải chi tiết:
Câu thơ Trời đẹp như trời mới tráng gương sử dụng biện pháp tu từ so sánh
→ Đáp án B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
“Em” trong bài thơ là: A. Người con gái đẹp B. Nhân vật trữ tình C. Đối tượng trữ tình D. N gười yêu của tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định nhân vật “em”.
Lời giải chi tiết:
“Em” trong bài thơ là: Đối tượng trữ tình
→ Đáp án C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Giọng điệu chính của bài thơ: A. Trầm lắng, suy tư B. Lạnh lùng, khách quan C. Buồn thương, tiếc nuối D. Đằm thắm, tha thiết |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định giọng điệu chính của bài thơ.
Lời giải chi tiết:
Giọng điệu chính của bài thơ: Đằm thắm, tha thiết.
→ Đáp án D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Tác dụng của câu hỏi tu từ Em đợi chờ ai khuất bức mành? A. Thể hiện sự băn khoăn, hồ nghi của nhân vật trữ tình B. Lời tỏ tình ý nhị của nhân vật trữ tình C. Thể hiện tâm trạng buồn bã, mong ngóng của nhân vật “em” D. Thể hiện cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến của nhân vật trữ tình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Tác dụng của câu hỏi tu từ Em đợi chờ ai khuất bức mành là: Thể hiện cảm xúc bâng khuâng, lưu luyến của nhân vật trữ tình.
→ Đáp án D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Nhận định nào sau đây không đúng khi nói về câu thơ: Sắc biếc giao nhau cành lan cành? A. Câu thơ đã thể hiện sức sống của thiên nhiên mùa xuân B. Câu thơ miêu tả màu xanh giao hòa trên cành lá C. Câu thơ miêu tả cành lá đan cài vào nhau D. Câu thơ miêu tả hình ảnh thiên nhiên lụi tàn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung câu thơ
Lời giải chi tiết:
Nhận định không đúng khi nói về câu thơ: Sắc biếc giao nhau cành lan cành: Câu thơ miêu tả hình ảnh thiên nhiên lụi tàn.
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Nêu cảm nhận của em về vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS nêu được vẻ đẹp của bức tranh thiên nhiên trong bài thơ.
Gợi ý:
- Bức tranh thiên nhiên trong trẻo, tươi sáng (trời như tráng gương, chim ca, tiếng rộn, nước trong, hồ ngợp thủy tinh xanh…)
- Bức tranh tràn đầy sức sống (sắc biếc, cành lan cành, chim bay cành trĩu…)
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Em có đồng tình với suy nghĩ của nhân vật trữ tình trong câu thơ “Em ạ, yêu nhau chết cũng đành!” không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS có thể trả lời đồng tình/ không đồng tình hoặc vừa đồng tình vừa không đồng tình nhưng phải có lí giải thuyết phục, hợp lí.
Gợi ý:
- Đồng tình: Câu thơ thể hiện một tình yêu tha thiết, mãnh liệt, sẵn sàng đánh đổi tất cả để dành lấy tình yêu của đời mình, dù có thể hy sinh cả bản thân.
- Không đồng tình: Vì câu thơ thể hiện tình yêu mù quáng, ích kỉ. “Yêu nhau chết cũng đành” coi trọng cảm xúc cá nhân không đặt mình vào cảm xúc của người khác, đặc biệt là người thân.Có rất nhiều cách để thể hiện tình yêu mãnh liệt, không nhất thiết là phải chọn cái chết, làm những điều dại dột.
Câu 10: (1.0 diểm)
|
So sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong hai đoạn thơ:
|
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS so sánh tâm trạng của nhân vật trữ tình qua hai đoạn thơ.
Gợi ý:
- Giống nhau: Cả hai đoạn thơ đều viết về đề tài mùa xuân.Qua đó, bộc lộ cảm xúc tinh tế của nhân vật trữ tình.
- Khác nhau:
Đoạn 1: Tâm trạng say mê, tâm hồn yêu đời, yêu cuộc sống tha thiết.
Đoạn 2: Tâm trạng buồn bã, hoài nghi khi xuân về.
II. VIẾT (4 điểm)
|
“Cuộc sống không phải để sợ, mà là để hiểu. Đây chính là lúc chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn về cuộc sống để làm vơi bớt mọi nỗi sợ hãi.” (Marie Curie) Anh/chị hãy viết bài văn nghị luận để trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận để trình bày suy nghĩ của bản thân về ý kiến: “Cuộc sống không phải để sợ, mà là để hiểu. Đây chính là lúc chúng ta cần phải tìm hiểu nhiều hơn về cuộc sống để làm vơi bớt mọi nỗi sợ hãi.” (Marie Curie) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. a. Giải thích vấn đề nghị luận: - “Cuộc sống không phải để sợ mà là để hiểu”: cuộc sống của chúng ta luôn chứa đựng những điều bí mật, những bất ngờ, bất ổn khiến con người nhiều khi không thể lí giải được, không đối phó và cũng không chống đỡ được. Những lí do đó dẫn đến thái độ sợ hãi của rất nhiều người. - Nhưng “cuộc sống .. là để hiểu”: Chúng ta cần phải có những hiểu biết, những cách lí giải về sự bí ẩn, phức tạp của cuộc sống. → ý nghĩa cả câu nói: Cuộc sống vốn vô cùng phong phú và phức tạp; nó có thể khiến cho con người sợ hãi và lo lắng. Vì vậy mà mỗi con người chúng ta cần phải “tìm hiểu nhiều hơn về cuộc sống” để có khả năng“chung sống”, chủ động trước những tình huống, biến cố xảy ra và làm chủ cuộc sống của mình. b. Giải quyết vấn đề nghị luận Ý kiến của nhà bác học Marie Cuire đúng đắn, sâu sắc, bởi vì: - Thực tế cuộc sống luôn luôn có những bí ẩn, bất ngờ, biến động phức tạp, nhất là trong giai đoạn hiện nay (thiên tai, biến động kinh tế, tranh chấp, xung đột vũ trang, những nguy cơ mất an toàn về an ninh...) khiến mọi người luôn sống trong tâm lí lo sợ. - Để đối diện với thực tế đó, cách tốt nhất theo Marie Cuire là phải hiểu và hiểu nhiều hơn với cuộc sống. Đó là giải pháp đúng đắn vì chỉ khi hiểu, ta mới có tâm lí bình tĩnh, chủ động để có thể lí giải, xử lí, giải quyết hay thuận theo nó, có cách chống lại nó ... một cách có hiệu quả được. - Mục đích của cuộc sống không chỉ dừng lại ở việc làm vơi bớt nỗi sợ hãi mà còn làm chủ và cải thiện cho cuộc sống tốt đẹp hơn. - Mục tiêu giáo dục của tổ chức Unesco cũng là “học để biết, học để làm, học để chung sống và học để khẳng định mình”. Vì vậy, để hiểu nhiều hơn về cuộc sống, cần phải không ngừng học hỏi, tìm hiểu cuộc sống ở mọi phương diện, bằng một thái độ sống bình tĩnh, tích cực. (Trong quá trình bình luận, học sinh phải lấy dẫn chứng để chứng minh) c. Bàn luận: - Nếu không nỗ lực tìm hiểu, khám phá quy luật của cuộc sống thì chúng ta sẽ chẳng bao giờ làm chủ được cuộc đời của mình, luôn lo sợ và ở trong thế bị động trước những biến đổi khôn lường của nó. Như vậy nhìn ở mặt tích cực thì những bí ẩn, những bất trắc của cuộc sống luôn khiến con người sợ hãi nhưng chính nó lại là phép thử để con người vươn lên và vượt qua chính mình, thấu hiểu lẽ đời và quy luật của cuộc sống. - Tuy nhiên để vượt qua nỗi sợ hãi để làm chủ hoàn cảnh, làm chủ cuộc sống của mình không phải là điều dễ dàng bởi năng lực của con người không phải là vô hạn mà có những giới hạn nhất định hoặc còn tiềm ẩn; con người cần dấn thân, trải nghiệm qua những nghịch cảnh, những tình huống khác nhau thì mới khám phá, bộc lộ, bản thân, hiểu mình và hiểu rõ những gì mình đang muốn vươn tới; càng muốn đạt được những cái quý giá con người càng phải nỗ lực gấp bội. => Như vậy, để làm chủ cuộc sống, để không sợ mà thấu hiểu nó thì con người phải chấp nhận những bất trắc, những biến động khôn lường của nó. Qua đó, con người mới có thể hiểu rõ mình, hiểu rõ sức chịu đựng cũng như được rèn luyện, hoàn thiện thêm bản thân. d. Bài học nhận thức: - Câu nói khuyến khích, nhắc nhở con người cần có thái độ dấn thân nhập cuộc, rèn luyện cho mình bản lĩnh dám đối mặt với khó khăn thử thách, đặc biệt là khi còn trẻ. - Câu nói khuyên ta phải biết chủ động, luôn luôn khám phá, tìm hiểu cuộc sống để tự xây dựng cho mình một cuộc sống tốt đẹp. - Nỗi sợ hãi cũng có thể được vơi đi nhờ việc xây dựng những mối quan hệ, giúp đỡ mọi người để cùng có cuộc sống tốt đẹp. - Bản thân cần có những định hướng rõ ràng và sự chuẩn bị tốt về mặt kiến thức và tâm lí cho mọi tình huống trong cuộc sống. Trong cuộc sống con người cần hình dung, hiểu rõ mục tiêu cũng như cái mình muốn trước khi định làm việc, có như vậy mới mang tâm thế chủ động, sẵn sàng hoặc ít nhiều có sự chuẩn bị tốt hơn. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TỜ HOA
(Nguyễn Tuân)
Tại một công trường làm đường Tây Bắc, 1966
Tôi nhìn ra cái tàu lăn nghiến đá mặt đường mới, nhìn ra những kíp thợ xây dựng mở đường, nhìn ra một tổ ong của anh chị em làm đường vừa mang được ong chúa về. Cửa sổ buồng tôi viết, lúc nào cũng nhộn nhịp cánh tay người và những cánh ong quen dần với tổ mới. Ong bay trên trang sổ tay tôi. Ong tua tròn trên trang giấy chữ nhật trắng, như là tàu bay đảo nhiều vòng chờ lệnh hạ cánh xuống. Buồng bên có người bị ong đốt. Bởi vì người đó hoảng hốt vừa giết ong một cách không cần thiết, và ngửi thấy mùi máu, bọn ong cùng tổ liền xông tới đốt. Rồi ong cũng lăn ra chết, tinh hồn xuất theo luôn với nọc đốt. Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. Anh cán bộ địa chất liền cho tôi mượn một số tạp chí khoa học có mấy trang về nuôi ong. Giờ tôi mới biết rằng đó là một thế giới đầy sinh thú. Đời sống con ong để lại cho người đọc nó một bài học về kiên nhẫn, về cần lao, về tích lũy, chế tạo và sáng tạo. Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) đi, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa quanh vùng. Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa. Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số.
Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống. Đối hoa xuân lắng ong mật mà thêm ngẫm tới đàn bướm tốt mã chấp chới bay, lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào. Bướm phù phiếm cũng bay vào hoa, nhưng cặp cánh hào nhoáng cũng chẳng để lại gì. Từ ngày có lịch sử tiến hóa của loài người, chưa ai dám nói đến mật bướm.
Người ta hay nhắc đến mang nặng đẻ đau. Có những quá trình không phải hoài thai, không đẻ gì (theo nghĩa hẹp và theo nghĩa đen sinh học) nhưng rất khó đau và nặng nhọc đèo bòng. Ngọc trai nguyên chỉ là một hạt cát, một hạt bụi biến xâm lăng vào vỏ trai, lòng trai. Cái bụi bặm khách quan nơi ron bế lẻn vào cửa trai. Trai xót lòng. Máu trai liền tiết ra một thứ nước rãi bọc lấy cải hạt buốt sắc. Có những cơ thể trai đã chết ngay vì hạt cát từ đâu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình (và vì trai chết nên cát bụi kia vẫn chỉ là hạt cát). Nhưng có những cơ thể trai vẫn sống, sống lấy máu lấy rãi mình ra mà bao phủ lấy hạt đau hạt xót. Tới một thời gian nào đó, hạt cát khối tình con, cộng với nước mắt hạch trai, đã trở thành lõi sáng của một hạt ngọc tròn trăn ánh ngời (…)
(Báo Văn Nghệ số 143 - Tết Bính Ngọ)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
A. Tản văn
B. Tùy bút
C. Kí
D. Truyện kí
Câu 2. Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt nào khác?
A. Tự sự và miêu tả
B. Tự sự và nghị luận
C. Miêu tả và thuyết minh
D. Tự sự và thuyết minh
Câu 3. Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến điều gì?
A. Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo
B. Bài học về sự may mắn
C. Bài học về sự nỗ lực không ngừng nghỉ
D. Bài học về sự chế tạo và sáng tạo
Câu 4. Đâu không phải là biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong câu sau?
Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì.
A. So sánh
B. Điệp từ
C. Ẩn dụ
D. Liệt kê
Câu 5. Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm điều gì?
A. Quá trình sáng tạo và thành công phải đến từ sự đau đớn
B. Quá trình sáng tạo và thành công cần đến rất nhiều khó khăn
C. Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm.
D. Quá trình sáng tạo và thành công không dễ dành với bất kì ai
Câu 6. Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn sau là gì?
Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời.
A. Nhân hóa và so sánh
B. Nhân hóa và ẩn dụ
C. So sánh và ẩn dụ
D. Nhân hóa và ẩn dụ
Câu 7. Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật nào trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân?
A. Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư
B. Kho từ ngữ phong phú, giàu có
C. Sự chiêm nghiệm lớn về cuộc đời
D. Sự quan sát tinh tế các sự vật, hiện tượng xung quanh
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. “Tôi nhìn…”, “Giờ tôi mới biết rằng…”, “cái tôi thấy say say…”
Qua các cụm từ trên anh/chị hiểu gì về cái “tôi” trong thể loại tùy bút?
Câu 9. Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để nói về hạt ngọc trai? Tác dụng nghệ thuật của chuỗi từ ngữ đó?
Câu 10. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày quan điểm của em về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được.
II. VIẾT (4,0 điểm)
Hãy viết một bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến: “Cuộc sống của ta là thiên đường hay địa ngục, phải chăng điều đó phụ thuộc phần lớn vào chính bản thân ta?”
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
B |
A |
C |
C |
A |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Văn bản trên thuộc thể loại gì? A. Tản văn B. Tùy bút C. Kí D. Truyện kí |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể loại.
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại: Tùy bút .
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt nào khác? A. Tự sự và miêu tả B. Tự sự và nghị luận C. Miêu tả và thuyết minh D. Tự sự và thuyết minh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt: Tự sự và nghị luận
→ Đáp án: B
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến điều gì? A. Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo B. Bài học về sự may mắn C. Bài học về sự nỗ lực không ngừng nghỉ D. Bài học về sự chế tạo và sáng tạo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến: . Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo.
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Đâu không phải là biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong câu sau? Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. A. So sánh B. Điệp từ C. Ẩn dụ D. Liệt kê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định biện pháp tu từ.
Lời giải chi tiết:
Biện pháp tu từ không được nhà văn sử dụng trong câu trên là: Ẩn dụ.
→ Đáp án C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm điều gì? A. Quá trình sáng tạo và thành công phải đến từ sự đau đớn B. Quá trình sáng tạo và thành công cần đến rất nhiều khó khăn C. Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm. D. Quá trình sáng tạo và thành công không dễ dành với bất kì ai |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm: Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn sau là gì? Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. A. Nhân hóa và so sánh B. Nhân hóa và ẩn dụ C. So sánh và ẩn dụ D. Nhân hóa và ẩn dụ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn sau là: Nhân hóa và so sánh.
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật nào trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân? A. Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư B. Kho từ ngữ phong phú, giàu có C. Sự chiêm nghiệm lớn về cuộc đời D. Sự quan sát tinh tế các sự vật, hiện tượng xung quanh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Chú ý cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Tuân.
Xác định phong cách nghệ thuật được thể hiện trong văn bản.
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
“Tôi nhìn…”, “Giờ tôi mới biết rằng…”, “cái tôi thấy say say…” Qua các cụm từ trên anh/chị hiểu gì về cái “tôi” trong thể loại tùy bút? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS có thể trả lời dựa trên gợi ý sau:
Qua các cụm từ “Tôi nhìn…”, “Giờ tôi mới biết rằng…”, “cái tôi thấy say say…” ta thấy được cái “tôi” trong thể tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân đó là: Cái tôi thể hiện trực tiếp trong tác phẩm và cái tôi đó có được là từ sự quan sát, trải nghiệm và tưởng tượng của tác giả.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để nói về hạt ngọc trai? Tác dụng nghệ thuật của chuỗi từ ngữ đó? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng một chuỗi những từ ngữ phong phú để nói về hạt ngọc trai: hạt cát; một hạt bụi biển xâm lăng vào vở trai, lòng trai; cái bụi bặm khách quan nơi rốn bể lẻn vào cửa trai; cái hạt buốt sắc; hạt cát từ đâu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình; hạt đau hạt xót; hạt cát khối tình con; một hạt ngọc tròn trặn ánh ngời.
- Qua đó, người viết vừa tái hiện cụ thể, sinh động mà chân thực quá trình hình thành hạt ngọc trong lòng những con trai nơi đáy đại dương vừa giúp người đọc hình dung quá trình ấy cũng giống như quá trình hoài thai, mang nặng đẻ đau của con người.
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày quan điểm của em về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được. |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Thành công được đúc kết qua những trải nghiệm và những lần thất bại, trả giá.
- Con người cần có sự nỗ lực, ý chí vượt lên khó khăn thử thách để đạt được thành công.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Hãy viết một bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến: “Cuộc sống của ta là thiên đường hay địa ngục, phải chăng điều đó phụ thuộc phần lớn vào chính bản thân ta?” |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ về ý kiến: “Cuộc sống của ta là thiên đường hay địa ngục, phải chăng điều đó phụ thuộc phần lớn vào chính bản thân ta?” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. - Giải thích vấn đề: ý nghĩa của hai từ thiên đường và địa ngục những từ thể hiện thực tê khác nhau của cuộc sống, hiểu được vai trò có tính chất quyết định của cá nhân đối với đời sống của chính mình. - Phân tích, đánh giá vấn đề: mỗi cá nhân cẩn tự xây dựng cho mình một quan niệm sống đúng đắn: biết tạo ra sự cân bằng, hài hoà giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; nỗ lực vượt lên hoàn cảnh, song cũng cần biết chấp nhận những giới hạn của thực tại; không bi quan, tuyệt vọng khi gặp gian khó, ngược lại biết hướng tới tương lai bằng niềm tin và sự phấn đấu không ngừng… |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản:
TỜ HOA
(Nguyễn Tuân)
Tại một công trường làm đường Tây Bắc, 1966.
Tôi nhìn ra cái tàu lăn nghiến đá mặt đường mới, nhìn ra những kíp thợ xây dựng mở đường, nhìn ra một tổ ong của anh chị em làm đường vừa mang được ong chúa về. Cửa sổ buồng tôi viết, lúc nào cũng nhộn nhịp cánh tay người và những cánh ong quen dần với tổ mới. Ong bay trên trang sổ tay tôi. Ong tua tròn trên trang giấy chữ nhật trắng, như là tàu bay đảo nhiều vòng, chờ lệnh hạ cánh xuống. Buồng bên có người bị ong đốt. Bởi vì người đó hoảng hốt vừa giết ong một cách không cần thiết, và ngửi thấy mùi máu, bọn ong cùng tổ xông tới đốt. Rồi ong cũng lăn ra chết, linh hồn xuất theo luôn với nọc đốt. Con ong bé cũng như con với to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. Anh cán bộ địa chất liền cho tôi mượn một số tạp chí khoa học có mấy trang về nuôi ong. Giờ tôi mới biết rằng đó là một thế giới đây sinh thủ. Đời sống con ong để lại cho người đọc nó là một bài học về tính kiên nhẫn, cần lao, về tích lũy, về chế tạo và sáng tạo. Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) di, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa trong vùng. Và trong nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa. Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số.
Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là mặc dầu không được một chuyến di bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. Sự tích luỹ ở mình cũng ngày càng có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống. Đối hoa xuân, lắng ong mật mà thêm ngầm tới dàn bướm tốt mã chấp chới bay, lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào. Bước phù phiếm cũng bay vào hoa, nhưng cặp cánh hào nhoáng chẳng để lại gì. Từ ngày lịch sử tiến hoá loài người, chưa ai nói đến mật bướm.
Người ta hay nhắc đến mang nặng đẻ đau. Có những quá trình không phải là hoài thai, không đẻ gì (theo nghĩa hẹp và theo nghĩa đen sinh học) nhưng rất khổ đau và nặng nhọc đèo bòng. Ngọc trai nguyên chỉ là một hạt cát, một hạt bụi biển xâm lăng vào vỏ trai, lòng trai. Cái bụi bặm khách quan nơi rốn bể lẻn vào cửa trai. Trai xót lòng. Máu trai liền tiết ra một thứ nước rãi bọc lấy cái hạt buốt sắc. Có những cơ thể trai đã chết ngay vì hạt cát từ đầu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình (và vì trai chết nên cát bụi kia vẫn chỉ là hạt cát). Nhưng có những cơ thể trai vẫn sống, sống lấy máu, lấy rãi mình ra mà bao phủ lấy cái hạt đau xót. Tới một thời gian nào đó, hạt cát khối tình con, cộng với nước mắt hạch trai đã trở thành lõi sáng của một hạt ngọc tròn trặn ánh ngời.
Buổi ban đầu vào nghề viết cách đây vài chục năm, khi nhìn chuỗi ngọc trên cổ người “con hát” một thời Thăng Long tôi mới chỉ liên hệ nhân cát ngọc với mảy bụi cát kiếp người nơi thập điều Kinh Thánh. Cho tới gần đây tôi mới biết rõ thân thể của ngọc trai. Biết nhìn nó không phải chỉ ở chặng thành tựu chót cùng nơi cổ nơi ngón con người ta, mà là nhìn thấy được nó ở một quá trình lâu dài, đầu kia quá trình là một vết thương lòng và đầu này là quá trình là một niềm vui. Đầu kia quá trình là một cơn giận dữ tự vệ, đầu này quá trình là một giọt tài nguyên. Tổ quốc ta bao la cát bãi.
Tôi đã lấy cách nhìn hạt ngọc mà nhìn vào sự biểu dương một công tác, một công trạng, một công trình. Cũng bằng cái cách đó mà hiểu được bước sinh trưởng của một đoá hoa thơm, trước khi nó được làm cái nụ đầu thai vào vườn người. Nhìn ngọn hoa sáng chói công khai giữa bầu giời mà không khỏi không bận lòng vì lũ rễ cái, rễ con trong bóng tối lòng đất kín: rễ trong kia chỉ liên lạc được với hoa ngoài đây bằng con đường nhựa đắng duy nhất của ruột mình. Nhìn bông hoa nở tập kết nơi đất Bắc (1963) càng thấy bồi hồi vì cái rễ máu mình đang thọc sâu rừng Tây Nguyên, rừng U Minh, thọc sâu và đội lên cả gạch đá phố Sài Gòn.
(Trích Tờ hoa, Tuyển tập Nguyễn Tuân (tập 2), NXB Văn học, 1998, trang 5-7).
Câu hỏi:
Câu 1: Dòng nào không nói lên đặc điểm của văn bản Tờ hoa?
A. Chất trữ tình; chất khảo cứu.
B. Chất trữ tình; chất truyện.
C. Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng.
D. Dựa trên tiêu chí về đề tài.
Câu 2: Yếu tố tự sự và vai trò của chúng trong văn bản Tờ hoa là:
A. Cốt truyện, sự việc, nhân vật.
B. Các sự việc mà tác giả đã trải qua.
C. Câu chuyện/ các sự việc đời sống có liên quan đến mạch cảm xúc, liên tưởng và suy ngẫm của tác giả
D. Câu chuyện/ các sự việc đời sống khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả.
Câu 3: Những số liệu trong đoạn văn Từ “Người ta ... của 2.700.000 chuyến (bay) đi… đến là 8.000.000 cây số” nhằm thể hiện suy ngẫm gì của người viết?
A. Dòng cảm xúc trước con người /cuộc sống
B. Mạch liên tưởng, suy tư trước sự việc, con người
C. Tình huống nhận thức
D. Bài học về tính kiên nhẫn, cần lao, về tích lũy, về chế tạo và sáng tạo.
Câu 4: Câu văn “Sự tích lũy ở mình cũng ngày càng có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống” thể hiện ý nghĩa gì trong nghề viết?
A. Quá trình thâm nhập thực tiễn đời sống sẽ tạo nên những tác phẩm hay cho đời
B. Nhà văn càng chịu khó học hỏi, thâm nhập cuộc sống sẽ đem đến giá trị, ý nghĩa cho tác phẩm
C. Nhà văn cần sống trọn vẹn với đời sống sẽ viết được những tác phẩm hay.
D. Quá trình thâm nhập, tích lũy vốn sống, vốn văn hóa sẽ giúp nhà văn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, ý nghĩa.
Câu 5: Mạch gắn kết câu chuyện về con ong, về nghề văn và cách tạo ra ngọc trai thể hiện suy ngầm độc đảo nào của tác giả?
A. Hành trình gian nan để tạo ra cái Đẹp trong cuộc đời.
B. Quá trình đạt thành tựu, kết quả trong cuộc sống.
C. Sự tương đồng/ khác biệt giữa vẻ đẹp tự nhiên và sáng tạo nghệ thuật.
D. Bất kỳ vẻ đẹp nào trong đời sống cũng bắt nguồn từ sự kiên nhẫn và khổ đau.
Câu 6: Dòng nào không nổi lên những triết lí về lao động và sáng tạo nghệ thuật trong tùy bút trên?
A. Để hiểu thấu cuộc sống và sáng tạo, cần sống trọn vẹn/thâm nhập hiện thực.
B. Sáng tạo là quá trình phát hiện tình huống/sự kiện độc đáo của thực tiễn.
C. Cái Đẹp chân chính bắt nguồn từ quá trình lao động, sáng tạo thực sự.
D. Giá trị lao động thực sự sẽ tạo nên bản sắc của mỗi cá nhân.
Câu 7: Qua mạch liên tưởng về con ong và sự hình thành ngọc trai, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào của cuộc sống?
A. Vẻ đẹp của thế giới tự nhiên muôn màu.
B. Vẻ đẹp văn hóa, lịch sử, địa lý.
C. Quá trình sáng tạo, lao động trong cuộc sống.
D. Vẻ đẹp của sự kiên nhẫn, sáng tạo, khổ đau âm thầm.
Câu 8: Dòng nào không nêu lên đặc điểm cái Tôi tác giả trong tùy bút Tờ hoa?
A. Mong muốn, khao khát khám phá những vùng đất mới của Tổ Quốc.
B. Ý thức với nghề, mong muốn thức tỉnh tâm linh con người về cái Đẹp.
C. Tự tin, tự hào với vẻ đẹp con người, dân tộc thời kỳ mới.
D. Say mê, khao khát khám phá cái Đẹp.
Trả lời câu hỏi/thực hiện yêu cầu:
Câu 9. Nhan đề Tờ hoa gợi cho em những suy ngẫm gì về vẻ đẹp của trang văn với trang đời? Từ đó, nhận xét cảm hứng chủ đạo trong văn bản (1đ)
Câu 10. Em có đồng ý với nhận định “Tôi đã lấy cách nhìn hạt ngọc mà nhìn vào sự biểu dương một công tác, một công trạng, một công trình” không? Vì sao?(0.5đ)
II. VIẾT (4 điểm)
Hãy lựa chọn một số từ ngữ sau, kết nối chúng để viết bài văn nghị luận với chủ đề: Giá trị tinh thần ý nghĩa nhất đối với tôi (từ 1,5- 2 trang)

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
D |
C |
D |
A |
D |
C |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1: Dòng nào không nói lên đặc điểm của văn bản Tờ hoa? A. Chất trữ tình; chất khảo cứu. B. Chất trữ tình; chất truyện. C. Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng. D. Dựa trên tiêu chí về đề tài. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên đặc điểm của văn bản Tờ hoa: Chất trữ tình; chất khảo cứu
→ Đáp án: A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2: Yếu tố tự sự và vai trò của chúng trong văn bản Tờ hoa là: A. Cốt truyện, sự việc, nhân vật. B. Các sự việc mà tác giả đã trải qua. C. Câu chuyện/ các sự việc đời sống có liên quan đến mạch cảm xúc, liên tưởng và suy ngẫm của tác giả D. Câu chuyện/ các sự việc đời sống khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các yếu tố tự sự có trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Yếu tố tự sự: Câu chuyện/ các sự việc đời sống
Vai trò: khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả.
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3: Những số liệu trong đoạn văn Từ “Người ta ... của 2.700.000 chuyến (bay) đi… đến là 8.000.000 cây số” nhằm thể hiện suy ngẫm gì của người viết? A. Dòng cảm xúc trước con người /cuộc sống B. Mạch liên tưởng, suy tư trước sự việc, con người C. Tình huống nhận thức D. Bài học về tính kiên nhẫn, cần lao, về tích lũy, về chế tạo và sáng tạo. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Những số liệu trên thể hiện tình huống nhận thức của tác giả
→ Đáp án: C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4: Câu văn “Sự tích lũy ở mình cũng ngày càng có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống” thể hiện ý nghĩa gì trong nghề viết? A. Quá trình thâm nhập thực tiễn đời sống sẽ tạo nên những tác phẩm hay cho đời B. Nhà văn càng chịu khó học hỏi, thâm nhập cuộc sống sẽ đem đến giá trị, ý nghĩa cho tác phẩm C. Nhà văn cần sống trọn vẹn với đời sống sẽ viết được những tác phẩm hay. D. Quá trình thâm nhập, tích lũy vốn sống, vốn văn hóa sẽ giúp nhà văn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, ý nghĩa. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn
Liên kết câu văn trong chỉnh thể toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
Câu văn thể hiện: Quá trình thâm nhập, tích lũy vốn sống, vốn văn hóa sẽ giúp nhà văn tạo ra những tác phẩm nghệ thuật có giá trị, ý nghĩa.
→ Đáp án: D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5: Mạch gắn kết câu chuyện về con ong, về nghề văn và cách tạo ra ngọc trai thể hiện suy ngẫm độc đáo nào của tác giả? A. Hành trình gian nan để tạo ra cái Đẹp trong cuộc đời. B. Quá trình đạt thành tựu, kết quả trong cuộc sống. C. Sự tương đồng/ khác biệt giữa vẻ đẹp tự nhiên và sáng tạo nghệ thuật. D. Bất kỳ vẻ đẹp nào trong đời sống cũng bắt nguồn từ sự kiên nhẫn và khổ đau. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý chi tiết con ong, cách tạo ra ngọc trai và mạch gắn kết với nghề viết văn
Lời giải chi tiết:
Mạch gắn kết: tất cả là biểu hiện cho hành trình gian nan để tạo ra cái Đẹp trong cuộc đời
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6: Dòng nào không nói lên những triết lí về lao động và sáng tạo nghệ thuật trong tùy bút trên? A. Để hiểu thấu cuộc sống và sáng tạo, cần sống trọn vẹn/thâm nhập hiện thực. B. Sáng tạo là quá trình phát hiện tình huống/sự kiện độc đáo của thực tiễn. C. Cái Đẹp chân chính bắt nguồn từ quá trình lao động, sáng tạo thực sự. D. Giá trị lao động thực sự sẽ tạo nên bản sắc của mỗi cá nhân. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên những triết lí về lao động và sáng tạo nghệ thuật trong tùy bút trên:
Giá trị lao động thực sự sẽ tạo nên bản sắc của mỗi cá nhân
→ Đáp án: D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7: Qua mạch liên tưởng về con ong và sự hình thành ngọc trai, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào của cuộc sống? A. Vẻ đẹp của thế giới tự nhiên muôn màu. B. Vẻ đẹp văn hóa, lịch sử, địa lý. C. Quá trình sáng tạo, lao động trong cuộc sống. D. Vẻ đẹp của sự kiên nhẫn, sáng tạo, khổ đau âm thầm. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Qua mạch liên tưởng về con ong và sự hình thành ngọc trai, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp trong quá trình sáng tạo, lao động trong cuộc sống
→ Đáp án: C
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8: Dòng nào không nêu lên đặc điểm cái Tôi tác giả trong tùy bút Tờ hoa? A. Mong muốn, khao khát khám phá những vùng đất mới của Tổ Quốc. B. Ý thức với nghề, mong muốn thức tỉnh tâm linh con người về cái Đẹp. C. Tự tin, tự hào với vẻ đẹp con người, dân tộc thời kỳ mới. D. Say mê, khao khát khám phá cái Đẹp. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm cái tôi tác giả trong tùy bút Tờ hoa:
Ý thức với nghề, mong muốn thức tỉnh tâm linh con người về cái Đẹp
→ Đáp án B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9. Nhan đề Tờ hoa gợi cho em những suy ngẫm gì về vẻ đẹp của trang văn với trang đời? Từ đó, nhận xét cảm hứng chủ đạo trong văn bản (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ nhan đề và nội dung văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề Tờ hoa:
+ Nghĩa tường minh: nói về những trang văn có ý nghĩa, có giá trị đẹp, giống như hoa trong cuộc sống – vốn biểu tượng cho sự tinh túy của tự nhiên, đất trời
+ Nghĩa biểu tượng: thể hiện tuyên ngôn nghệ thuật của Nguyễn Tuân, gắn vẻ đẹp nghệ thuật với cuộc sống: Để viết được những trang văn đầy sắc hương có ích cho đời “như hoa” thì người nghệ sĩ phải luôn lao tâm, khổ tứ, nhiều khi phải âm thầm, xót xa, khổ đau, phải được sống, được tận mắt chứng kiến cuộc đời cũng như có một gia tài văn hóa sâu rộng, phong phú
- Cảm hứng chủ đạo: Yêu thương, say mê trước vẻ đẹp đất nước, con người mới sau Cách mạng tháng Tám. Trân trọng quá trình lao động sáng tạo, hình thành vẻ đẹp trong tự nhiên và đời sống. Những yêu thương, say mê đó hóa thành tâm hồn với những dòng xúc cảm, rung động giàu liên tưởng
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10. Em có đồng ý với nhận định “Tôi đã lấy cách nhìn hạt ngọc mà nhìn vào sự biểu dương một công tác, một công trạng, một công trình” không? Vì sao?(0.5đ) |
Phương pháp:
Nêu quan niệm của bản thân
Phân tích nhận định
Lời giải chi tiết:
- Câu văn trên được hiểu là: Khi nhìn thấy thành quả/ thành tựu, ta cần nhận thấy, hiểu được quá trình gian nan, khó nhọc, nhiều khi âm thầm, đau đớn, xót xa để đạt được nó
- HS có thể nêu quan điểm cá nhân, dựa vào gợi ý sau:
+ Cần có sự đánh giá quá trình khi nhận xét một kết quả, một thành tích
+ Cần có sự ghi nhận, trân trọng công sức, lao động sáng tạo thực sự của con người
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Hãy lựa chọn một số từ ngữ sau, kết nối chúng để viết bài văn nghị luận với chủ đề: Giá trị tinh thần ý nghĩa nhất đối với tôi (từ 1,5- 2 trang)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài nghị luận về giá trị tinh thần của tôi |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Lựa chọn từ ngữ kết nối với giá trị bản thân - Nêu rõ vấn đề nghị luận (ước mơ/khát vọng…) |
|
Thân bài |
2,5 |
Gồm các ý chính như sau: 1. Giải thích và nêu biểu hiện của vấn đề 2. Bàn luận – Chứng minh làm rõ ý nghĩa vấn đề - Gồm ít nhất 2 lí lẽ dẫn chứng thể hiện: + Ý nghĩa đối với nhận thức, hành động bản thân + Tác động tới sự kết nối, hòa nhập cộng đồng của cá nhân - Quan điểm của người viết rõ ràng, toàn diện *Lưu ý: Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể, xác thực; kết hợp yếu tố biểu cảm; mở rộng góc nhìn đa chiều nhưng đảm bảo phù hợp với giá trị văn hóa dân tộc, nhân loại) |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định vai trò của vấn đề nghị luận - Liên hệ nhận thức, hành động bản thân khi tìm được giá trị tinh thần ý nghĩa nhất: + Thay đổi nhận thức khi có điểm tựa tinh thần + Hành động cụ thể: Cần làm gì để giữ gìn và phát huy động lực, sức mạnh từ giá trị tinh thần ý nghĩa nhất đó |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản:
MIẾNG NGON HÀ NỘI
(Vũ Bằng)
Kỳ lạ đến thế là cùng, Hà Nội ạ!
Hà Nội... ngon... quá xá! Hà Nội ngon không mãi chỉ ngon về những miếng ngon đặc biệt, nhưng ngon từ cách ăn uống ngon đi, ngon từ cách rao hàng quà ngon xuống, ngon từ cách trình bày ngon tới, ngon từ cách thái miếng thịt, chia miếng bánh ngon lui.
[...] Miếng ngon của Hà Nội có phải đâu là mấy thứ đó mà thôi, Hà Nội ngon là ngon từ cái dưa, quả cà, trách mắm; Hà Nội ngon là ngon từ bát canh hoa lý nấu suông, mấy cái trứng cáy chưng lên ăn với gạo Mễ Trì hay đĩa rau muống xào có gia thêm một chút mắm tôm, Hà Nội ngon là ngon từ miếng cá thu kho với nước mía ăn với gạo tám thơm vào đầu đông, mấy bìa đậu sống ở Phú Thụy chấm với mắm tôm chanh ớt vào một ngày oi bức hay một chén sấu dầm nhắm nhót một ngày đìu hiu vào cuối thu.
Thực vậy, ăn một bữa cháo ám mà thiếu thìa là, cải cúc thì còn ra trò gì? Thưởng thức một bữa mắm tôm chua, mà về gia vị không tìm được mấy cánh lá bạc hà hay một chút rau thơm, nhất định không thể nào toàn bích. Cũng vậy, người nội trợ muốn làm ăn khéo tay đến mấy đi nữa, mà canh dưa nấu lạc thiếu rau diếp và mùi tô điểm, hay ăn cuốn mà không có giấm cái, thang mà không có mắm tôm, thì cũng không thể làm cho ta mãn nguyện. Ôi là miếng ngon Hà Nội! Cái ngon thiên hình vạn trạng làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn; cái ngon làm cho người ta thương mến nước non, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ thương đi, thương mến từ con cá, miếng thịt của đồng bào mà thương lại; cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải quý hóa từ mấy lá thìa là, cải cúc, từ một xóc cua đồng, từ mấy ngọn húng láng của những người nơi thôn ổ đã chăm chút trồng nên [...].
Cái ngon của Hà Nội thật là phiền toái mà kiểu cách. Người vợ thương chồng muốn làm nên một miếng ăn ngon, thực quả đã công phu; những công phu, vất vả đến chừng nào đi nữa mà thấy chồng sung sướng thì cũng đã thấy được đền bù đầy đủ lắm rồi... Huống chi, nhiều lúc, miếng ăn ngon lại còn trói buộc tinh thần người ta lại với nhau, tưởng như không có cách gì khả dĩ chia lìa được...
Một buổi kia, thân thể anh cũng mỏi mệt như linh hồn anh, anh tự nhiên thấy nhớ đến một bát canh rau sắng do tự tay vợ nấu, một đĩa chè kho vợ quấy, một con chim ngói nhồi cốm nấm hương, và thịt thăn do vợ hầm. Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thể nào quên được. Đi xa, có khi nhớ mà se sắt cả lòng, ăn uống mất cả dâng lên nghẹn họng. Ta tương tư tất cả những miếng ngon Hà Nội đã chiếm lòng hoa rơi, một câu hát của người thiếu phụ ru con trên võng... đều nhắc nhở ta nhớ ta. Một ngọn gió thay chiều, một trận mưa xanh lạnh, một con chim hót, một cánh đến một thời trên, một miếng ngon đặc biệt của Hà Nội mến yêu. [...]
Ôi nhớ biết mấy, cảm bao nhiêu! Tả làm sao được những cảm giác nhẹ nhàng và tế nhị của những buổi sáng Chủ nhật lên chợ Đồng Xuân, ta đi vào khu hàng quà, cách dãy hàng cây, hàng cá mươi mười lăm bước? Thật quả là “trên thì trời, dưới thì hàng quà, ông ạ. Phải tới đó một hai lần rồi, người ta mới có thể có một “khái niệm tổng quát” về miếng ngon Hà Nội và thấu hiểu rằng miếng ngon liên kết các giai cấp xã hội với nhau chặt chẽ đến chừng nào. Tà áo màu tươi bay cạnh bộ com lê xám; vai áo tứ thân phai màu sát với cái khăn quàng bằng nỉ màu vàng lợt. Người ta ngồi ở trên những cái ghế dài, thưởng thức các miếng ngon Hà Nội vui vẻ như anh em ruột thịt trong một nhà, người này thấy món nọ ngon thì mách người kia, người kia thấy thức kia kém thì bảo cho người nọ. Hết thảy đều vui vẻ tươi cười. Và trông thấy những cái miệng nhai dẻo quẹo, những con mắt như cười, những nét mặt nở nang, tươi thắm ở trên những hàng quà tinh khiết đó, người ta cảm giác thấy đời ít nhất cũng có một cái gì ý vị […]
Quái lạ là cái miếng ngon! Mỗi thứ nhắc lại cho ta những kỷ niệm vui hay buồn, mỗi thứ nhắc lại cho ta một thời kỳ đã qua đi không trở lại. Miếng ngon Hà Nội nhiều biết bao nhiêu! Yêu miếng ngon Hà Nội nhiều biết chừng nào![...]
Miếng ngon của Hà Nội bao giờ cũng thế, cũng trầm lặng như vậy và cũng tiết ra một hương thơm như vậy. Hương thơm đó ngạt ngào, quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau, như một lời ân ái của tình nhân để lại cho tình nhân, như một lời tâm sự của một người anh yêu mến gởi cho cô em gái. Bao giờ phai lạt được những niềm yêu thương ấy? Bao giờ “ăn Bắc” lại không có nghĩa là ăn ngon? Ta mơ ước một ngày đất nước thanh bình, toàn dân sát cánh với nhau ăn mừng Đại Nhật bằng một bữa tiệc vĩ đại có đủ hết cả những miếng ngon Hà Nội.
(https://goeco.link/1THKO)
Câu hỏi:
Câu 1. Xác định đề tài chính của tùy bút Miếng ngon Hà Nội.
A. Văn hóa ẩm thực.
B. Món ngon của quê hương
C. Ẩm thực Hà Thành
D. Tình cảm vợ chồng
Câu 2. Dòng nào nêu đặc điểm của văn bản Miếng ngon Hà Nội trên?
A. Chất trữ tình; chất truyện.
B. Dựa trên tiêu chí về đề tài.
C. Chất trữ tình; chất khảo cứu.
D. Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng.
Câu 3. Yếu tố tự sự thể hiện trong văn bản Miếng ngon Hà Nội là:
A. Lịch sử xuất hiện các món ăn ngon của Hà Nội.
B. Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến công phu, tinh tế của người nấu.
C. Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến cầu kỳ của người vợ.
D. Câu chuyện/các sự việc đời sống khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả.
Câu 4. Những cảm hứng nào được kết hợp khi viết về đề tài ẩm thực của văn bản trên:
A. Cảm hứng lãng mạn, cảm hứng bi kịch.
B. Cảm hứng thế sự, cảm hứng anh hùng.
C. Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng trữ tình/lãng mạn.
D. Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng anh hùng.
Câu 5. Mạch liên tưởng các câu chuyện về món ngon Hà Nội trong văn bản trên là:
A. Niềm nhớ thương, hoài vọng về con người, mảnh đất quê hương.
B. Thương nhớ quê hương và gia đình Bắc Việt
C. Thể hiện thế giới tinh thần và đời sống tình cảm tác giả.
D. Thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của người viết.
Câu 6. Sự kết hợp yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong câu văn sau có ý nghĩa gì?
“Cái ngon thiên hình vạn trạng làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn; cái ngon làm cho người ta thương mến nước non, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ thương đi, thương mến từ con cá, miếng thịt của đồng bào mà thương lại; cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải quý hóa từ mấy lá thìa là, cải cúc, từ một xóc cua đồng, từ mấy ngọn húng láng của những người nơi thôn ổ đã chăm chút trồng nên”.
A. Thể hiện lối thưởng thức hương hoa đất trời tinh tế của người Hà Thành.
B. Sự khéo léo, tinh tế trong việc chọn nguyên liệu, chế biến các món ngon.
C. Thưởng thức món ngon khơi nguồn mạch thương nhớ về nơi chôn rau cắt
D. Thưởng thức món ăn chính là việc cảm nhận cái tinh túy/vẻ đẹp của hồn người, hồn đất quê hương.
Câu 7. Vì sao tác giả cho rằng “Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thể nào quên được”
A. Vì mỗi món ăn gắn liền với một kỷ niệm/kí ức của gia đình.
B. Vì món ăn gắn liền với cỏ cây, sản vật gia đình, quê hương.
C. Vì gắn với tấm lòng của người chế biến, gợi nhắc vẻ đẹp tinh túy của quê hương.
D. Vì việc thưởng thức các món ăn được nhìn qua lăng kính hoài niệm.
Câu 8. Qua dòng cảm xúc hồi tưởng về các món ăn, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào trong văn hóa ẩm thực của người Hà Thành?
A. Gu chế biến món ăn giàu tính thẩm mĩ, văn hóa-lịch sử.
B. Lối thưởng thức hương hoa cuộc sống thanh lịch, tinh tế gắn liền với nỗ nhớ về nơi chôn rau cắt rốn.
C. Sau các món ăn, đó là nét đẹp cần mẫn, sáng tạo của con người.
D. Văn hóa ẩm thực luôn gắn liền với hương sắc quê hương.
Trả lời câu hỏi/thực hiện yêu cầu:
Câu 9. Cảm hứng chủ đạo trong Món ngon Hà Nội là gì? Từ đó, nhận xét chân dung tinh thần cái Tôi tác giả (1đ)
Câu 10. Em có đồng ý món ngon Hà Nội tiết ra “Hương thơm… ngạt ngào, quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau” không? Vì sao? (1đ)
II. VIẾT (4 điểm)
Câu 1. Quan sát hai bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


a. Tìm điểm tương đồng và khác biệt của hai bức ảnh trên
b. Bức ảnh nào liên quan tới chủ đề của văn bản Miếng ngon Hà Nội. Phân tích làm rõ sự kiện liên quan đó
Câu 2. Hãy lựa chọn một số từ ngữ sau, kết nối chúng để viết bài văn nghị luận với chủ đề: Bản sắc dân tộc – Những vẻ đẹp vượt thời gian (từ 1,5-2 trang) (3đ)

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
D |
B |
C |
A |
A |
C |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Xác định đề tài chính của tùy bút Miếng ngon Hà Nội. A. Văn hóa ẩm thực. B. Món ngon của quê hương C. Ẩm thực Hà Thành D. Tình cảm vợ chồng |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và tiêu đề
Lời giải chi tiết:
Đề tài chính của tùy bút Miếng ngon Hà Nội: Văn hóa ẩm thực
→ Đáp án: A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Dòng nào nêu đặc điểm của văn bản Miếng ngon Hà Nội trên? A. Chất trữ tình; chất truyện. B. Dựa trên tiêu chí về đề tài. C. Chất trữ tình; chất khảo cứu. D. Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết tiêu biểu thể hiện đặc điểm của văn bản
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm của văn bản Miếng ngon Hà Nội trên: Chất trữ tình; hồi ức/ hồi tưởng
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Yếu tố tự sự thể hiện trong văn bản Miếng ngon Hà Nội là: A. Lịch sử xuất hiện các món ăn ngon của Hà Nội. B. Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến công phu, tinh tế của người nấu. C. Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến cầu kỳ của người vợ. D. Câu chuyện/các sự việc đời sống khơi gợi mạch cảm xúc, tình cảm của tác giả. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết thể hiện yếu tố tự sự
Lời giải chi tiết:
Yếu tố tự sự thể hiện trong văn bản Miếng ngon Hà Nội là: Ký ức về việc thưởng thức các món ngon, về sự chế biến công phu, tinh tế của người nấu
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Những cảm hứng nào được kết hợp khi viết về đề tài ẩm thực của văn bản trên: A. Cảm hứng lãng mạn, cảm hứng bi kịch. B. Cảm hứng thế sự, cảm hứng anh hùng. C. Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng trữ tình/lãng mạn. D. Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng anh hùng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về một số cảm hứng tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Những cảm hứng được kết hợp khi viết về đề tài ẩm thực của văn bản trên: Cảm hứng văn hóa - lịch sử, cảm hứng trữ tình/lãng mạn
→ Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Mạch liên tưởng các câu chuyện về món ngon Hà Nội trong văn bản trên là: A. Niềm nhớ thương, hoài vọng về con người, mảnh đất quê hương. B. Thương nhớ quê hương và gia đình Bắc Việt C. Thể hiện thế giới tinh thần và đời sống tình cảm tác giả. D. Thể hiện vẻ đẹp tâm hồn, tính cách của người viết. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Mạch liên tưởng các câu chuyện về món ngon Hà Nội trong văn bản trên là: Niềm nhớ thương, hoài vọng về con người, mảnh đất quê hương
→ Đáp án: A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Sự kết hợp yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình trong câu văn sau có ý nghĩa gì? “Cái ngon thiên hình vạn trạng làm cho người ta cảm thấy say sưa cuộc sống còn; cái ngon làm cho người ta thương mến nước non, thương mến từ cái cây, ngọn cỏ thương đi, thương mến từ con cá, miếng thịt của đồng bào mà thương lại; cái ngon làm cho người ta tự bắt buộc phải quý hóa từ mấy lá thìa là, cải cúc, từ một xóc cua đồng, từ mấy ngọn húng láng của những người nơi thôn ổ đã chăm chút trồng nên”. A. Thể hiện lối thưởng thức hương hoa đất trời tinh tế của người Hà Thành. B. Sự khéo léo, tinh tế trong việc chọn nguyên liệu, chế biến các món ngon. C. Thưởng thức món ngon khơi nguồn mạch thương nhớ về nơi chôn rau cắt D. Thưởng thức món ăn chính là việc cảm nhận cái tinh túy/vẻ đẹp của hồn người, hồn đất quê hương. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn
Chú ý các chi tiết thể hiện yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình
Lời giải chi tiết:
Yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình có ý nghĩa: Thể hiện lối thưởng thức hương hoa đất trời tinh tế của người Hà Thành
→ Đáp án: A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Vì sao tác giả cho rằng “Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thể nào quên được” A. Vì mỗi món ăn gắn liền với một kỷ niệm/kí ức của gia đình. B. Vì món ăn gắn liền với cỏ cây, sản vật gia đình, quê hương. C. Vì gắn với tấm lòng của người chế biến, gợi nhắc vẻ đẹp tinh túy của quê hương. D. Vì việc thưởng thức các món ăn được nhìn qua lăng kính hoài niệm. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Phân tích ý nghĩa cụm từ “liên hệ tinh thần”
Lời giải chi tiết:
Tác giả cho rằng “Những món ăn đó có những liên hệ tinh thần bí mật và tế nhị nối ta với gia đình, làm cho ta không thể nào quên được” vì: Vì những món ăn đó gắn với tấm lòng của người chế biến, gợi nhắc vẻ đẹp tinh túy của quê hương
→ Đáp án: C
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Qua dòng cảm xúc hồi tưởng về các món ăn, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp nào trong văn hóa ẩm thực của người Hà Thành? A. Gu chế biến món ăn giàu tính thẩm mĩ, văn hóa-lịch sử. B. Lối thưởng thức hương hoa cuộc sống thanh lịch, tinh tế gắn liền với nỗ nhớ về nơi chôn rau cắt rốn. C. Sau các món ăn, đó là nét đẹp cần mẫn, sáng tạo của con người. D. Văn hóa ẩm thực luôn gắn liền với hương sắc quê hương. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Qua dòng cảm xúc hồi tưởng về các món ăn, tác giả đã phát hiện những vẻ đẹp trong văn hóa ẩm thực của người Hà Thành: Lối thưởng thức hương hoa cuộc sống thanh lịch, tinh tế gắn liền với nỗ nhớ về nơi chôn rau cắt rốn
→ Đáp án B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9. Cảm hứng chủ đạo trong Món ngon Hà Nội là gì? Từ đó, nhận xét chân dung tinh thần cái Tôi tác giả (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào những phân tích ở các câu trên
Lời giải chi tiết:
- Cảm hứng chủ đạo: Niềm thương nhớ, nuối tiếc, quyến luyến nếp sống của cha ông qua việc thưởng thức các món ngon Hà Nội
- Chân dung tinh thần cái Tôi tác giả: Say mê, ca ngợi ẩm thực Hà Thành; nhớ thương/ phát hiện được lối thưởng thức hương hoa cuộc sống thanh lịch , tinh tế; nhớ quà, nhớ người, nhớ đất, nhớ quê hương; trân trọng, tự hào giá trị văn hóa dân tộc…
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10. Em có đồng ý món ngon Hà Nội tiết ra “Hương thơm… ngạt ngào, quyến luyến như một lời tâm sự của người xưa để lại cho người sau” không? Vì sao? (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào những phân tích ở các câu trên
Đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Theo tác giả, món ngon Hà Nội tiết ra hương thơm… như lời tâm sự của người xưa kể lại cho đời sau vì:
+ Thông qua món ăn, hiểu nét đẹp văn hóa truyền thống của dân tộc
+ Món ăn tái hiện đời sống hiện thực, không gian tâm tình của con người thời đại
+ Món ăn là cầu nối gắn kết con người các thế hệ , một thành tố thể hiện tầm vóc văn hóa dân tộc
- HS căn cứ vào gợi ý trên đưa ra quan điểm cá nhân
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Câu 1. Quan sát hai bức ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
a. Tìm điểm tương đồng và khác biệt của hai bức ảnh trên
b. Bức ảnh nào liên quan tới chủ đề của văn bản Miếng ngon Hà Nội. Phân tích làm rõ sự kiện liên quan đó
Phương pháp giải
a. Quan sát kĩ 2 bức ảnh và đưa ra nhận xét về điểm tương đồng và khác biệt
b. Đưa ra quan điểm cá nhân , sau đó tìm mối liên quan
Lời giải chi tiết
a. Điểm tương đồng: Đều đề cập đến nét đẹp văn hóa giao lưu cộng đồng/xã hội.
- Điểm khác biệt: Bức 1 nói về sự giao thoa văn hóa trên thế giới; bức 2 nói đến sinh hoạt văn hóa cộng đồng của đồng bào Tây Nguyên (Việt Nam).
b. Bức 2 liên quan đến chủ đề của văn bản đọc: Bản sắc dân tộc/vùng/miền được hình thành qua các hoạt động gắn kết, sinh hoạt với quê hương.
- HS đọc kỹ văn bản, tự tìm mối liên quan: việc thưởng thức, chế biến món ăn của người Hà Thành (qua các thời kỳ lịch sử) đã tạo thành giá trị văn hóa ẩm thực độc đáo – cơ sở hình thành bản sắc dân tộc Việt.
Câu 2. Hãy lựa chọn một số từ ngữ sau, kết nối chúng để viết bài văn nghị luận với chủ đề: Bản sắc dân tộc – Những vẻ đẹp vượt thời gian (từ 1,5-2 trang) (3đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài nghị luận về Bản sắc dân tộc – Những vẻ đẹp vượt thời gian (HS lựa chọn 1 từ ngữ thể hiện giá trị tinh thần ý nghĩa nhất với bản thân) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Lựa chọn từ ngữ kết nối với bản sắc dân tộc (một trong các yếu tố hoặc kết hợp) Ví dụ: Phong tục-văn hiến-Bản sắc dân tộc; Lịch sử- văn hiến- trang phục-bản sắc dân tộc; Tín ngưỡng/tôn giáo- Bản sắc dân tộc... - Khẳng định giá trị vượt thời gian của vấn đề đã lựa chọn. |
|
Thân bài |
1,5 |
Gồm các ý chính như sau: 1. Giải thích và nêu biểu hiện của giá trị văn hóa. 2. Bàn luận - Chứng minh làm rõ ý nghĩa vấn đề - Gồm ít nhất 2 lí lẽ kèm dẫn chứng thể hiện: + Ý nghĩa với Văn hóa truyền thống dân tộc. + Tạo cơ sở cho sự giao thoa, tiếp biến với nền văn hóa thế giới, vẫn giữ được bản sắc dân tộc . - Quan điểm của người viết rõ ràng, toàn diện. (Lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể, xác thực; dùng yếu tố biểu cảm, mở rộng góc nhìn đa chiều, phù hợp với văn hóa dân tộc/nhân loại). |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định vai trò của vấn đề nghị luận. - Liên hệ nhận thức, hành động bản thân góp phần thay đổi nhận thức, kế thừa và phát huy giá trị bản sắc dân tộc. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
MÒ SÂM PANH (NAM CAO)
Chú bếp Tư rất thận trọng về vấn đề giữ vệ sinh. Ông thường nói rằng: Khí hậu ở đây chẳng được lành; những người chưa quen với thủy thổ miền nhiệt đới, đến đây mà chẳng biết giữ thân, khó khỏi chết vì nguy hiểm ấy truyền nhiễm phần nhiều do nước bẩn. Bởi vậy nước ăn của ông phải coi giữ như thế nào cho thật sạch. Cái bể nước của ông, ông coi quý gần bằng vợ ông. Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông nữa. Bởi vì vợ ông ông có thể để người khác bắt tay, chứ bể nước mà đứa nào dám nhúng tay bẩn hay cái "sô" bẩn vào thì cứ liệu cái thần hồn với ông.
Ở nhà chủ, bếp Tư thích nhất cái bể nước ăn này. Nó to bằng cả một căn nhà rộng, nước mưa ở trên các mái nhà theo hai cái ống máng mà trút xuống. Mặt bể bưng kín mít, trừ một máng vuông, mỗi bể chừng một thước, có nắp kín như nắp cống. Những ngày nghỉ vợ chồng ông chủ về Hà nội, thằng Tề con bác bếp vẫn đậy nắp bể cho thật kín rồi trèo lên mặt bể, co một chân lên bắt chước Lã Bố đi bài tẩu hoặc nhảy huỳnh huỵch để bắt chước Võ Tòng sát tẩu. Cái mặt bể toàn xi măng cốt sắt, bốn mươi thằng Tề nhảy cũng không việc gì.
Tề là con một bác Tư. Mẹ nó chết mới xong tang. Bố nó tính hiền lành nên rất yêu con. Chẳng như những bồi bếp khác, nay vợ này, mai vợ khác, hoặc nhân tình nhân ngãi với bọn cô đầu, nhà thổ. Vợ chết quá ba năm rồi mà nghĩ đến lúc nào bác ta vẫn còn thương. Có khi đang ngồi bác tự nhiên khóc hu hu. Hỏi bác thì bác bảo: cũng ngày này năm nọ, bác xin được phép chủ về quê ra đón vợ ra ở đây luôn với bác, thế mà bây giờ vợ bác đã nỡ bỏ bác mà đi cho đành! Chẳng ngày rằm, mùng một nào bác không thắp hương cúng vợ.
Cúng xong bác rơm rớm nước mắt, thở dài thở ngắn. Tề thấy thế cũng thương cha vô cùng. Chỉ thương suông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được. Nghĩa là phải kính mến nghe lời, giúp đỡ. Thầy giáo Tề bảo thế. Cũng vừa mới bảo lúc nãy thôi, khi giảng nghĩa bài luân lý. Bởi vậy, cắp sách về đến nhà trông thấy bố, Tề nhớ lại. Và Tề có ý nhìn xem bố làm gì. Làm gì? Bác Tư đang vắt cái bụng lên thành bể, hai chân đeo lủng lẳng ở bên ngoài, phần trên người đang buông thõng xuống ở bên trong. Không có lý bác gội đầu bằng cách ấy. Tề im mình đánh thót. Ấy là bác thoáng trông thấy có người đứng cạnh mà không biết người ấy là Tề. Tề mỉm cười, khẽ hỏi.
Bác Tư ấp úng một lát rồi mới nói ra lời được.
- À! Mày... mày đấy à!
Bác nhe những cái răng đen lờ lờ ra cười khì khì. Bởi thật thà thì trống ngực bác ta còn đập. Bác mới hơi định thần.
Tề hối hận vì đã làm cho cha hoảng sợ. Nó nhìn cha, ái ngại. Cha nó bảo :
- Mẹ nó! Tao đánh rơi chai " sâm banh " vào trong này rồi!
- Thì thầy thử thò tay vào mà quờ xem.
Có được chó người ta đấy! đầu ngón tay mới chỉ hơi nhúng nước.
- Thế làm sao được?
- Vậy mới rầy rà chứ! Lát nữa không có rượu uống thì bỏ cha!
Tề nghĩ ngợi rồi nói nhỏ:
- Hay để con lội vào?
Bác Tư lại nhe răng ra, khì khì:
- Có được chó!
- Được.
Nhưng ghét mày nó ra, bẩn nước thì có mà vất đi.
- Không, thế này chứ lỵ! Con lấy xà phòng tắm rồi rửa chân thật sạch, rồi mới vào trong bể.
Thằng oắt này ranh thật. Nó có tài biến báo. Bác Tư nhìn con, ra dáng phục. Nhưng bác vẫn chưa nhất định. Răng bác vẫn nhe ra để cười một cái cười do dự. Đây là một kẻ nhút nhát đang bị người ta xui làm liều nhưng Tề đã quyết. Nó chạy tọt vào nhà để cất sách vở và cởi quần, cởi áo. Một lát sau, nó trần truồng chạy ra.
- Con tắm nhé !
- Nhưng mà thôi, con ạ. Nhỡ bà ấy biết.
Bà ấy là bà chủ. Tề nhìn lên gác, hỏi:
- Bà ấy thức hay ngủ?
- Ngủ, nhưng ngộ bà ấy dậy?...
- Không sợ! Thầy lên đóng cái cửa ở đầu cầu thang lại. Đóng lần ngoài, như vậy bà ấy có dậy cũng không xuống được. Hễ bà ấy gọi thì con ra , chạy vào nhà, ta đóng cửa lại rồi thầy hãy lên mở cửa cho bà ấy.
Sau mấy phút do dự nữa, bác Tư đành nghe con vậy. Cái mẹo của nó được đem ra thi hành. Tề tắm rửa xong rồi, bác Tư cẩn thận giội cho con thật sạch. Rồi bác nhấc nó lên , từ từ thả vào trong bể.
Thằng bé thấy cái trò ngộ nghĩnh, cười hi hí. Nó nghĩ đến cuộc bơi lặn trong cái hồ kín như hang này.
- Khéo nhé! sâu lắm đấy !
- Được, con bơi giỏi lắm. Thầy cứ buông.
Tề rơi đánh thóm. Thì bỗng cửa ngoài lịch kịch rồi có tiếng giày tây cồm cộp đi vào.
- Chết rồi ông ấy về!
Bác Tư kêu lên, hoảng hồn. Bởi vì bác sơ ý, mới nghĩ đến việc ngăn bà chủ mà quên ông chủ. Giờ này tan sở.
Bác chưa kịp cài then cửa ngoài, bác giục Tề:
- Ra đi! Ra đi!
Nhưng sao kịp? Ông ấy đã tiến vào đến sân. Bác Tư đứng thẳng người lên. Bác hóa ra tượng đá. Ông chủ nhận thấy, sinh ngờ vực. Ông nhìn vào mắt bác. Bác thấy chân tay bủn rủn , hơi thở gần bị tắc. Giấp luôn mấy tiếng bà chủ ở trên gác gọi :
- Tư! Tư!
- Bà đầm!
- La porte! La porte! (cái cửa! cái cửa!)
Và tay bà đập vào cái cửa kêu thình thịch. Bà vừa đập vừa nói một tràng những tiếng gì choe choé. Bác Tư không nghe kịp nhưng cũng hiểu thế là bà bắt. Bác cuống quít. Nhất là mắt ông chủ vẫn trừng trừng nhìn bá, nghiêm khắc và chế nhạo. Ông hất hàm.
Bác Tư cúi đầu bối rối. Ông đoán ngay là bác đang làm một việc gì vụng trộm. Ăn cắp đồ chẳng hạn. Ông nhìn chung quanh bác. Không có đồ gì cả. Ông nhìn cái cửa buồng của bác. Cánh cửa buồng hé mở. Ông mỉm cười. Bởi vì ông tưởng đã đoán được cái việc dấu giếm của người bếp hiền lành ấy. Muốn cuộc gì ông cũng cuộc. Thế chết thế nào cũng có, một con gái trong cái buồng nhỏ kia. Một cố gái đang luống cuống với những áo quần vắt trên thành giường. Cái này không phải một tội. Khi vợ người ta chết đã ba năm và mấy tháng!... Nhưng thấy bác bếp tỏ ra sợ hãi, ông muốn đùa một chút. Ông nói to lên bảo vợ :
- Đợi một tí. Tôi mở cho.
Bà vợ rú lên:
- Ồ! Vậy ra mình đấy ư?
- Ừ, tôi đây! Tôi lên giờ.
Và ông cố chắp nối mấy tiếng thật rõ rệt, cho người bếp hiểu :
- Moi oublier Innettes bureau. Lunette (ông vừa nhắc lại tiếng ấy vừa lấy ngón tay trỏ chung quanh mắt để vẽ hình cái kính) biếc?
- Uẩy xừ!
- Va chercher (đi tìm).
- Uẩy xừ.
Tuy mồm "uẩy "mà bác Tư vẫn không nhúc nhích. Ông chủ tưởng người bếp của ông không hiểu, ông lại nói, lại ra hiệu lại. Rồi lại nói:
- Biếc?
Thì có gì mà chả biết? Tiếng tây bác Tư đã thạo. Ông nói thế là muốn bảo: Ông để quên cái kính ở sở và sai bác đi lấy về. Hiểu lắm, nhưng còn thằng Tề trong cái bể?... Ông chủ giục:
- A lê! Maoo!
Mồm nói, tay ông nắm vai bác mà đẩy ra phía cửa.
- Uẩy xừ!
Bác đậy vội cái nắp bể lại để ông khỏi thấy, rồi chạy đi. Ông nhìn theo mỉm cười. Ông định cho bác chạy một tua bở hơi tai để ông có thì giờ chạy vào buồng bác. Ông sẽ nắm cổ người con gái kéo ra. Ông sẽ đeo cái kính của ông vào mắt y, rồi bắt y lên giường ngồi chồm hổm như một pho tượng khỏa thân bằng đá trắng. Để người bếp của ông lúc giở về trông thấy y mà cười. Mà chịu rằng ông chủ của bác ma-lanh.
Nhưng ông cụt hứng ngay. Bởi vì buồng bác Tư trống rỗng. Không con gái. Không dấu vết một cuộc ái ân vụng trộm. Ông văng tục một tiếng rồi chạy lên với vợ.
Một lúc lâu sau, bác bếp về, nét mặt băn khoăn: bởi vì bác không tìm thấy kính. Đó không phải là lỗi bác.
Nhưng rất có thể rằng ông chủ gắt. Tính ông nóng lắm. Chắc hẳn rằng ông sẽ quát ầm nhà lên... Bác rón rén lên cầu thang gác. Ông chủ đang ngồi thụt hẳn người vào trong một cái ghế bành to, đọc báo. Mắt ông có kính. Bác bếp ngạc nhiên rồi lại thêm lo sợ. Bây giờ thì bác sợ bác đã hiểu nhầm lời ông sai đi tìm cái khác.
Có lẽ ông sai bác đi tìm cái khác. Thế mới bỏ đời bác chứ! Ai bảo bác hấp ta hấp tấp? Không chịu hỏi cho rõ rồi hãy đi!
Bác rụt rè một lúc rồi mới dám đánh liều lên tiếng :
- Me-xừ.
Ông ngẩng đầu lên, hất hàm. Bác đọc như cái máy :
- Loong-toong diếc đa-na-ba-luy-nét.
Loong-toong bảo không có luy-nét! Ấy là một khoé ranh của bác. Bác cũng nhanh trí khôn lắm đấy. Loong- toong bảo không có luy-nét. Vậy thì luy-net là cái gì cũng được. Ông muốn gắt thì gắt với thằng loong-toong!
Nhưng luy-nét chính là cái kính. Bởi vì ông chủ trỏ tay lên kính mắt hỏi:
- Xa? (ca)
Và ông nhún vai, mỉm cười. Thoát nạn! bác bếp Tư nhẹ lâng cả người. Một tảng đá lớn tưởng đè lên người bác vừa trút đi. Bác chạy xuống cầu thang, bước hai bậc một. Y như một hòn đá lăn trên sườn núi. Bác chạy thẳng lại cái bể. Nhìn trước nhìn sau một thoáng rồi bác mở nắp ra, cúi đầu xuống. Tối om om. Một mảng nước loang loáng như nước mực. Bác gọi con:
- Tề! Tề ơi!
Im lặng. Một nỗi nghi vụt đến. Tim bác nhảy lên một cái. Tiếng khàn khàn, bác gọi :
- Tề ơi! Ra đây thầy kéo lên.
Chẳng có gì đáp lại. Những đốm sáng lăn tăn nhẩy nhót trong bóng tối. Ấy là bác bếp Tư hoa mắt. Bởi vì đầu óc bác đã nặng trĩu, quay quay, choáng váng. Người thì bủn rủn. Bác nhoai lưng vào trong bể, vừa mếu máo vừa rên rỉ:
- Con ơi! Tề con ơi...
Đầu ngón tay bác động phải một vật gì trơn nuồn nuột mà không còn động đậy. Bác toan gào thật to. Nhưng có tiếng giầy tây cồm cộp trên thang gác. Ông chủ xuống! Bác Tư sực tỉnh. Bác rút vội đầu ra khỏi bể. Bác đậy luôn nắp lại. Vừa kịp ông chủ không trông thấy. Bác cố thản nhiên đi vào bếp, lau bát đãi để sắp sửa lên bày bàn. Nhưng nghĩ đến bàn ăn, bác lại sinh lo lắng...
- Còn chai sâm banh!... Đào đâu ra một chai sâm-banh bây giờ?
Đêm hôm ấy, đợi vợ chồng ông chủ tắt đèn đi ngủ một lúc lâu, bác Tư mới rón rén ra sân. Bác mở cái nắp bể thật êm. Bác quờ tay vào bể, loay hoay tìm cách vớt con ra.
Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi.
Ông chủ giật mình:
- Vì dịch tả phải không?
- Bẩm ông không.
- Thế vì bệnh gì?
- Bẩm... bẩm...
Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi:
- Đem chôn ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy ca-re-lin rưới khắp nhà, hiểu không?
- Bẩm hiểu.
- Được rồi. Đi đi!
Ông xua bác Tư như xua đuổi một thằng hủi. Mũi ông chun lại. Ra khỏi cửa, bác Tư nhẹ hẳn người. Bác lấy làm may. Nếu ông chủ xuống xem! Nếu ông chủ biết rằng thằng bé đã ngâm mấy giờ đồng hồ trong bể nước!...
(Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao, NXB Văn học)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất.
B. Ngôi thứ hai.
C. Ngôi thứ ba.
D. Ngôi thứ hai và ngôi thứ ba.
Câu 2. Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn:
A. Điểm nhìn của tác giả.
B. Điểm nhìn bác Tư.
C. Điểm nhìn của gia đình ông chủ .
D. Điểm nhìn của con bác Tư – thằng Tề.
Câu 3. Tình huống dẫn đến cái kết đau buồn trong truyện là:
A. Thằng Tề trượt chân ngã té ghế.
B. Thằng Tề lộn cổ vào bể nước.
C. Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư giấu con trong đó khi chủ nhà về và không dám để nhà chủ phát hiện cho tới khi con ở đó quá lâu.
D. Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư làm việc cho nhà chủ và quên con.
Câu 4. Câu văn “Chỉ thương suông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích lắm.
Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được” là lời của ai?
A. Nam Cao
B. Bác Tư
C. Thầy giáo của Tề
D. Tác giả kể chuyện
Câu 5. Đoạn đối thoại giữa bác Tư và ông chủ nhà cho thấy điều gì?
Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi.
Ông chủ giật mình:
- Vì dịch tả phải không?
- Bẩm ông không.
- Thế vì bệnh gì?
- Bẩm... bẩm...
Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi:
- Đem chôn ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy ca-re-lin rưới khắp nhà, hiểu không?
- Bẩm hiểu.
- Được rồi. Đi đi!
A. Bác Tư rất lo lắng chủ nhà biết chuyện con trai đã chết trong bể nước
B. Chủ nhà là người lạnh lùng, chỉ quan tâm đến vấn đề bệnh tật và yêu cầu bác Tư phải phòng tránh bệnh cho nhà chủ
C. Chủ nhà là người quan tâm tới vấn đề sức khỏe và yêu cầu bác Tư phải phòng tránh.
D. Bác Tư lo sợ mất việc nên nói dối về cái chết của con trai.
Câu 6. Trong truyện có xuất chi tiết phi lí, trái với lẽ thường, đó là chi tiết nào?
A. Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà chủ hơn là việc con ở trong bể nước.
B. Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà chủ nên đã nói dối là con bị cảm .
C. Bác Tư nói dối được nhà chủ dù con trai mất mạng mà vẫn cảm thấy nhẹ nhõm.
D. Bác Tư cảm thấy nhẹ nhõm khi nói đối được nhà chủ về sự xuất hiện của con trai mình.
Câu 7. Chủ đề chính của truyện ngắn trên là:
A. Nghịch lí trong cuộc đời con người.
B. Số phận của những người nông dân trước Cách mạng Tháng 8.
C. Số phận của những người làm thuê.
D. Sự phân biệt giàu nghèo.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Hoàn thành bảng sau để xác định điểm nhìn trong văn bản
|
Điểm nhìn
|
Nội dung thể hiện |
|
Điểm nhìn bên ngoài (Người kể chuyện đứng bên ngoài quan sát). |
|
|
Điểm nhìn bên trong (Người kể chuyện đi vào thế giới nội tâm của nhân vật để kể chuyện). |
|
Câu 9. Lí do gì khiến bác Tư sợ hãi lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở trong bể nước hơn cả việc sự sống và cái chết của con? Theo em, việc này có hợp lí không? Tại sao.
Câu 10. Bằng việc tìm hiểu về văn bản trên, đọc các văn bản cùng thời kì (Xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8), em hãy viết đoạn văn khoảng 10 câu nêu cảm nhận về số phận của những người nông dân trước Cách mạng tháng 8.
II. VIẾT
Viết bài văn nghị luận khoảng 2/3 trang giấy bàn về vấn đề tình thương được đặt ra trong văn bản qua câu văn: Chỉ thương suông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7(0.25đ) |
|
C |
A |
C |
C |
B |
A |
B |
|
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ nhất. B. Ngôi thứ hai. C. Ngôi thứ ba. D. Ngôi thứ hai và ngôi thứ ba. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Nhớ lại kiến thức về ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ ba (người kể chuyện toàn tri)
→ Đáp án: C
|
Câu 2. Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn: A. Điểm nhìn của tác giả. B. Điểm nhìn bác Tư. C. Điểm nhìn của gia đình ông chủ . D. Điểm nhìn của con bác Tư – thằng Tề. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn: của tác giả
→ Đáp án: A
|
Câu 3. Tình huống dẫn đến cái kết đau buồn trong truyện là: A. Thằng Tề trượt chân ngã té ghế. B. Thằng Tề lộn cổ vào bể nước. C. Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư giấu con trong đó khi chủ nhà về và không dám để nhà chủ phát hiện cho tới khi con ở đó quá lâu. D. Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư làm việc cho nhà chủ và quên con. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tình huống dẫn đến cái kết đau buồn trong truyện là: Thằng Tề bơi trong bể nước, bác Tư giấu con trong đó khi chủ nhà về và không dám để nhà chủ phát hiện cho tới khi con ở đó quá lâu
→ Đáp án: C
|
Câu 4. Câu văn “Chỉ thương suông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được” là lời của ai? A. Nam Cao B. Bác Tư C. Thầy giáo của Tề D. Tác giả kể chuyện |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn
Đối chiếu với văn bản
Lời giải chi tiết:
Câu văn trên là lời của Bác Tư
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Đoạn đối thoại giữa bác Tư và ông chủ nhà cho thấy điều gì? Sáng hôm sau, bác vừa báo cho chủ biết con bác phải cảm chết đêm rồi. Ông chủ giật mình: - Vì dịch tả phải không? - Bẩm ông không. - Thế vì bệnh gì? - Bẩm... bẩm... Bác Tư ấp úng. Ông chủ lại càng sợ hãi: - Đem chôn ngay đi! Bỏ vôi vào! Rồi lấy ca-re-lin rưới khắp nhà, hiểu không? - Bẩm hiểu. - Được rồi. Đi đi! A. Bác Tư rất lo lắng chủ nhà biết chuyện con trai đã chết trong bể nước B. Chủ nhà là người lạnh lùng, chỉ quan tâm đến vấn đề bệnh tật và yêu cầu bác Tư phải phòng tránh bệnh cho nhà chủ C. Chủ nhà là người quan tâm tới vấn đề sức khỏe và yêu cầu bác Tư phải phòng tránh. D. Bác Tư lo sợ mất việc nên nói dối về cái chết của con trai. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn đối thoại
Rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Đoạn đối thoại giữa bác Tư và ông chủ nhà cho thấy: Chủ nhà là người lạnh lùng, chỉ quan tâm đến vấn đề bệnh tật và yêu cầu bác Tư phải phòng tránh bệnh cho nhà chủ
→ Đáp án: B
|
Câu 6. Trong truyện có xuất chi tiết phi lí, trái với lẽ thường, đó là chi tiết nào? A. Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà chủ hơn là việc con ở trong bể nước. B. Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà chủ nên đã nói dối là con bị cảm . C. Bác Tư nói dối được nhà chủ dù con trai mất mạng mà vẫn cảm thấy nhẹ nhõm. D. Bác Tư cảm thấy nhẹ nhõm khi nói đối được nhà chủ về sự xuất hiện của con trai mình. |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản và các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết
Chi tiết phi lí, trái với lẽ thường: Bác Tư lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở nhà chủ hơn là việc con ở trong bể nước
→ Đáp án: A
|
Câu 7. Chủ đề chính của truyện ngắn trên là: A. Nghịch lí trong cuộc đời con người. B. Số phận của những người nông dân trước Cách mạng Tháng 8. C. Số phận của những người làm thuê. D. Sự phân biệt giàu nghèo. |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Chú ý tiêu đề và các chi tiết nổi bật
Lời giải chi tiết
Chủ đề chính của truyện ngắn trên là: Số phận của những người nông dân trước Cách mạng Tháng 8
→Đáp án B
|
Câu 8. Hoàn thành bảng sau để xác định điểm nhìn trong văn bản |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
|
Điểm nhìn bên ngoài |
Bác chạy xuống cầu thang, bước hai bậc một. Y như một hòn đá lăn trên sườn núi → Sự lo lắng của bác khi con trai vẫn còn ở trong bể |
|
Điểm nhìn bên trong |
Một lúc lâu sau, bác bếp về, nét mặt băn khoăn: bởi vì bác không tìm thấy kính. Đó không phải là lỗi bác. Nhưng rất có thể rằng ông chủ gắt. Tính ông nóng lắm. Chắc hẳn rằng ông sẽ quát ầm nhà lên... → Sự lo lắng của bác Tư khi sợ ông chủ do bác không thấy kính vì tính ông chủ rất nóng. Và ông nhún vai, mỉm cười. Thoát nạn! bác bếp Tư nhẹ lâng cả người. Một tảng đá lớn tưởng đè lên người bác vừa trút đi. → bác Tư nhẹ nhõm khi không bị ông chủ phát hiện. |
|
Câu 9. Lí do gì khiến bác Tư sợ hãi lo lắng nhà chủ phát hiện ra con trai mình ở trong bể nước hơn cả việc sự sống và cái chết của con? Theo em, việc này có hợp lí không? Tại sao. |
Phương pháp
Đọc, tìm ý.
Lời giải chi tiết
Học sinh chỉ ra được hai nguyên nhân.
- Nguyên nhân trực tiếp: Nỗi lo lắng dùng nước bẩn của ông chủ người Tây: Khí hậu ở đây chẳng được lành; những người chưa quen với thủy thổ miền nhiệt đới, đến đây mà chẳng biết giữ thân, khó khỏi chết vì nguy hiểm ấy truyền nhiễm phần nhiều do nước bẩn. Bởi vậy nước ăn của ông phải coi giữ như thế nào cho thật sạch. Cái bể nước của ông, ông coi quý gần bằng vợ ông. Mà có lẽ còn quý hơn vợ ông nữa. Bởi vì vợ ông ông có thể để người khác bắt tay, chứ bể nước mà đứa nào dám nhúng tay bẩn hay cái "sô" bẩn vào thì cứ liệu cái thần hồn với ông.
- Nguyên nhân sâu xa: Số phận của những người ở tầng lớp dưới đáy xã hội, đi làm thuê cho nhà chủ Tây, họ phải chịu đựng sự nóng nảy, lạnh lùng, xét nét của chủ nhà, họ làm công nhưng luôn bị coi thường, khinh rẻ, nếu bị chủ nhà nổi giận hay phật ý thì công việc cũng sẽ không còn, nơi mưu sinh kiếm sống qua ngày cũng không còn.
|
Câu 10. Bằng việc tìm hiểu về văn bản trên, đọc các văn bản cùng thời kì (Xã hội Việt Nam trước Cách mạng Tháng 8), em hãy viết đoạn văn khoảng 10 câu nêu cảm nhận về số phận của những người nông dân trước Cách mạng tháng 8. |
Phương pháp
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết
Học sinh chia sẻ góc nhìn của bản thân về số phận người nông dân trước Cách mạng tháng Tám.
- Nghèo khổ, bần cùng và không lối thoát.
- Đánh đổi cả mạng sống con cái hay chính bản thân vì ý nghĩ bị đè nén, phải kiếm ăn qua ngày.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Viết bài văn nghị luận khoảng 2/3 trang giấy bàn về vấn đề tình thương được đặt ra trong văn bản qua câu văn: Chỉ thương suông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô ích lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
a. Nêu vấn đề nghị luận: Phân tích và đánh giá
Biểu hiện của tình yêu thương. Chỉ thương suông cũng không thể gọi là thương. Cái lối thương để bụng vô
ích lắm. Phải tìm cách tỏ lòng thương ra ngoài mới được.
b. Phân tích:
- Giải thích: Nỗ lực là quyết tâm vượt qua mọi khó khăn, thử thách; luôn kiên trì, có niềm tin vào mục tiêu, lý tưởng của mình.
- Phân tích, chứng minh: Sự cần thiết phải nỗ lực trong cuộc sống.
+ Nỗ lực là sức mạnh, động lực vượt qua khó khăn, thử thách trong cuộc sống.
+ Có sự kiên trì không bỏ cuộc, có ý chí theo đuổi đến cùng mọi ước mơ, lý tưởng và sẽ thành công trong
cuộc sống.
+ Khi có sự nỗ lực, ta có niềm tin vào bản thân và cuộc sống, từ đó thay đổi hoàn thiện mình.
+ Được mọi người ngưỡng mộ, khâm phục yêu mến noi gương.
- Bàn luận, mở rộng vấn đề: Phê phán những người chưa làm mà đã sợ khó khăn, gặp thất bại thì nản chí, bỏ cuộc, dựa dẫm, ỷ lại vào người khác, không nỗ lực vươn lên.
c. Bài học nhận thức và hành động
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
VIỆT BẮC
(Trích)
- Mình về mình có nhớ ta?
Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.
Mình về mình có nhớ không?
Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.
- Tiếng ai tha thiết bên cồn
Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi
Áo chàm đưa buổi phân ly
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay...
- Mình đi, có nhớ những ngày
Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?
Mình về, có nhớ chiến khu
Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?
Mình về, rừng núi nhớ ai
Trám bùi để rụng, măng mai để già
Mình đi, có nhớ những nhà
Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Mình về, còn nhớ núi non
Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh
Mình đi, mình có nhớ mình
Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?
- Ta với mình, mình với ta
Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh
Mình đi, mình lại nhớ mình
Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu...
(Trích Việt Bắc – Tố Hữu, 10 – 1954, NXB Văn học, Hà Nội, 1962)
Chú thích: Tháng 10-1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ, các cơ quan Trung ương Đảng và Chính phủ từ Việt Bắc về lại Hà Nội. Nhân sự kiện có tính chất lịch sử ấy, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc để ghi lại không khí bịn rịn nhớ thương của kẻ ở người đi.
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào?
A. Thể thơ tự do.
B. Thể thơ lục bát.
C. Thể thơ bảy chữ.
D. Thể thơ tám chữ.
Câu 2. Trong bài thơ Việt Bắc, hình ảnh người dân miền núi được thể hiện qua hình ảnh hoán dụ nào?
A. Hoa chuối đỏ tươi.
B. Măng mai.
C. Mận nở trắng rừng.
D. Áo chàm.
Câu 3. Dòng nào sau đây chưa đúng với bài thơ "Việt Bắc"?
A. Bài thơ sử dụng lối kết cấu quen thuộc của ca dao dân ca – theo lối đối đáp của mình – ta.
B. Hình thức là đối thoại, nhưng là sự phân thân của cái "tôi" trữ tình để bộc lộ tâm trạng đầy đủ sâu sắc.
C. Giọng thơ có nét gần với hát ru – ngọt ngào, nhịp nhàng, thấm đượm nghĩa tình.
D. Các hình ảnh thơ đầy tính sáng tạo, mới lạ và đậm chất triết lý.
Câu 4. Biểu hiện rõ nhất của bản chất ca dao trong bài thơ "Việt Bắc" là ở phương diện nào?
A. Thể thơ lục bát.
B. Hình ảnh thiện nhiên và con người đậm màu sắc dân tộc.
C. Hình thức đối đáp của mình và ta.
D. Các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, hoán dụ phong phú.
Câu 5. Cấu tứ của bài thơ là cuộc chia tay của "mình – ta". Dòng nào dưới đây hiểu đúng cuộc chia tay đó?
A. Là cuộc chia tay đầy lưu luyến của 2 người yêu nhau.
B. Là cuộc chia tay của những người bạn từng gắn bó sâu nặng dài lâu.
C. Cuộc chia tay giữa người kháng chiến và người dân Việt Bắc.
D. Mình, ta đều là chủ thể trữ tình - đều là một phần của đời sống thi sĩ đã trải qua bao năm ở Việt Bắc. Đó là phần đời này trò chuyện quyến luyến với phần đời kia.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 6 . Tìm những hình ảnh, chi tiết gợi lên một thời gian khổ, gợi nhớ tình đồng bào trong đoạn trích.
Câu 7. Chỉ ra biện pháp tu từ đối trong đoạn trích. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Câu 8. Phân tích ý nghĩa cách sử dử dụng cặp đại từ “mình” - “ta”.
Câu 9. Thông qua đoạn trích em hãy lý giải nhận định “Thơ Tố Hữu mang phong cách thơ trữ tình chính trị”.
II. VIẾT
Phân tích cuộc chia tay lịch sử được thể hiện trong đoạn thơ sau. Từ đó, anh/chị nhận xét gì về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu?
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
|
B |
D |
D |
C |
D |
|
Câu 1. Đoạn trích trên được viết theo thể thơ nào? A. Thể thơ tự do. B. Thể thơ lục bát. C. Thể thơ bảy chữ. D. Thể thơ tám chữ. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Chú ý dấu hiệu hình thức (số chữ trong câu, số câu trong bài)
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên được viết theo thể thơ lục bát
→ Đáp án: B
|
Câu 2. Trong bài thơ Việt Bắc, hình ảnh người dân miền núi được thể hiện qua hình ảnh hoán dụ nào? A. Hoa chuối đỏ tươi. B. Măng mai. C. Mận nở trắng rừng. D. Áo chàm. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Trong bài thơ Việt Bắc, hình ảnh người dân miền núi được thể hiện qua hình ảnh hoán dụ Áo chàm
→ Đáp án: D
|
Câu 3. Dòng nào sau đây chưa đúng với bài thơ "Việt Bắc"? A. Bài thơ sử dụng lối kết cấu quen thuộc của ca dao dân ca – theo lối đối đáp của mình – ta. B. Hình thức là đối thoại, nhưng là sự phân thân của cái "tôi" trữ tình để bộc lộ tâm trạng đầy đủ sâu sắc. C. Giọng thơ có nét gần với hát ru – ngọt ngào, nhịp nhàng, thấm đượm nghĩa tình. D. Các hình ảnh thơ đầy tính sáng tạo, mới lạ và đậm chất triết lý. |
Phương pháp:
Đọc kĩ các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng nào chưa đúng với bài thơ "Việt Bắc": Các hình ảnh thơ đầy tính sáng tạo, mới lạ và đậm chất triết lý
→ Đáp án: D
|
Câu 4. Biểu hiện rõ nhất của bản chất ca dao trong bài thơ "Việt Bắc" là ở phương diện nào? A. Thể thơ lục bát. B. Hình ảnh thiện nhiên và con người đậm màu sắc dân tộc. C. Hình thức đối đáp của mình và ta. D. Các biện pháp nghệ thuật so sánh, ẩn dụ, hoán dụ phong phú. |
Phương pháp:
Nhớ lại kiến thức về đặc điểm của ca dao
Lời giải chi tiết:
Biểu hiện rõ nhất của bản chất ca dao trong bài thơ "Việt Bắc" là ở phương diện: Hình thức đối đáp của mình và ta
→ Đáp án: C
|
Câu 5. Cấu tứ của bài thơ là cuộc chia tay của "mình – ta". Dòng nào dưới đây hiểu đúng cuộc chia tay đó? A. Là cuộc chia tay đầy lưu luyến của 2 người yêu nhau. B. Là cuộc chia tay của những người bạn từng gắn bó sâu nặng dài lâu. C. Cuộc chia tay giữa người kháng chiến và người dân Việt Bắc. D. Mình, ta đều là chủ thể trữ tình - đều là một phần của đời sống thi sĩ đã trải qua bao năm ở Việt Bắc. Đó là phần đời này trò chuyện quyến luyến với phần đời kia. |
Phương pháp:
Đọc kĩ các đáp án
Vận dụng phương pháp đọc hiểu
Lời giải chi tiết:
Mình, ta đều là chủ thể trữ tình - đều là một phần của đời sống thi sĩ đã trải qua bao năm ở Việt Bắc. Đó là phần đời này trò chuyện quyến luyến với phần đời kia.
→ Đáp án: D
|
Câu 6 . Tìm những hình ảnh, chi tiết gợi lên một thời gian khổ, gợi nhớ tình đồng bào trong đoạn trích. |
Phương pháp giải
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết
- Việt Bắc gợi nhớ một thời gian khổ: “suối lũ”, “mưa nguồn”, “mây mù”, “miếng cơm chấm muối” là những hình ảnh rất thực gợi được sự gian khổ của cuộc kháng chiến, vừa cụ thể hoá mối thù của cách mạng đối với thực dân.
- Gợi nhớ tình đồng bào:
+ Chi tiết “Trám bùi....để già” diễn tả cảm giác trống vắng gợi nhớ quá khứ sâu nặng. Tác giả mượn cái thừa để nói cái thiếu.
+ “Hắt hiu...lòng son” Họ là những người nghèo nhưng giàu tình nghĩa, son sắt, thuỷ chung với cách mạng.
+ “Mình đi, mình có nhớ mình" Mình là một mà cũng là hai, là hai nhưng cũng là một bởi sự gắn kết của cách mạng, của kháng chiến.
|
Câu 7. Chỉ ra biện pháp tu từ đối trong đoạn trích. Phân tích tác dụng của biện pháp tu từ đó. |
Phương pháp giải
Đọc đoạn trích, suy luận.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Biện pháp tu từ đối: Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son
Tác dụng: Gợi nhớ về mái tranh nghèo. Họ là những người nghèo nhưng giàu tình nghĩa, son sắt, thủy chung với cách mạng.
|
Câu 8. Phân tích ý nghĩa cách sử dử dụng cặp đại từ “mình” - “ta”. |
Phương pháp
Phân tích, lý giải.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Ý nghĩa cách sử dụng cặp đại từ “mình” – “ta”:
+ Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đậm đà và một giọng điệu tâm tình ngọt ngào, sâu lắng.
Lối xưng hô gần gũi đó từng xuất hiện trong ca dao, dân ca.
+ Góp phần làm cho tình cảm giữa người ra đi và người ở lại, giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc thêm thân mật, gần gũi, tự nhiên, gắn bó khăng khít tuy hai mà một. Điều đó cũng thể hiện tình cảm của tác giả với nhân dân vùng Việt Bắc, coi đó như mái nhà thân thiết trong những năm kháng chiến gian khổ.
|
Câu 9. Thông qua đoạn trích em hãy lý giải nhận định “Thơ Tố Hữu mang phong cách thơ trữ tình chính trị”. |
Phương pháp
Phân tích, lý giải.
Lời giải chi tiết
Học sinh trình bày theo ý hiểu của mình. Có phân tích, lý giải.
Gợi ý:
- Tính chính trị:
+ Đoạn thơ đề cập đến một sự kiện lịch sử có ý nghĩa lớn với cả dân tộc
+ Cảm hứng chủ yếu của đoạn thơ là cảm hứng ân tình cách mạng, niềm biết ơn sâu sắc với Đảng, Bác Hồ, với căn cứ địa Việt Bắc. Kỉ niệm được nhắc đến là kỉ niệm về một thời cách mạng, một vùng cách mạng.
- Tính trữ tình:
+ Đoạn thơ được viết với kết cấu đối đáp giữa mình và ta trong một cuộc chia tay quyến luyến bịn rịn.
+ Nội dung đoạn thơ: là tiếng nói trữ tình tha thiết của người đi - kẻ ở.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Phân tích cuộc chia tay lịch sử được thể hiện trong đoạn thơ sau. Từ đó, anh/chị nhận xét gì về phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu?
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận có kết hợp các phương thức biểu đạt khác.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích cuộc chia tay lịch sử được thể hiện trong đoạn thơ.
Gợi ý:
1. Giới thuyết chung.
- Tác giả: Lá cờ đầu của thơ ca Cách mạng.
- Tác phẩm: Được viết nhân một sự kiện đặc biệt.
- Vị trí đoạn trích: Đoạn thơ mở đầu.
- Cuộc chia tay lịch sử:
Mình – Ta
Việt Bắc – Cách mạng
+ Quá khứ - Hiện tại, tương lai
+ Cái đã qua – Cái sắp tới
2. Lời người ở lại:
- Hai câu hỏi gần như lặp lại nhau: vấn đề ám ảnh.
- mười lăm năm ấy: Thời gian tâm lý hóa.
- Cây – Núi
Sông – Người
→ Không gian tâm lý hóa.
2. Lời người ra đi:
- “Tiếng ai”: Tiếng hát phân thân → Ta – Mình, Mình – ta.
- Cách ngắt nhịp lẻ: 3/5.
- Hai trạng thái:
+ Bâng khuâng, bồn chồn.
+ Nhớ quá khứ, hướng tương lai.
- Áo chàm:
+ Truyền thống.
+ Hiện đại.
3. Đánh giá:
- Cuộc chia tay lịch sử được tái hiện thông qua cảm nhận của Tố Hữu – một nhà thơ trữ tình chính trị tài hoa.
- Cuộc chia tay thể hiện tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.
- Cuộc chia tay được tái hiện thông qua giọng thơ thiết tha, ngọt ngào.
- Tính trữ tình được thể hiện qua:
+ Cặp đại từ mình – ta.
+ Lời đối đáp.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Cánh diều - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
TRÀNG GIANG
Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
Con thuyền xuôi mái nước song song.
Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả;
Củi một cành khô lạc mấy dòng.
Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
Sông dài, trời rộng, bến cô liêu.
Bèo dạt về đâu, hàng nối hàng;
Mênh mông không một chuyến đò ngang.
Không cầu gợi chút niềm thân mật,
Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.
Lớp lớp mây cao đùn núi bạc,
Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
Lòng quê dợn dợn vời con nước,
Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
(Huy Cận, Lửa thiêng, NXB Đời nay, Hà Nội, 1940)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Phương án nào thể hiện đúng và đầy đủ nhất ý nghĩa nhan đề “Tràng giang”?
A. Tên riêng của dòng sông
B. Dòng sông dài
C. Dòng sông rộng
D. Dòng sông dài và rộng
Câu 2. Nhận định nào sau đây đúng nhất khi nói đến hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong hai câu thơ sau:
“Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”
A. Câu thơ sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh, đặc điểm của đối tượng.
B. Câu thơ kết hợp những từ trái ngược về mặt logic để tạo ra hiệu quả “lạ hóa” đối tượng.
C. Câu thơ đã thêm nét nghĩa mới cho từ.
D. Bổ sung chức năng mới của dấu câu.
Câu 3. Mối quan hệ giữa các hình ảnh trong dòng thơ nào dưới đây của bài Tràng giang có sự tương đồng với dòng thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử?
A. Mênh mông không một chuyến đò ngang
B. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả
C. Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
D. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
Câu 4. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tràng giang là gì?
A. Nỗi tuyệt vọng
C. Nỗi băn khoăn
B. Nỗi cay đắng
D. Nỗi buồn
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 5. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong bài thơ mà em thấy rõ nhất.
Câu 6. Vì sao có thể nói: Nỗi “buồn điệp điệp” ngấm sâu vào thế giới hình ảnh trong khổ 1?
Câu 7. Dòng thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" có thể có mấy cách hiểu? Cách hiểu của em là gì? Vì sao?
Câu 8. Trong sự so sánh với các khổ thơ khác, cách chấm câu ở khổ 3 có gì đặc biệt? Phân tích ý nghĩa của cách chấm câu này.
Câu 9. Sự xuất hiện của tâm trạng “nhớ nhà” trong dòng kết của bài thơ có phù hợp với sự vận động của cấu tứ không?
II. VIẾT:
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang của Huy Cận.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
|
D |
A |
B |
D |
|
Câu 1. Phương án nào thể hiện đúng và đầy đủ nhất ý nghĩa nhan đề “Tràng giang”? A. Tên riêng của dòng sông B. Dòng sông dài C. Dòng sông rộng D. Dòng sông dài và rộng |
Phương pháp:
Đọc kĩ nhan đề và toàn bộ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Ý nghĩa nhan đề “Tràng giang”: Dòng sông dài và rộng
→ Đáp án: D
|
Câu 2. Nhận định nào sau đây đúng nhất khi nói đến hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường trong hai câu thơ sau: “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” A. Câu thơ sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh, đặc điểm của đối tượng. B. Câu thơ kết hợp những từ trái ngược về mặt logic để tạo ra hiệu quả “lạ hóa” đối tượng. C. Câu thơ đã thêm nét nghĩa mới cho từ. D. Bổ sung chức năng mới của dấu câu. |
Phương pháp:
Đọc kĩ hai câu thơ
Nhớ lại kiến thức về hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
Lời giải chi tiết:
Câu thơ sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh, đặc điểm của đối tượng
→ Đáp án: A
|
Câu 3. Mối quan hệ giữa các hình ảnh trong dòng thơ nào dưới đây của bài Tràng giang có sự tương đồng với dòng thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây/ Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay” trong Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử? A. Mênh mông không một chuyến đò ngang B. Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả C. Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu D. Lớp lớp mây cao đùn núi bạc |
Phương pháp:
Đọc kĩ hai câu thơ của Hàn Mặc Tử
Lời giải chi tiết:
Mối quan hệ giữa các hình ảnh: Thuyền về nước lại, sầu trăm ngả có sự tương đồng với dòng thơ của Hàn Mặc Tử
→ Đáp án: B
|
Câu 4. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tràng giang là gì? A. Nỗi tuyệt vọng C. Nỗi băn khoăn B. Nỗi cay đắng D. Nỗi buồn |
Phương pháp:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý một số hình ảnh tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Cảm xúc chủ đạo của bài thơ Tràng giang là: Nỗi buồn
→ Đáp án: D
|
Câu 5. Chỉ ra và phân tích tác dụng của một biện pháp tu từ trong bài thơ mà em thấy rõ nhất. |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp tu từ.
Lời giải chi tiết:
Học sinh tự lựa chọn một biện pháp tu từ em muốn trình bày. Có lý giải hợp lý.
Biện pháp đảo ngữ : Củi một cành khô lạc mấy dòng. Tác dụng: Vừa là hình ảnh thực rất đời thường, vừa gợi lên nỗi buồn về kiếp người nhỏ bé, bơ vơ. Thi liệu và cảm xúc vừa cổ điển, vừa mới mẻ thể hiện một “cái tôi” lạc lõng, với một nỗi buồn triền miên, lan tỏa.
|
Câu 6. Vì sao có thể nói: Nỗi “buồn điệp điệp” ngấm sâu vào thế giới hình ảnh trong khổ 1? |
Phương pháp giải
Đọc văn bản, suy luận.
Lời giải chi tiết
Gợi ý: Đứng trước cảnh vật rộng lớn, bao la con người cảm thấy cô đơn, lạc lõng trong đó. Từ đó nỗi buồn ngấm sâu vào mọi hình ảnh trong khổ 1.
|
Câu 7. Dòng thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều" có thể có mấy cách hiểu? Cách hiểu của em là gì? Vì sao? |
Phương pháp giải
Phân tích, lý giải.
Lời giải chi tiết
Học sinh đưa ra suy nghĩ của mình, có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
- Có hai cách hiểu:
+ Cách 1: Phủ định không có tiếng làng xa nào.
+ Cách 2: Ở đâu đó có tiếng làng xa vãn chợ chiều.
- Em hiểu theo cách 2, tác giả đã gợi ra không gian không xác định. Từ đó gợi lên cảm xúc buồn bã, cô đơn, thiếu vắng đi sự xuất hiện của con người.
|
Câu 8. Trong sự so sánh với các khổ thơ khác, cách chấm câu ở khổ 3 có gì đặc biệt? Phân tích ý nghĩa của cách chấm câu này. |
Phương pháp
Phân tích, lý giải.
Lời giải chi tiết
Học sinh đưa ra suy nghĩ của mình, có lý giải phù hợp.
Gợi ý:
- Khổ 3:
+ Ở cuối mỗi dòng thơ đều có dấu chấm để ngắt hết một ý.
→ Tất cả gộp lại tạo thành bức tranh gợi về số phận nổi trôi, bơ vơ, bất hạnh, cô đơn của kiếp người trong xã hội cũ.
|
Câu 9. Sự xuất hiện của tâm trạng “nhớ nhà” trong dòng kết của bài thơ có phù hợp với sự vận động của cấu tứ không? |
Phương pháp
Phân tích, lý giải.
Lời giải chi tiết
Gợi ý:
Sự xuất hiện của tâm trạng này có phù hợp vì toàn bài thơ là nỗi buồn da diết tha thiết, sự cô đơn lạc lõng trước sự rộng lớn, bao la. Từ đó tác giả thể hiện tâm trạng nhớ nhà da diết, tâm trạng chung của những người con xa quê.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Phân tích bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang của Huy Cận.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
- Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận có kết hợp các phương thức biểu đạt khác.
- Xác định đúng vấn đề nghị luận: Bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang.
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận (Bức tranh thiên nhiên trong Tràng giang)
2. Thân bài:
a. Tràng giang là bức tranh thiên nhiên mang vẻ đẹp cổ điển
- Vẻ đẹp cổ điển được thể hiện ở sự hùng vĩ, rợn ngợi của “trời rộng - sông dài’’.
- Dòng sông mênh mang, chảy dài trong không gian vắng lặng, bát ngát.
- Những con sóng lớp lớp nối dài như nỗi buồn miên man không đứt.
- Song song với chiếc thuyền như buông trôi, phó mặc cho cuộc đời là nỗi buồn “điệp điệp” gợi niềm chia biệt.
- Cảnh ở đây sầu từ “con thuyền", “cành củi khô”, “dòng nước” đến "sóng”, “bờ xanh - bãi vàng’’ đều cô liêu, đều mang nỗi sầu lớn: bao nhiêu ngả nước, bấy nhiêu ngả sầu, sầu miên man bất tận.
- Không gian mở rộng theo chiều kích về độ cao, rộng, sâu. Những hình ảnh đơn sơ bằng nét vẽ tinh tế giàu sắc thái cổ điển mà vẫn mới mẻ.
- Thiên nhiên mang vẻ đẹp sâu lắng được đặt trong không gian sông nước lặng lẽ và rợn ngợp được khúc xạ qua tâm hồn thi sĩ.
b. Thiên nhiên được khúc xạ qua tâm hồn thi sĩ.
- Nỗi buồn của Huy Cận miên man không dứt như sông nước mênh mang bất tận, theo sông nước lan tỏa rất xa. Thấm đượm trong cảnh vật là một linh hồn “mang mang thiên cổ sầu”.
- Thiên nhiên được khúc xạ qua tâm hồn lãng mạn, mang nỗi buồn của thi sĩ.
- Cái đẹp hiện lên qua tâm hồn thảng thốt của thi nhân:
- Nếu trong “Đây mùa thu tới” nỗi buồn tỏa ra từ nỗi cô đơn, quạnh vắng, “Đây thôn Vĩ Dạ” nỗi buồn nhè nhẹ được cất lên từ ý thức sợ bị lãng quên của nhà thơ, thì “Tràng giang” là nỗi niềm “nhớ nhà” - nhớ một chốn quê hương mà phải chàng đây là hình ảnh Đất Nước bị khuất lấp đâu đó trong màn đêm nô lệ?
III. Kết bài: Tổng kết vấn đề.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 - Đề số 9
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Mong ước đầu tiên và lớn nhất của tôi là các con sẽ trở thành người tử tế, sau đó là cháu có một cuộc sống hạnh phúc. Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí là với cả trái đất này một cách tử tế! Việc cháu tiếp tục học ở đâu, làm việc gì là tùy vào sở thích, niềm đam mê và năng lực của cháu.
(Báo giáo dục và thời đại số 24 ngày 28 - 1 - 2017)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2 (0,5 điểm): Theo em, trình tự lập luận trong văn bản trên được trình bày theo phương pháp nào?
Câu 3 (1,0 điểm): Xác định nội dung cơ bản của đoạn trích?
Câu 4 (1,0 điểm): Là một người trẻ tuổi, anh/chị có tán đồng với mong ước về tương lai tuổi trẻ của vị phụ huynh thể hiện trong đoạn trích trên không? Vì sao?
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích phần đọc - hiểu: Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế!
Câu 2 (4.0 điểm) Cảm nhận của anh/ chị về bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ sau:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Trích “Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mặc Tử)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên? |
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn trích để xác định cách thức truyền tải nội dung.
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt nghị luận (thể hiện quan điểm về cách sống) và biểu cảm (bày tỏ mong ước, tình cảm của phụ huynh dành cho con cái).
Câu 2.
|
Theo em, trình tự lập luận trong văn bản trên được trình bày theo phương pháp nào? |
Phương pháp:
- Xác định cách tác giả triển khai ý trong đoạn trích.
- Có các phương pháp lập luận phổ biến: diễn dịch (từ ý khái quát đến cụ thể), quy nạp (từ chi tiết đến khái quát), tổng - phân - hợp (mở đầu khái quát, sau đó phân tích, rồi kết luận).
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng phương pháp lập luận diễn dịch. Câu đầu tiên đưa ra ý chính (mong muốn con trở thành người tử tế), các câu sau mở rộng và làm rõ quan điểm này.
Câu 3.
|
Xác định nội dung cơ bản của đoạn trích? |
Phương pháp:
- Xác định ý chính của đoạn trích.
- Tóm tắt nội dung mà tác giả muốn truyền tải.
Lời giải chi tiết:
Nội dung cơ bản của đoạn trích là bày tỏ mong muốn của bậc cha mẹ đối với con cái, trong đó giá trị cốt lõi là sự tử tế và hạnh phúc. Tác giả nhấn mạnh rằng dù con cái làm công việc gì, sống ở đâu cũng cần có thái độ sống đúng đắn, biết đối xử tốt với mọi người và cả thiên nhiên.
Câu 4.
|
Là một người trẻ tuổi, anh/chị có tán đồng với mong ước về tương lai tuổi trẻ của vị phụ huynh thể hiện trong đoạn trích trên không? Vì sao? |
Phương pháp:
- Xác định ý kiến của mình (đồng tình hay không).
- Giải thích bằng lý lẽ và dẫn chứng.
Lời giải chi tiết:
Em hoàn toàn tán đồng với mong ước của vị phụ huynh trong đoạn trích. Sống tử tế không chỉ giúp con người được tôn trọng mà còn tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn. Tử tế với bản thân giúp ta rèn luyện nhân cách, tử tế với gia đình và cộng đồng tạo nên những mối quan hệ bền vững. Đặc biệt, trong xã hội hiện đại, khi đạo đức có lúc bị xem nhẹ, việc giữ gìn lòng tử tế lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1.
|
Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích phần đọc - hiểu: Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế! |
Phương pháp:
- Giải thích ý nghĩa câu nói.
- Bàn luận về tầm quan trọng của sự tử tế trong công việc và cuộc sống.
- Đưa ra dẫn chứng minh họa.
- Kết luận, rút ra bài học.
Lời giải chi tiết:
“Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế,ứng xử với bản than, với gia đình,với bạn bè, những người xung quanh,với cộng đồng và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế”- một lời nhắn nhủ, gửi gắm chân thành đầy yêu thương và cũng thật sự ý nghĩa. “Việc tử tế” không nhất thiết phải là những việc to tát, sang trọng mà có khi chỉ là những việc nhỏ bé, bình thường nhưng là những việc tốt, có ý nghĩa. Kết hợp cùng cái cách mình làm, bằng một cái tâm và trách nhiệm. Ý nghĩa cuả câu nói này chính là sau này con có thể trở thành bất cứ ai (thành vĩ nhân hay chỉ là thường dân), có thể làm việc gì (việc lớn lao hay việc nhỏ bé) không quan trọng. Quan trọng là phải tử tế, làm việc tử tế, ứng xử tử tế. Xã hội loài người văn minh hình thành là từ khi con người biết tôn trọng và tín nhiệm lẫn nhau. Không có giá trị nào được tạo ra cho đến khi con người biết hành động vì lẽ phải. Kẻ giả dối lãnh hậu quả do cách mình sống, người tử tế hưởng hoa trái của việc mình làm. Trong cuộc sống này rất cần có sự tử tế ở mỗi con người để cùng xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và giàu lòng nhân ái hơn nữa. Tử tế” có nghĩa là sự cẩn thận, kĩ lưỡng, thận trọng, chu đáo trong công việc, trong lối sống và trong cách đối xử với mọi người. Người tử tế là người có tấm lòng nhân ái, biết tôn trọng bản thân và người khác, có thái độ sống nhân từ, hoà hợp với thế giới xung quanh, đề cao đạo đức, sự lịch thiệp, nhã nhặn, tình yêu thương, lẽ công bằng. Người sống tử tế luôn biết nâng niu, quý trọng từ những cái nhỏ nhặt, bình thường nhất trong cuộc sống để tạo nên lối sống đẹp, được nhiều người yêu mến, quý trọng. Tử tế là phẩm chất cao quý của con người. Người tử tế, do đó, không chỉ là người có phẩm chất cao quý mà còn là người biết sử dụng lòng tốt của bản thân, chia sẻ những nổi khổ niềm đau trong cuộc sống, nhằm góp phần xây dựng cuộc sống an bình hơn. Sự tử tế không tự nó hình thành mà cần được dạy bảo, rèn luyện mới có được. Lòng tử tế hiện hữu trong mỗi con người, trước nhất như một tiềm năng, do vậy, để có nó trong cuộc sống, ta cần khai thác, nuôi dưỡng, chăm sóc và phát triển. Đừng bao giờ để thói đố kị, ích kỉ làm mờ con mắt mà trở nên tham lam, thực dục và cả tàn nhẫn để đối xử với những người xung quanh. Điều đó sẽ hủy hoại đi biết bao nhiêu điều tốt đẹp trong cuộc sống này. Quả thật, câu nói được đưa ra có ý nghĩa vô cùng to lớn, thức tỉnh những con người còn đang u mê, chưa biết làm sao để sống có ý nghĩa, đồng thời cũng nâng bước, chắp cánh thêm cho những tấm long thơm thảo, sống tốt sẽ luôn hạnh phúc vì những điều mình đã làm.
Câu 2.
|
Cảm nhận của anh/ chị về bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ sau: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? (Trích “Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mặc Tử) |
Phương pháp:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn thơ.
- Phân tích bức tranh thiên nhiên theo từng câu thơ.
- Nhận xét về nghệ thuật và cảm xúc của tác giả.
- Kết luận về ý nghĩa của bức tranh thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là một trong những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ Mới. Đoạn thơ trên mở đầu bằng lời mời gọi đầy tha thiết:
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?"
Câu hỏi vừa như một lời trách móc, vừa như một niềm mong mỏi da diết. Hình ảnh thôn Vĩ hiện lên với những hàng cau đón nắng sớm, một khu vườn tràn đầy sức sống với màu xanh tươi mát:
"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"
Màu xanh của khu vườn được so sánh với ngọc, gợi lên vẻ đẹp tinh khôi, trong trẻo của miền quê xứ Huế. Bức tranh ấy không chỉ đẹp về thị giác mà còn có hồn, với những cành trúc che nghiêng, thấp thoáng hình ảnh con người.
Sang khổ thơ thứ hai, thiên nhiên dần trở nên xa vắng, man mác buồn:
"Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay"
Câu thơ gợi lên sự chia cách, cô đơn, dòng sông Vĩ lặng lẽ trôi trong sự tĩnh lặng của cảnh vật. Hình ảnh "thuyền ai" và "sông trăng" tạo nên không gian huyền ảo, lãng mạn nhưng cũng đầy u hoài:
"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Ánh trăng vừa là vẻ đẹp của thiên nhiên, vừa là biểu tượng của khát vọng, của ước mơ được đoàn tụ, gắn kết. Nhưng câu hỏi cuối bài thơ không có câu trả lời, như một nỗi buồn xa vắng, một niềm khắc khoải không thể gọi thành lời.
Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu du dương, đoạn thơ đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên vừa tươi đẹp, vừa u buồn, phản chiếu tâm trạng của thi nhân. Thôn Vĩ hiện lên như một miền ký ức xa xôi mà tác giả tha thiết mong được trở về, nhưng hiện thực thì lại đầy chia xa. Điều đó càng làm tăng thêm sức hấp dẫn và chiều sâu của bài thơ.
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 - Đề số 10
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
(Kiều ở lầu Ngưng Bích, trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, NXB Văn học, 2014)
Chú thích: Đoạn trích trên nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi biết mình bị bán vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức tự vẫn. Tú bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho.
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là ai?
Câu 3 (1.0 điểm): Anh/chị hiểu như thế nào về từ “Xuân” trong hai câu thơ: Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”?
Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp cú được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 5 (1.0 điểm): Nhận xét của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích trên.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Từ tâm trạng cô đơn, bơ vơ của Thúy Kiều trong đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về giá trị của nghị lực sống trong cuộc đời mỗi con người.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nêu cảm nhận của anh/ chị về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích ở phần đọc – hiểu.
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ của đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: lục bát
Câu 2.
|
Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là ai? |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, chú thích và xác định
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình: Thúy Kiều
Câu 3.
|
Anh/chị hiểu như thế nào về từ “Xuân” trong hai câu thơ: Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”? |
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định nghĩa của từ
Lời giải chi tiết:
Nghĩa đen: “Xuân” có nghĩa là mùa xuân – mùa của sự tươi trẻ, tràn đầy sức sống.
Nghĩa bóng: “Xuân” ở đây nghĩa là thanh xuân, tuổi trẻ của một cô gái => “Khóa xuân” có nghĩa là thanh xuân của Kiều bị giam cầm, bị kìm hãm trong chốn lầu xanh, mất đi tự do và tuổi trẻ.
Câu 4.
|
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp cú được sử dụng trong đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Tìm các từ/cụm từ lặp lại nhiều lần, sau đó phân tích tác dụng của chúng.
Lời giải chi tiết:
- Điệp cú “buồn trông” xuất hiện ở bốn câu thơ cuối:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh nỗi buồn triền miên, dai dẳng của Kiều khi bị giam cầm, cô đơn.
+ Tạo nhịp điệu ám ảnh, diễn tả tâm trạng tuyệt vọng, bế tắc của nàng.
Câu 5.
|
Nhận xét của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Phân tích nội dung đoạn trích để làm rõ tâm trạng và phẩm chất của Kiều.
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích:
- Nỗi nhớ thương sâu nặng: Kiều hướng về gia đình, lo lắng cho cha mẹ khi mình không còn bên cạnh.
- Tấm lòng chung thủy: Nhớ về Kim Trọng với tình yêu son sắt.
- Nỗi buồn và sự cô đơn: Cảnh thiên nhiên phản chiếu tâm trạng lẻ loi, bơ vơ, mất phương hướng.
- Khát vọng tự do, hạnh phúc nhưng lại bị kìm hãm bởi số phận nghiệt ngã.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Từ tâm trạng cô đơn, bơ vơ của Thúy Kiều trong đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về giá trị của nghị lực sống trong cuộc đời mỗi con người. |
Phương pháp:
- Giải thích: Nghị lực sống là khả năng kiên trì, vượt qua khó khăn, thử thách để vươn lên trong cuộc sống.
- Bàn luận:
+ Nghị lực giúp con người mạnh mẽ đối mặt với nghịch cảnh.
+ Những người có nghị lực thường đạt được thành công và truyền cảm hứng cho xã hội.
+ Thiếu nghị lực dễ dẫn đến bi quan, bỏ cuộc trước khó khăn.
- Dẫn chứng: Những tấm gương có nghị lực vươn lên (Nick Vujicic, Helen Keller, thầy Nguyễn Ngọc Ký…).
- Bài học rút ra: Mỗi người cần rèn luyện nghị lực sống để làm chủ cuộc đời mình.
Lời giải chi tiết:
Trong cuộc sống, mỗi người đều phải đối diện với khó khăn, thử thách, và nghị lực sống chính là yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua nghịch cảnh để vươn tới thành công. Nghị lực sống là ý chí kiên trì, lòng dũng cảm và quyết tâm không bỏ cuộc dù gặp phải trở ngại. Người có nghị lực luôn sẵn sàng đối mặt với thất bại, biết đứng dậy sau vấp ngã và không ngừng nỗ lực để đạt được mục tiêu. Nhờ đó, họ có thể biến ước mơ thành hiện thực, khẳng định giá trị bản thân và truyền cảm hứng cho những người xung quanh. Chẳng hạn, Nick Vujicic – chàng trai không tay không chân, đã vươn lên trở thành diễn giả nổi tiếng thế giới, hay Helen Keller – dù khiếm thính và khiếm thị nhưng vẫn trở thành nhà văn, nhà hoạt động xã hội vĩ đại. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có những người thiếu ý chí, dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, sống dựa dẫm vào người khác, đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện nghị lực sống để vững vàng trước sóng gió, tạo dựng một cuộc đời ý nghĩa và thành công.
Câu 2.
|
Viết bài văn nêu cảm nhận của anh/ chị về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích ở phần đọc – hiểu. |
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu đoạn trích và hoàn cảnh của Thúy Kiều.
2. Thân bài:
Không gian cô đơn, bế tắc (cảnh lầu Ngưng Bích, bốn bề mênh mông).
Nỗi nhớ thương da diết (với gia đình, với Kim Trọng).
Nỗi buồn đau, tuyệt vọng (điệp từ "buồn trông" thể hiện sự vô vọng).
3. Kết bài: Đánh giá tâm trạng Kiều – vừa đáng thương, vừa thể hiện tâm hồn cao đẹp.
Lời giải chi tiết:
Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc, bằng ngòi bút tinh tế và sâu sắc, đã khắc họa rõ nét tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Đây là khoảng thời gian Kiều bị giam lỏng sau khi bị lừa bán vào lầu xanh. Tâm trạng của nàng hiện lên đầy xót xa qua từng câu thơ, thể hiện nỗi cô đơn, nhớ thương và lo lắng cho tương lai đầy mịt mù phía trước.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du miêu tả khung cảnh thiên nhiên rộng lớn nhưng lại mang đầy nỗi cô đơn:
"Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung."
Không gian rộng lớn với "non xa", "trăng gần" càng làm nổi bật sự cô lập của Kiều. Nàng như bị giam cầm giữa nơi bát ngát ấy, chỉ có thiên nhiên làm bạn. "Khóa xuân" không chỉ diễn tả tuổi xuân bị kìm hãm mà còn thể hiện tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng của Kiều.
Nỗi cô đơn ấy nhanh chóng biến thành niềm thương nhớ khôn nguôi. Kiều nhớ Kim Trọng – người tình chung thủy mà nàng đã phải phụ bạc vì chữ hiếu:
"Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ."
Nhớ về lời thề nguyền dưới trăng, Kiều không khỏi xót xa, dằn vặt. Nàng lo lắng không biết Kim Trọng có còn mong đợi hay đã trách hờn mình. Không chỉ nhớ tình lang, Kiều còn thương cha mẹ già yếu:
"Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?"
Hình ảnh "tựa cửa" gợi lên cảnh cha mẹ ngày đêm mong ngóng tin con. Kiều càng thương cha mẹ bao nhiêu, nàng càng đau đớn bấy nhiêu vì bản thân không thể ở bên phụng dưỡng.
Cuối đoạn trích, tâm trạng Kiều chuyển sang nỗi sợ hãi, hoang mang trước số phận:
"Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?"
Các điệp ngữ "buồn trông" liên tiếp nhấn mạnh tâm trạng lo lắng, tuyệt vọng của Kiều. Hình ảnh "hoa trôi man mác" chính là ẩn dụ cho cuộc đời lênh đênh, vô định của nàng – một kiếp người nhỏ bé giữa dòng đời nghiệt ngã.
Như vậy, qua đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", Nguyễn Du đã thành công trong việc khắc họa tâm trạng Thúy Kiều bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Kiều hiện lên với đầy đủ những cung bậc cảm xúc: cô đơn, nhớ thương và lo sợ, qua đó bộc lộ số phận bi kịch của nàng. Đoạn thơ không chỉ thể hiện tài năng của Nguyễn Du mà còn gợi lên sự đồng cảm sâu sắc của người đọc đối với nhân vật Thúy Kiều.
Công cụ tra cứu bỏ túi cho ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11
Tra cứu nhanh công thức, bảng biểu và phương pháp giải miễn phí 24/7
Tổng hợp công thức trọng tâm từ lớp 6 đến 12 chuẩn SGK mới GDPT 2018.
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, cuối kỳ các môn có lời giải chi tiết.
Công thức chuẩn, dấu hiệu nhận biết (Signal words) & chia động từ tự động.
Đánh giá độ hữu ích của lời giải
Ý kiến của em giúp Tri Thức Hub nâng cao chất lượng bài giảng
Lời giải bài Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11 có giúp em hiểu rõ phương pháp và tự làm được bài tập không?
Luyện trắc nghiệm ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Bài học cùng chuyên đề: Đề thi giữa kì 2 lớp 11 - Cánh diều
Đề ôn luyện trắc nghiệm liên quan
Trắc nghiệm củng cố: Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11
Bộ câu hỏi trắc nghiệm rèn luyện tư duy và ghi nhớ kiến thức cốt lõi.
Kho đề thi & Kiểm tra định kỳ Lớp 11
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, học kỳ và đề ôn luyện trắc nghiệm trực tuyến miễn phí.
Luyện đề thi Giữa kì & Học kì ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Sau khi học xong "Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11 - Cánh diều", bạn có thể thử sức ngay với kho đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết và đề thi học kì chuẩn phân phối chương trình Kết Nối Tri Thức. Hỗ trợ tải trọn bộ PDF đề bài kèm Lời giải chi tiết trên App Tri Thức Hub!
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
