
Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11
Flashcard 60s: Kiến thức cốt lõi
Lật thẻ nhớ nhanhChỉ 1 phút nắm trọn định nghĩa, dạng bài và bí quyết làm bài trước khi đọc giải
Ghi nhớ & Mẹo giải nhanh: Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc truyện ngắn sau:
Con bé Em cười tủm tỉm khi nghĩ tới cái áo đầm màu hồng mà má nó mới mua cho:
- Tết này, mình mà mặc cái áo đó đi chơi, đẹp như tiên cho mà coi.
Nó nghĩ và nó muốn chia sẻ với con Bích, bạn nó.
Con Bích ở trong hẻm, nhà nó nghèo, má nó đi bán bắp nướng ngoài đầu hẻm, con bé Em thích con Bích vì nó hiền, với lại ngồi kế nhau từ lớp một tới lớp năm, làm sao mà không thân cho được. Hôm hai mươi sáu, học buổi cuối năm, hai đứa nôn Tết quá trời nên tính trước, nếu mùng một con bé Em đi về ngoại thì mùng hai hai đứa đi tới nhà cô giáo. Bây giờ con bé Em tính trong đầu, tới bữa đó chắc nhiều bạn nữa, cho nên nó sẽ mặc cái áo đầm mới thắt nơ, bâu viền kim tuyến cho tụi bạn lé con mắt luôn.
Con Bích đang ngồi nướng bắp thế cho má nó đi xách cặn cho heo. Bé Em muốn khoe liền nhưng bày đặt nói gièm:
- Còn mấy ngày nữa Tết rồi hen, mầy có đồ mới chưa?
- Có, má tao đưa vải cho cô Ba thợ cắt rồi, má tao nói gần Tết đồ nhiều, dồn đống, chắc tới hai mươi tám mới lấy được.
- Vậy mầy được mấy bộ?
- Có một bộ hà.
Con bé Em trợn mắt:
- Ít quá vậy?
- Con Út Mót với Con Út Hết được hai bộ. Tao lớn rồi, nhường cho tụi nó.
- Vậy à?
Bé Em mất hứng hẳn, nó lựng khựng nửa muốn khoe, nửa muốn không.
Nhưng rõ ràng là con Bích không quên nó:
- Còn mầy?
- Bốn bộ. Má tao mua cho đủ mặc từ mùng một tới mùng bốn, bữa nào cũng mặc đồ mới hết trơn. Trong đó có bộ đầm hồng nổi lắm, hết sẩy luôn.
- Mầy sướng rồi.
Con Bích nói xong vẫn cười nhưng mắt nó xịu xuống, buồn hẳn. Nhà nó nghèo, sao bì được với nhà con bé Em. Hồi nhỏ nó chuyên mặc áo con trai của anh hai nó để lại. Áo nó thì chuyền cho mấy đứa em, tới con Út Hết là đồ đã cũ mèm, mỏng tang, kéo nhẹ cũng rách. Được cái mấy chị em nó biết thân, lo học chớ không so đo chuyện cũ mới. Má nó nói hoài: “Nhà mình nghèo quá hà, ráng vài năm nữa, khá giả rồi má sắm cho”. Con bé Em nhìn con Bích lom lom rồi cúi xuống, trở trở trái bắp nướng:
- Bộ đồ mầy may chắc đẹp lắm, bữa mùng hai mầy mặc bộ đó đi nhà cô hen?
Rồi tới mùng một, mùng hai, bé Em lại rủ con Bích đi chơi. Hai đứa mặc đồ hơi giống nhau, chỉ khác là con Bích mặc áo trắng bâu sen, con bé Em thì mặc áo thun có in hình mèo bự. Cô giáo tụi nó khen:
- Coi hai đứa lớn hết trơn rồi, cao nhòng.
Hai đứa cười. Lúc đó con bé Em nghĩ thầm, mình mà mặc bộ đầm hồng, thế nào cũng mất vui. Bạn bè phải vậy chớ. Đứa mặc áo đẹp, đứa mặc áo xấu coi gì được, vậy sao coi là bạn thân. Nhưng Bích lại nghĩ khác, bé Em thương bạn như vậy, tốt như vậy, có mặc áo gì Bích vẫn quý bé em. Thiệt đó.
(Áo Tết, Nguyễn Ngọc Tư, in trong Bánh trái mùa xưa, NXB Văn học)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ ba
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ nhất
D. Ngôi thứ nhất và thứ ba
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào?
A. Điểm nhìn của nhân vật bé Em
B. Điểm nhìn của nhân vật Bích
C. Điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện
D. Cả B và C
Câu 3. Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện?
A. Chỉ có lời nhân vật
B. Chỉ có lời người kể chuyện
C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật
D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả
Câu 4. Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là:
A. Bích và bé Em được may đồ Tết
B. Bích và bé Em mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo
C. Bé Em có bốn bộ đồ Tết, trong khi Bích chỉ có một bộ
D. Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo
Câu 5. Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện?
A. Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo
B. Kể về việc bé Em được may bốn bộ đồ Tết trong khi đó Bích chỉ được mẹ may cho một bộ
C. Kể về việc bé Em đã cố tình mặc đồ hơi giống Bích trong ngày hai đứa mặc áo mới đi thăm cô giáo
D. Kể về cuộc trò chuyện thân mật giữa Bích và bé Em về chuyện may đồ Tết
Câu 6. Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé như thế nào?
A. Là một cô bé có tâm hồn tinh tế
B. Là một cô bé thích thể hiện
C. Là một cô bé khiêm tốn
D. Là một cô bé giảu lòng nhân ái
Câu 7. Phát biểu nào sau đây nói lên chủ đề của truyện ngắn trên?
A. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em
B. Ca ngợi tình bạn chân thành, cao đẹp của bé Em và Bích
C. Phê phán sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội
D. Cả A và B
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Hãy nêu một truyện ngắn nói về sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu đối với những đứa trẻ con nhà nghèo khó. (Đó là truyện ngắn nào, của ai?)
Câu 9. Bạn rút ra được bài học gì về tình bạn sau khi đọc truyện ngắn trên?
Câu 10. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự đồng cảm đối với người khác trong hoàn cảnh khó khăn? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. LÀM VĂN (4,0 điểm)
Bạn hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em ở truyện ngắn trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
A |
A |
B |
C |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ ba B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ nhất D. Ngôi thứ nhất và thứ ba |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ ba.
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? A. Điểm nhìn của nhân vật bé Em B. Điểm nhìn của nhân vật Bích C. Điểm nhìn của nhân vật người kể chuyện D. Cả B và C |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định điểm nhìn.
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật bé Em
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện? A. Chỉ có lời nhân vật B. Chỉ có lời người kể chuyện C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý ngôi kể.
Lời giải chi tiết:
Phát biểu nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện: Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật.
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là: A. Bích và bé Em được may đồ Tết B. Bích và bé Em mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo C. Bé Em có bốn bộ đồ Tết, trong khi Bích chỉ có một bộ D. Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định sự kiện nổi bật.
Lời giải chi tiết:
Sự kiện đáng chú ý nhất trong truyện ngắn trên là: Bé Em cố ý mặc đồ hơi giống bộ đồ của Bích khi đi chúc Tết cô giáo
→ Đáp án D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện? A. Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo B. Kể về việc bé Em được may bốn bộ đồ Tết trong khi đó Bích chỉ được mẹ may cho một bộ C. Kể về việc bé Em đã cố tình mặc đồ hơi giống Bích trong ngày hai đứa mặc áo mới đi thăm cô giáo D. Kể về cuộc trò chuyện thân mật giữa Bích và bé Em về chuyện may đồ Tết |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung tóm tắt của truyện: Kể về chuyện may đồ Tết của Bích và bé Em và cách hành xử tế nhị của bé Em trong ngày hai đứa mặc đồ mới đi chúc Tết cô giáo.
→ Đáp án A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé như thế nào? A. Là một cô bé có tâm hồn tinh tế B. Là một cô bé thích thể hiện C. Là một cô bé khiêm tốn D. Là một cô bé giảu lòng nhân ái |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Việc bé Em quyết định không mặc bộ đầm hồng mà mặc bộ đồ hơi giống bạn của mình khi cùng bạn đi thăm cô giáo cho thấy bé Em là một cô bé có tâm hồn tinh tế.
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói lên chủ đề của truyện ngắn trên? A. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em B. Ca ngợi tình yêu chân thành, cao đẹp của bé Em và Bích C. Phê phán sự phân biệt giàu nghèo trong xã hội D. Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật Bích. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định chủ đề của truyện.
Lời giải chi tiết:
Phát biểu nói lên chủ đề của truyện ngắn trên: Ca ngợi tấm lòng tinh tế, cách hành xử tế nhị của nhân vật bé Em.
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Hãy nêu một truyện ngắn nói về sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu đối với những đứa trẻ con nhà nghèo khó. (Đó là truyện ngắn nào, của ai?) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS nêu được tên tác phẩm thể hiện sự đồng cảm, tình yêu thương của những đứa trẻ con nhà giàu với những đứa trẻ con nhà nghèo khó.
- Gợi ý: Truyện ngắn “Gió lạnh đầu mùa” của tác giả Thạch Lam.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Bạn rút ra được bài học gì về tình bạn sau khi đọc truyện ngắn trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Học sinh được tự do rút ra bài học cho bản thân, miễn là tích cực và liên quan đến nội dung câu chuyện.
Gợi ý:
- Cần tinh tế trong đối xử với bạn bè.
- Nên đề cao tình cảm chân thành, không nên quan trọng ở vật chất…
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về ý nghĩa của sự đồng cảm đối với người khác trong hoàn cảnh khó khăn? (Viết khoảng 5 – 7 dòng) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của sự đồng cảm.
-Thí sinh lí giải hợp lí, thuyết phục.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Sự đồng cảm giúp chúng ta có thái độ đối xử chân thành.
- Sự động cảm giúp người khác không cảm thấy tự ti, mặc cảm.
- Sự đồng cảm giúp duy trì những mối quan hệ tốt đẹp…
II. VIẾT (4 điểm)
|
Phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em ở truyện ngắn trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc về nghệ thuật trong việc xây dựng hình tượng nhân vật bé Em. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tác giả, tác phẩm. - Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. 1. Tóm tắt truyện: Truyện xoay quanh câu chuyện áo tết của hai đứa bé là bé Em và Bích. Bé Em được mẹ may cho bốn bộ áo tết, trong khi đó Bích, bạn của bé Em, vì nhà nghèo nên chỉ được mẹ may cho một bộ. Để bạn không cảm thấy tủi thân, trong ngày đi chúc tết cô giáo, bé Em đã mặc bộ đồ hơi giống Bích. Hiểu được tấm lòng của bé Em, Bích thêm yêu quý bạn của mình. 2. Xác định và phân tích, đánh giá chủ đề: a. Xác định chủ đề: Thông qua câu chuyện về áo tết và cách hành xử của nhân vật bé Em, truyện ca ngợi tình bạn chân thành giữa bé Em và Bích, ca ngợi tấm lòng nhạy cảm, tinh tế của bé Em đối với người bạn của mình. b. Phân tích, đánh giá chủ đề: - Truyện là bài ca về tình bạn hồn nhiên, trong sáng nhưng rất chân thành và tinh tế. Bé Em và Bích tuy còn nhỏ tuổi nhưng đã luôn biết nghĩ cho bạn của mình. Bé Em vì nghĩ đến hoàn cảnh của bạn nên đã không nỡ khoe chuyện mình được may áo đẹp. Bích vì quan tâm đến bạn nên vẫn hỏi han bạn để bạn có cơ hội khoe áo mới của mình. Đặc biệt nhất là cách hành xử của bé Em trong ngày đi chúc tết cô giáo. Bé Em đã ăn mặc hơi giống bạn để bạn không thấy tự ti. Còn Bích thì biết được tấm lòng của bạn, nên Bích nghĩ rằng, chỉ cần sự chân thành đó, và dù bé Em có mặc đẹp hơn Bích đi chăng nữa, thì Bích vẫn thương quý bạn mình. - Tuy viết về tình bạn hồn nhiên của hai đứa trẻ, nhưng truyện cũng là bài học cho tình bạn ở mọi lứa tuổi, cho mọi mối quan hệ giữa con người với con người: Trong ứng xử với người khác, hãy luôn lấy sự chân thành làm nền tảng, phải luôn thấu hiểu lẫn nhau, để không làm cho nhau bị tổn thương. Khi ta hành xử được như vậy thì người khác cũng sẽ nhân đó mà quý trọng, yêu thương ta nhiều hơn nữa. 3. Hình tượng nhân vật bé Em: - Bé Em mang trong mình tích cách hồn nhiên của trẻ thơ: thích khoe đồ mới, và em thực hiện ý muốn đó một cách cũng rất trẻ con, bằng cách gạn hỏi bạn trước, để từ đó tìm cơ hội khoe áo mới của mình. - Nhưng dù còn nhỏ tuổi, bé Em đã là một cô bé nhạy cảm và tinh tế. Khi nghe Bích nói về hoàn cảnh của mình, bé Em đã khựng lại, hết hứng, nửa muốn khoe nửa muốn không. Bé muốn khoe vì cái nỗi sung sướng của trẻ con khi được may áo mới vẫn còn chộn rộn trong lòng, nhưng bé cũng không muốn khoe vì như thế sẽ khiến bạn cảm thấy tủi thân. - Rồi sau khi được bạn gạn hỏi, sau khi phải nói ra việc mình có những bốn bộ đồ mới, khi chứng kiến đôi mắt “xịu xuống, buồn hẳn” của bạn, và nghĩ đến hoàn cảnh của bạn, bé Em đã có một cách hành xử vô cùng đẹp, vô cùng nhân văn. Đó là ngày đi chúc tết cô giáo, để bạn không bị mặc cảm, bé em đã mặc đồ hơi giống bạn. Một cách hành xử rất trẻ con, nhưng lại khiến ta xúc động: xúc động vì cách hành xử đó xuất phát từ lòng yêu thương, từ sự sâu sắc và tinh tế của tâm hồn của một đứa trẻ. Cách hành xử ấy đáng cho người lớn phải học tập.
|
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề - Nêu ý nghĩa của truyện kể đối với bản thân và người đọc: Câu chuyện đã giúp ta hiểu được rằng: trong tình bạn, trong cách đối xử giữa con người với con người, chúng ta cần đem lòng chân thành mà đối đãi, lấy sự tinh tế mà ứng xử, từ đó mới có thể xây dựng lên được những mối quan hệ bền vững và tốt đẹp. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(Lược dẫn: Con Mực là con chó có nhiều tật xấu. Người ta đã định giết thịt nó, nhưng vì nhiều lí do nên ngày xử con Mực liên tục bị hoãn lại. Cuối cùng, người ta quyết định sẽ giết con Mực để mừng người con trai tên Du xa nhà nhiều năm nay mới trở về).
Bữa ăn xong, con Hoa cầm bát cơm ra: một tay nó xách cái thúng như để rồi xếp bát. Thấy được ăn, tất cả thú tính của con Mực hoàn toàn nổi dậy. Nó nhảy tới vẫy đuôi hếch mõm nhìn và đợi. Cơm vừa đổ xuống nó vội vàng chúi mõm ăn ngay. Miếng chưa qua cổ thì cái thúng đã chụp quanh trên mình. Nó rít lên, vùng mạnh; nhưng Hoa đã tì cả người lên cái thúng rồi, và con Mực bị thu gọn ở trong vừa vặn đến nỗi không còn giẫy và kêu được. Lũ trẻ con réo ầm lên. Người ta lấy sẵn dao thớt và dây để trói. Phần mở thúng đã đành phải về Du: ông chủ đi vắng, cả nhà chỉ có chàng là đàn ông, mà không lẽ đi mượn hàng xóm trói giùm một con chó đã úp gọn gàng chỉ việc hơi hé cạp thúng lên, hễ chó thò đầu ra thì một đứa em đặt gậy lên cổ nó để chân chàng dận xuống. Nhưng tay chàng thấy run run. Và khi con chó vừa thò đầu ra thì nó quẫy luôn một cái mạnh, vùng ra được. Con Hoa tủm tỉm cười. Lũ em ngơ ngác nhìn theo con chó vừa ẳng ẳng vừa chạy ở ngoài vườn. Còn Du thì mặt đỏ như gấc chín. Chàng thấy mình yếu tay hơn cả con Hoa. Có lẽ nào chàng lại dịu lòng hơn cả một người con gái. Và tự nhiên chàng giận con Mực. Người ta còn lo con Mực sợ hãi mà đi mất. Quả nhiên suốt ngày hôm ấy nó không về. Nó vẩn vơ vườn hàng xóm, lẩn lút như một con chó trước khi hóa dại.
Người ta tưởng đã mất toi. Nhưng tối hôm ấy nó lần vào gầm giường rồi Du lại nghe thấy cái thứ tiếng gà gáy của nó rít lên ở phía ngõ.
Sáng hôm sau nó vẫn bỏ cơm. Trưa cũng thế. Và cứ thấy bóng người lại cúp đuôi chạy mất. Du thương hại sai người đem cơm đổ ra vườn. Một lúc sau Mực lại gần. Nó trông trước trông sau, đưa mõm rê trên những hạt cơm rồi vô cớ giật mình chạy thẳng. Có lẽ cái kỷ niệm khủng khiếp vừa lóe ra và đập mạnh vào thần kinh nó như luồng điện. Du thấy bồn chồn và vẩn vơ: thương, hối hận hay là thẹn.
Sau cùng thì chàng bực mình: chàng nhận ra rằng một con chó đã làm mất sự bình tĩnh của tâm hồn chàng. Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người. Phải dám giết mà không run tay khi cần phải giết. Còn làm được trò gì nữa nếu chỉ giết một con chó mà tim cũng đập?
Sự do dự đã hết rồi. Khi có một ý định thì ý định ấy chóng thành mạnh mẽ. Du thấy lòng cứng cỏi. Ðã có lúc chàng tưởng đến cái thú dí con dao vào súc thịt giẫy lên đành đạch để máu ấm phọt vào tay. Và chiều hôm ấy khi thấy con chó ở vườn thì chàng gần như mừng rỡ. Con vật khốn nạn đói và sợ đã mệt lử đi rồi. Nó hiện ngủ bên bờ giậu. Du cầm cái gậy to rón rén lại gần. Nhưng giơ gậy lên chàng bỗng thấy tim run một cái. Chàng tưởng như ngạt thở và ngừng lại một giây để nhìn con chó. Giấc ngủ của nó có lẽ đầy ác mộng vì thỉnh thoảng khắp mình nó lại giật lên. Du thấy lòng quả quyết tiêu tán hết. Nhưng con chó bỗng giật mình. Du hoảng hốt thẳng cánh vụt mạnh trên mình nó, bụng nó thót hẳn vào rồi lại phình ra như một khối cao su. Nó rống lên gượng dậy loạng choạng mấy vòng rồi chui bừa qua giậu trong khi Du vụt cuống cuồng theo xuống đất... Ðêm đã khuya. Du lại nghe tiếng Mực rống lên. Chàng thấy toát mồ hôi và nhất định không giết con chó nữa.
Nhưng trời gần sáng chàng còn đương mơ mộng, thì đã nghe tiếng Hoa gọi cuống cuồng lên. Con vật khốn nạn không biết mỏi mệt thế nào mà ngủ quên đi ngay ở giữa sân để đến nỗi bị Hoa úp được. Lần này thì người ta cẩn thận hơn. Hai ba người nắm vào hai đầu gậy tre ngáng sẵn bên cạnh thúng rồi Hoa mới hơi hé miệng thúng lên. Thấy sáng con Mực nhô ra ngoài cái mõm ướt phì phì. Hoa nhích lên tí nữa nhưng một cái gối đã tì sẵn trên thúng. Mực lách cả cái đầu ra. Cái gậy đè mạnh xuống. Con vật khốn nạn không còn kịp kêu.
- Ðè chặt, thật chặt, đừng buông nó ra nó cắn đấy!
Du kêu lên như thế nhưng tiếng chàng đã hơi run run. Con chó phì một cái nữa: hơi thở mới thoát ra một nửa bị tắc. Cái gậy đè sát đất, mắt nó trợn lên. Lòng đen ươn ướt cứ đờ dần rồi ngược lên lần một nửa vào mí trên. Lòng trắng đã hơi đục. Lúc Hoa trói xong cả chân trước, chân sau và buộc mõm rồi thì con chó đã mềm ra không còn cựa quậy nữa.
Du nghẹn ngào nén khóc...
(Trích Cái chết của con Mực, Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ ba
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ nhất
D. Ngôi thứ nhất và thứ ba
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào?
A. Điểm nhìn của nhân vật Hoa
B. Điểm nhìn của nhân vật Du
C. Điểm nhìn của người kể chuyện
D. Điểm nhìn của tác giả.
Câu 3. Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện?
A. Chỉ có lời nhân vật
B. Chỉ có lời người kể chuyện
C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật
D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả
Câu 4. Tình huống chính trong truyện ngắn trên là gì ?
A. Du trở về sau nhiều năm xa nhà
B. Cái chết của con Mực
C. Mọi người tìm cách giết con Mực
D. Du không nỡ giết con Mực
Câu 5. Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện?
A. Kể về quá trình giết chết con Mực và thái độ, tâm trạng của Du trước sự việc ấy.
B. Kể về việc Du trở về sau nhiều năm xa nhà và quá trình người ta giết con Mực để ăn mừng.
C. Kể về việc Du không dám ra tay giết con Mực.
D. Kể về thái độ thương tiếc và tâm trạng đau đớn, xót xa của Du trước cái chết của con Mực.
Câu 6. Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người như thế nào?
A. Một con người vừa tàn nhẫn. vừa giàu tình yêu động vật.
B. Một con người có lòng trắc ẩn, nhưng không có chính kiến.
C. Một con người có chính kiến, có lòng trắc ẩn.
D. Một người giàu tình yêu thương động vật.
Câu 7. Qua cái chết của con Mực, Nam Cao muốn gửi gắm thông điệp gì?
A. Không nên hành động theo đám đông mà hãy hành động theo lương tri
B. Không nên đối xử một cách tàn nhẫn với loài vật
C. Trước mọi sự việc, con người cần có sự quyết đoán, không nên do dự.
D. Con người cần biết tàn nhẫn thì mới có thể sống thanh thản
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Câu chuyện trên khiến bạn nhớ tới truyện ngắn nào của Nam Cao đã được học trong chương trình Ngữ Văn ở bậc THCS?
Câu 9. Bạn rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc truyện ngắn trên?
Câu 10. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về vai trò của tình yêu thương trong cuộc sống? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. LÀM VĂN (4,0 điểm)
Bạn hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nam Cao ở truyện ngắn trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
C |
C |
C |
B |
A |
B |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định ngôi kể của truyện. A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Kết hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể.
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể: thứ ba
→ Đáp án C
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? A. Điểm nhìn của nhân vật Hoa B. Điểm nhìn của nhân vật Du C. Điểm nhìn của người kể chuyện D. Điểm nhìn của tác giả. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định điểm nhìn.
Lời giải chi tiết:
Tác giả chọn điểm nhìn của người kể chuyện
→ Đáp án C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện? A. Chỉ có lời nhân vật B. Chỉ có lời người kể chuyện C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý đặc điểm lời kể trong truyện
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm của lời kể trong truyện: Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Tình huống chính trong truyện ngắn trên là gì ? A. Du trở về sau nhiều năm xa nhà B. Cái chết của con Mực C. Mọi người tìm cách giết con Mực D. Du không nỡ giết con Mực |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định tình huống truyện
Lời giải chi tiết:
Tình huống chính trong truyện ngắn trên là: Cái chết của con Mực
→ Đáp án B
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện? A. Kể về quá trình giết chết con Mực và thái độ, tâm trạng của Du trước sự việc ấy. B. Kể về việc Du trở về sau nhiều năm xa nhà và quá trình người ta giết con Mực để ăn mừng. C. Kể về việc Du không dám ra tay giết con Mực. D. Kể về thái độ thương tiếc và tâm trạng đau đớn, xót xa của Du trước cái chết của con Mực. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: Kể về quá trình giết chết con Mực và thái độ, tâm trạng của Du trước sự việc ấy.
→ Đáp án A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người như thế nào? A. Một con người vừa tàn nhẫn, vừa giàu tình yêu động vật. B. Một con người có lòng trắc ẩn, nhưng không có chính kiến. C. Một con người có chính kiến, có lòng trắc ẩn. D. Một người giàu tình yêu thương động vật. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người: Một con người có lòng trắc ẩn, nhưng không có chính kiến.
→ Đáp án B
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Qua cái chết của con Mực, Nam Cao muốn gửi gắm thông điệp gì? A. Không nên hành động theo đám đông mà hãy hành động theo lương tri B. Không nên đối xử một cách tàn nhẫn với loài vật C. Trước mọi sự việc, con người cần có sự quyết đoán, không nên do dự. D. Con người cần biết tàn nhẫn thì mới có thể sống thanh thản |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Qua cái chết của con Mực, Nam Cao muốn gửi gắm thông điệp: Không nên hành động theo đám đông mà hãy hành động theo lương tri
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Câu chuyện trên khiến bạn nhớ tới truyện ngắn nào của Nam Cao đã được học trong chương trình Ngữ Văn ở bậc THCS? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Liên hệ tới truyện ngắn cùng đề tài của Nam Cao.
Lời giải chi tiết:
Câu chuyện trên khiến ta nhớ tới truyện ngắn “Lão Hạc” đã được học ở lớp 8.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Bạn rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc truyện ngắn trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Học sinh được tự do rút ra bài học cho bản thân, miễn là tích cực và liên quan đến nội dung câu chuyện.
Gợi ý:
- Cần phải có chính kiến, lập trường vững vàng trước mọi sự việc trong mọi hoàn cảnh
- Cần phải hành động theo tiếng nói của lương tri
- Không a dua theo đám đông khi chưa suy xét kĩ càng
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về vai trò của tình yêu thương trong cuộc sống? (Viết khoảng 5 – 7 dòng) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về về vai trò của tình yêu thương trong cuộc sống.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Tình yêu thương giúp gắn kết con người lại với nhau
- Tình yêu thương giúp ta sống hạnh phúc, thanh thản
- Tình yêu thương giúp ta có sức mạnh để chiến thắng mọi thử thách, khó khăn.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Bạn hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nam Cao ở truyện ngắn trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nam Cao ở truyện ngắn trên. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. * Phân tích các phương diện nghệ thuật đặc sắc: - Cốt truyện: + Truyện ngắn “cái chết của con Mực” kể về số phận của một con chó, được mọi người gọi với tên là Mực. Chính vì có nhiều tật xấu trong người nên con chó này đã được người ta định ngày giết, nhưng may mắn thay có nhiều lí do nên ngày xử con Mực liên tục bị hoãn lại. Nhưng rồi ngày giết thịt cuối cùng cũng tới, người ta lấy con Mực ra giết thịt để ăn mừng sự trở về sau nhiều năm xa nhà của người con trai tên Du. Và rồi chính Du là người được giao việc giết thịt nó, là một người sở hữu lòng yêu thương con vật tình cảm của Du dành cho con Mực cũng vậy, nhưng vì muốn bản thân là một con người mạnh mẽ trong mắt mọi người, đặc biệt muốn có tinh thần như bao người xung quanh nên anh cũng đã đồng tình để giết Mực. Nhưng sau đó mực bị bắt giết anh lại hối hận và nghẹn ngào khóc. + Cốt truyện được xây dựng dựa trên sự kiện chính là cái chết của con chó, một cốt truyện tương đối đơn giản nhưng lại có chiều sâu, đa nghĩa và có sức ám ảnh lớn, gây xúc động mạnh cho người đọc. - Nghệ thuật xây dựng tình huống: + Một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn này chính là nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo. Thông qua tình huống đó, tư tưởng của truyện được thể hiện một cách sâu sắc. + Tình huống chủ đạo của truyện chính là việc con Mực bị giết thịt. Tình huống đó đã làm toát lên tất cả tư tưởng chủ đạo của câu chuyện: sự vô tình của con người, sự trung thành tình nghĩa của con chó, từ đó con người soi lại chính mình, để nhận ra sự ích kỉ, sự vô tinh của chính mình. - Lời kể: + Lời kể từ điểm nhìn ngôi thứ ba, tkhiến câu chuyện có độ chân thực, tin cậy, đồng thời giúp cho nhân vật bộc lộ được cảm xúc, tâm trạng của mình một cách trực tiếp, gây ấn tượng mạnh cho người đọc. + Lời kể còn có sự kết hợp giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật, sự kết hợp giữa các phương thức tự sự, biểu cảm và nghị luận, khiến cho câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn, giúp khắc họa rõ nét tính cách nhân vật, qua đó gửi gắm nhiều thông điệp sâu sắc. * Đánh giá: Trích đoạn nổi bật với những đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và sự sâu sắc về chủ đề, chứa đựng nhiều bài học cuộc sống vô cùng giá trị. số phận của con Mực khi được đón nhận trong một ngôi làng với quan niệm mang tính tập quán cổ hủ, lay động vì sự nhu nhược của một cá nhân trước sức mạnh của tập thể. Đồng thời Cái chết của con Mực cũng là phương diện để phản ánh giá trị của bản thân trước sức mạnh của xã hội, đặc biệt là một xã hội đề cao tập quán. Cũng chính lối sống đó đã đưa loài người vào cạm bẫy của xã hội, họ sẵn sàng từ bỏ giá trị cốt lõi của bản thân để theo đuổi cái nhìn của người khác. Họ không muốn người khác xem thường, họ bắt chước theo sức mạnh của người khác để rồi sau những biến cố mà họ tự áp đặt cho bản thân vượt quá giới hạn để tìm lại sự hoàn lương cho con người mình. * Giá trị: Trích đoạn đem đến cho người đọc bài học nhân văn sâu sắc: trong cuộc sống, cần phải có lòng trắc ẩn, tình yêu thương, nhất là đối với những số phận bất hạnh; và dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, hãy sống trọn tình, trọn nghĩa.
|
|
Kết bài |
0,5 |
- Đánh giá chung về đoạn trích và nêu cảm nghĩ của bản thân. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
|
SỞ KIẾN HÀNH (Nguyễn Du) Hữu phụ huề tam nhi Tương tương toạ đạo bàng Tiểu giả tại hoài trung Đại giả trì trúc khuông Khuông trung hà sở thịnh Lê hoắc tạp tì khang Nhật án bất đắc thực Y quần hà khuông nhương Kiến nhân bất ngưỡng thị Lệ lưu khâm lang lang Quần nhi thả hỉ tiếu Bất tri mẫu tâm thương Mẫu tâm thương như hà Tuế cơ lưu dị hương Dị hương sảo phong thục Mễ giá bất thậm ngang Bất tích khí hương thổ Cẩu đồ cứu sinh phương Nhất nhân kiệt dung lực Bất sung tứ khẩu lương Duyên nhai nhật khất thực Thử kế an khả trường Nhãn hạ uỷ câu hác Huyết nhục tự sài lang Mẫu tử bất túc tuất Phủ nhi tăng đoạn trường Kỳ thống tại tâm đầu Thiên nhật giai vị hoàng Âm phong phiếu nhiên chí Hành nhân diệc thê hoàng. Tạc tiêu Tây Hà dịch Cung cụ hà trương hoàng Lộc cân tạp ngư xí Mãn trác trần trư dương Trưởng quan bất hạ trợ Tiểu môn chỉ lược thường Bát khí vô cố tích Lân cẩu yếm cao lương Bất tri quan đạo thượng Hữu thử cùng nhi nương Thuỳ nhân tả thử đồ Trì dĩ phụng quân vương |
NHỮNG ĐIỀU TRÔNG THẤY (Nguyễn Du) Có người đàn bà dắt ba đứa con Cùng nhau ngồi bên đường Đứa nhỏ trong bụng mẹ Đứa lớn cầm giỏ tre Trong giỏ đựng gì lắm thế? Rau lê, hoắc lẫn cám Qua trưa rồi chưa được ăn Áo quần sao mà rách rưới quá Thấy người không ngẩng nhìn Nước mắt chảy ròng ròng trên áo Lũ con vẫn vui cười Không biết lòng mẹ đau Lòng mẹ đau ra sao? Năm đói lưu lạc đến làng khác Làng khác mùa màng tốt hơn Giá gạo không cao quá Không hối tiếc đã bỏ làng đi Miễn sao tìm được phương tiện sống Một người làm hết sức Không đủ nuôi bốn miệng ăn Dọc đường mỗi ngày đi ăn mày Cách ấy làm sao kéo dài mãi được Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh Máu thịt nuôi lang sói Mẹ chết không thương tiếc Vỗ về con càng thêm đứt ruột Trong lòng đau xót lạ thường Mặt trời vì thế phải vàng úa Gió lạnh bỗng ào tới Người đi đường cũng đau đớn làm sao Hành nhân diệc thể hoàng. Đêm qua ở trạm Tây Hà Tiệc tùng cung phụng khoa trương quá mức Gân hươu cùng vây cá Đầy bàn thịt heo, thịt dê Quan lớn không thèm đụng đũa Đám theo hầu chỉ nếm qua Vứt bỏ không luyến tiếc Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon Không biết trên đường cái Có mẹ con đói khổ nhà này Ai người vẽ bức tranh đó Đem dâng lên nhà vua |
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy?
A. Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
B. Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
C. Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do.
D. Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên.
Câu 2. Dòng nào sau đây không thuộc nội dung bài thơ?
A. Cảnh mẹ con người ăn mày: nhếch nhác, tiều tụy, đói khát.
B. Tiệc tùng dư thừa món ngon vật lạ của quan lại.
C. Ngẫm về những phi lí ở đời.
D. Ra tay cứu giúp, nâng đỡ kẻ đói nghèo.
Câu 3. Đối tượng trữ tình chính của bài thơ:
A. Những đứa bé con người ăn mày.
B. Người mẹ với nỗi đau đứt ruột.
C. Người mẹ và đàn con hành khất.
D. Bữa tiệc dư thừa của quan lại.
Câu 4. Cảm xúc/ cảm hứng bao trùm bài thơ:
A. Đồng cảm, xót thương.
B. Căm phẫn sự bất công phi lí.
C. Lên án sự thờ ơ của người đời.
D. Giễu những cảnh đời trái ngược.
Câu 5. Chi tiết nào không gợi cảnh ngộ khốn khổ của mẹ con người ăn mày?
A. Áo quần sao mà rách rưới.
B. Qua trưa rồi chưa được ăn.
C. Nước mắt chảy ròng ròng trên áo.
D. Làng khác mùa màng tốt hơn.
Câu 6. Những từ ngữ nào diễn tả lòng thương cảm của nhà thơ?
A. Giá gạo không cao quá/ Không hối tiếc đã bỏ làng đi.
B. Không biết lòng mẹ đau/Lòng mẹ đau ra sao?
C. Một người làm hết sức/Không đủ nuôi bốn miệng ăn.
D. Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh.
Câu 7. Dòng thơ nào diễn tả nỗi hy sinh (vì con) của người mẹ
A. Mẹ chết không thương tiếc
B. Vỗ về con càng thêm đứt ruột
C. Trong lòng đau xót lạ thường
D. Mặt trời vì thế phải vàng úa
Câu 8. Bốn câu thơ sau diễn tả điều gì?
Trong lòng đau xót lạ thường
Mặt trời vì thế phải vàng úa
Gió lạnh bỗng ào tới
Người đi đường cũng đau đớn làm
A. Nỗi lòng thương con của người mẹ nghèo.
B. Nỗi lòng thương cảm người bất hạnh của thi hào Nguyễn Du.
C. Lòng người và đất trời cùng đau xót trước cảnh đời bất hạnh
D. Thiên nhiên khắc nghiệt khiến lòng người đau đớn hơn
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 9. Xác định những câu/ đoạn thơ chứa nghệ thuật đối lập và phân tích hiệu quả của chúng trong việc phản ánh hiện thực và thể hiện cảm xúc (1đ)
Câu 10. Em thích khổ thơ/ dòng thơ/ hình ảnh nào nhất? Chúng mang tới cho em cảm xúc, nhận thức mở mẻ hay làm sâu sắc hơn cảm xúc, nhận thức đã có (1đ)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Viết bài luận: Thuyết minh (giới thiệu) tác phẩm Sở kiến hành (Những điều trông thấy) – Nguyễn Du với các bạn cùng khối 11 trong ngoại khóa văn học của trường
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
D |
C |
C |
A |
D |
B |
A |
C |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy? A. Bài thơ rút trong Thanh Hiên thi tập, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên. B. Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên. C. Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, thơ tự do. D. Bài thơ rút trong Nam trung tạp ngâm, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Dòng cung cấp thông tin cơ bản về bài thơ Những điều trông thấy: Bài thơ rút trong Bắc hành tạp lục, thể “hành”, ngũ ngôn trường thiên
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Dòng nào sau đây không thuộc nội dung bài thơ? A. Cảnh mẹ con người ăn mày: nhếch nhác, tiều tụy, đói khát. B. Tiệc tùng dư thừa món ngon vật lạ của quan lại. C. Ngẫm về những phi lí ở đời. D. Ra tay cứu giúp, nâng đỡ kẻ đói nghèo. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng không thuộc nội dung bài thơ: Ra tay cứu giúp, nâng đỡ kẻ đói nghèo
→ Đáp án: D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Đối tượng trữ tình chính của bài thơ: A. Những đứa bé con người ăn mày. B. Người mẹ với nỗi đau đứt ruột. C. Người mẹ và đàn con hành khất. D. Bữa tiệc dư thừa của quan lại. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Lời giải chi tiết:
Đối tượng trữ tình chính của bài thơ: Người mẹ và đàn con hành khất
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Cảm xúc/ cảm hứng bao trùm bài thơ: A. Đồng cảm, xót thương. B. Căm phẫn sự bất công phi lí. C. Lên án sự thờ ơ của người đời. D. Giễu những cảnh đời trái ngược. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý những chi tiết thể hiện cảm xúc/ cảm hứng của tác giả
Lời giải chi tiết:
Cảm xúc/ cảm hứng bao trùm bài thơ: Đồng cảm, xót thương
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Chi tiết nào không gợi cảnh ngộ khốn khổ của mẹ con người ăn mày? A. Áo quần sao mà rách rưới. B. Qua trưa rồi chưa được ăn. C. Nước mắt chảy ròng ròng trên áo. D. Làng khác mùa màng tốt hơn. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Chi tiết không gợi cảnh ngộ khốn khổ của mẹ con người ăn mày: Làng khác mùa màng tốt hơn
→ Đáp án D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Những từ ngữ nào diễn tả lòng thương cảm của nhà thơ? A. Giá gạo không cao quá/ Không hối tiếc đã bỏ làng đi. B. Không biết lòng mẹ đau/Lòng mẹ đau ra sao? C. Một người làm hết sức/Không đủ nuôi bốn miệng ăn. D. Thấy trước mắt cái lúc bỏ xác bên ngòi rãnh. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và đáp án
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ diễn tả lòng thương cảm của nhà thơ: Không biết lòng mẹ đau/Lòng mẹ đau ra sao?
→ Đáp án B
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Dòng thơ nào diễn tả nỗi hy sinh (vì con) của người mẹ A. Mẹ chết không thương tiếc B. Vỗ về con càng thêm đứt ruột C. Trong lòng đau xót lạ thường D. Mặt trời vì thế phải vàng úa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và đáp án
Lời giải chi tiết:
Dòng thơ diễn tả nỗi hy sinh (vì con) của người mẹ: Mẹ chết không thương tiếc
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Câu 8. Bốn câu thơ sau diễn tả điều gì? Trong lòng đau xót lạ thường Mặt trời vì thế phải vàng úa Gió lạnh bỗng ào tới Người đi đường cũng đau đớn làm A. Nỗi lòng thương con của người mẹ nghèo. B. Nỗi lòng thương cảm người bất hạnh của thi hào Nguyễn Du. C. Lòng người và đất trời cùng đau xót trước cảnh đời bất hạnh D. Thiên nhiên khắc nghiệt khiến lòng người đau đớn hơn |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bốn câu thơ
Chú ý các từ ngữ: đau xót, vàng úa, đau đớn
Lời giải chi tiết:
Bốn câu thơ diễn tả: Lòng người và đất trời cùng đau xót trước cảnh đời bất hạnh
→Đáp án C
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Câu 9. Xác định những câu/ đoạn thơ chứa nghệ thuật đối lập và phân tích hiệu quả của chúng trong việc phản ánh hiện thực và thể hiện cảm xúc (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về nghệ thuật đối lập
Lời giải chi tiết:
*Những câu / đoạn thơ chứa nghệ thuật đối lập
- Nước mắt chảy ròng ròng trên áo>< Lũ con vẫn vui cười
- Qua trưa rồi chưa được ăn/ Áo quần sao mà rách rưới quá >< Gân hươu cùng vây cá/ Đầy bàn thịt heo, thịt dê/ Quan lớn không thèm đụng đũa/ Đám theo hầu chỉ nếm qua
- Một người làm hết sức/ Không đủ nuôi bốn miệng ăn>< Vứt bỏ không luyến tiếc/ Chó hàng xóm cũng ngán món ăn ngon
* Hiệu quả: Phản ánh hiện thực và thể hiện cảm xúc
- Phản ánh hiện thực đối lập, ngang trái, bất công
- Thể hiện cảm xúc: niềm thương cảm, nỗi phẫn uất trước bất công…
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Câu 10. Em thích khổ thơ/ dòng thơ/ hình ảnh nào nhất? Chúng mang tới cho em cảm xúc, nhận thức mở mẻ hay làm sâu sắc hơn cảm xúc, nhận thức đã có (1đ) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS tự trả lời theo quan điểm cá nhân
- Tham khảo gợi ý: chọn khổ thơ/ dòng thơ/ hình ảnh thơ độc đáo về hình thức, giàu cảm xúc (thể hiện cảnh ngộ thương tâm của mẹ con người ăn mày; nỗi lòng thương con của người mẹ; Cảnh dư thừa phù phiếm của bọn quan lại… nỗi thương cảm của nhà thơ/ Giá trị nhân đạo…) mà em hiểu sâu sắc
- Từ đó xác định nội dung, cảm xúc, nhận thức (mới mẻ/ được cảm nhận sâu sắc hơn)
II. VIẾT (4 điểm)
|
Viết bài luận: Thuyết minh (giới thiệu) tác phẩm Sở kiến hành (Những điều trông thấy) – Nguyễn Du với các bạn cùng khối 11 trong ngoại khóa văn học của trường |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Thuyết minh (giới thiệu) tác phẩm Sở kiến hành |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu tác giả tác phẩm - Giới thiệu giá trị nổi bật của tác phẩm (nhân đạo) |
|
Thân bài |
2,5 |
- Giới thiệu ngắn về con người và sự nghiệp của tác giả - Giới thiệu hoàn cảnh sáng tác và thể loại của tác phẩm - Thuyết minh về đề tài, nội dung, cảm hứng chủ đạo (dùng yếu tố nghị luận, biểu cảm) - Nghệ thuật nổi bật của tác phẩm (Yếu tố tự sự; Nghệ thuật trữ tình; nghệ thuật đối lập…) - Giá trị tư tưởng: tấm lòng nhân đạo ca cả… |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định giá trị giáo dục của tác phẩm - Tác động của tác phẩm tới nhận thức, cảm xúc bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (thuyết minh) - Phối hợp linh hoạt các yếu tố trong thuyết minh |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
MÃ GIÁM SINH MUA KIỀU
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
Tóm tắt Truyện Kiều
*Gặp gỡ và đính ước:
Thúy Kiều là thiếu nữ tài sắc vẹn toàn, con gái đầu lòng gia đình trung lưu, sống trong cảnh êm đềm của hai em Thúy Vân, Vương Quan. Trong buổi du xuân Thúy Kiều gặp Kim Trọng và đem lòng yêu chàng, hai người đã tự ý thề nguyền, đính ước với nhau
* Gia biến và lưu lạc:
Khi Kim Trọng về quê chịu tang chú thì gia đình Kiều gặp nạn, Kiều phải bán mình chuộc cha. Kiều bị bọn buôn người Mã Giám Sinh, Tú Bà, Sở Khanh lừa gạt, đẩy vào lầu xanh. Sau đó nàng được Thúc Sinh cứu khỏi lầu xanh, nhưng sau đó nàng bị Hoạn Thư ghen, đày đọa. Kiều tới nương tựa nơi cửa Phật. Sư giác Duyên vô tình gửi nàng cho Bạc Bà, Kiều lần hai rơi vào lầu xanh được Từ Hải cứu, giúp nàng báo ân, báo oán. Thúy Kiều mắc mưu Hồ Tôn Hiến, Từ Hải chết, nàng bị ép gả cho viên thổ quan, Kiều đau đớn nên trẫm mình xuống sông Tiền Đường tự tử. Nàng được sư Giác Duyên cứu giúp.
* Đoàn tụ:
Sau nửa năm chịu tang chú, Kim Trọng trở về, dù kết duyên với em gái Thúy Kiều là Thúy Vân nhưng trong lòng chàng vẫn khôn nguôi nhớ Kiều. Nhờ sư Giác Duyên, Kim Kiều đoàn tụ cùng vui duyên “bạn bầy”.
Sau đây là đoạn trích từ Truyện Kiều.
Gần miền có một mụ nào
Đưa người viễn khách tìm vào vấn danh.
Hỏi tên rằng: Mã Giám sinh(2).
Hỏi quê, rằng: Huyện Lâm Thanh cũng gần.
Quá niên trạc ngoại tứ tuần(3),
Mày râu nhẵn nhụi, áo quần bảnh bao.
Trước thầy sau tớ lao xao
Nhà băng đưa mối rước vào lầu trang.
Ghế trên ngồi tót sỗ sàng,
Buồng trong mối đã giục nàng kíp ra.
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà,
Thềm hoa một bước, lệ hoa mấy hàng!
Ngại ngùng dợn gió (4) e sương,
Ngừng(5) hoa bóng thẹn, trông gương mặt dày.
Mối càng vén tóc bắt tay,
Nét buồn như cúc, điệu gầy như mai(6)
Đắn đo cân sắc cân tài,
Ép cung cầm nguyệt(7), thử bài quạt thơ.
Mặn nồng một vẻ một ưa,
Bằng lòng khách mới tùy cơ dặt dìu.
Rằng: Mua ngọc đến Lam Kiểu(8),
Sinh nghi” xin dạy bao nhiêu cho tường?
Mối rằng: đáng giá nghìn vàng,
Dớp nhà nhờ lượng người thương dám nài.
Cò kè bớt một thêm hai,
Giờ lâu ngã giá vàng ngoài bốn trăm.
(Nguyễn Du, Truyện Kiều, NXB Khoa học xã hội, 1974)
1. Viễn Khách: khách ở xa đến. Vấn danh: hỏi tên (nhà gái phải cho biết rõ tên tuổi người con gái)
2. Mã Giám Sinh : giám sinh họ Mã. Giám sinh là tên gọi học trò ở Quốc tử giám, trưởng lớn ở kinh đô thời xưa. Giám sinh cũng có khi chỉ chức giám sức người ta mua của triều đình.
3. Tứ tuần : bốn mươi tuổi. Ý câu thơ : người đã đứng tuổi, ngoài bốn mươi.
4. Dợn gió : có cảm giác sợ gió, ngại gió.
5. Ngừng (tiếng cổ) : nhìn, ngắm.
6. Hai hình ảnh dùng để tả người phụ nữ đẹp lúc buồn rầu.
7. Ép cung cầm nguyệt: ép gảy đàn ; thử bài quạt thơ: thử tài làm thơ của Kiều.
8. Mua ngọc đến Lam Kiều : Lam Kiều là tên một cái cầu ở huyện Lam Điền, tỉnh Thiểm Tây, Trung Quốc, Huyện Lam Điển là nơi sản xuất ngọc quý. Câu này ý nói : đến đây cốt để mua được người đẹp.
9. Sính nghi : đồ dẫn cưới.
10. Dớp nhà: nhà gặp vận đen, nhà đang mắc gian truân.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1. Dòng nào nói lên đặc điểm hình thức của văn bản Mã Giám Sinh mua Kiều?
A. Truyện thơ (thơ lục bát)
B. Thơ tự do, gieo vần lưng.
C. Thơ lục bát vần bằng.
D. Truyện thơ bác học.
Câu 2. Đọc tóm tắt và cho biết Mã Giám Sinh mua Kiều thuộc phần nào của tác phẩm?
A. Gặp gỡ và đính ước
B. Gia biến và lưu lạc
C. Đoàn tụ
D. Giới thiệu tác phẩm
Câu 3. Đoạn trích trên kể về việc:
A. Mã Giám Sinh đến làm lễ vấn danh tại nhà Kiều.
B. Mã Giám Sinh đến thử tài, ngã giá để mua Kiều.
C. Kiều buồn bã trong lễ vấn danh.
D. Mã Giám Sinh – kẻ buôn bán lọc lõi.
Câu 4. Dòng nào sau đây không nói lên con người Mã Giám Sinh?
A. Giàu có thanh lịch; oai phong.
B. Cử chỉ thiếu lịch sự, thô lỗ.
C. Bề ngoài chải chuốt.
D. Có mẽ bề ngoài.
Câu 5. Những từ ngữ nào nói lên sự giả dối, mập mờ của Mã Giám Sinh khi đến nhà Kiều?
A. Vấn danh, sính nghi; cần sắc cần tài
B. Ngã giá, ngoài bốn trăm; ép cung, thử bài quạt thơ.
C. Vấn danh, sính nghi, ngã giá, ngoài bốn trăm.
D. Mối rằng: đáng giá nghìn vàng.
Câu 6. Dòng nào không nói lên nói lên tâm trạng của Kiều trong đoạn trích trên?
A. Đau khổ
B. Tủi hổ
C. Bẽ bàng
D. E lệ, thẹn thùng
Câu 7. Dòng nào nói lên thân phận của Kiều trong đoạn trích trên?
A. Người con gái tài sắc được trân trọng.
B. Người con gái tài sắc bị mua bán.
C. Là người đẹp nên còn kiêu ki
D. Được cha mẹ chiều chuộng nên Kiều chưa muốn đi lấy chồng.
Câu 8. Những từ ngữ nào trong 2 dòng thơ: Đắn đo cân sắc cân tài/Ép cung nguyệt, thử bài quạt thơ lột tả bản chất giả dối của lễ vấn danh?
A. Đắn đo, ép cung, thử, cần.
B. Cầm nguyệt, quạt thơ
C. Cân sắc cân tài.
D. Đắn đo, ép cung.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 9. Phân tích nghệ thuật khắc họa nhân vật Mã Giám Sinh của Nguyễn Du, từ đó thể hiện thái độ của em đối với nhân vật này (1đ)
Câu 10. Phân tích nỗi niềm đau xót, yêu thương của Nguyễn Du dành cho Kiều trong đoạn trích trên (1đ)
II. VIẾT (4,0 điểm)
Câu 1. Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)
NẠN BUÔN BÁN NGƯỜI: TỪ BẪY “VIỆC NHẸ LƯƠNG CAO” ĐẾN NẠP MÌNH CHO TỘI PHẠM
Khoảng 1 triệu người bị mua bán trên thế giới mỗi năm
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhất là các nước Tiểu vùng sông Mekong (trong đó có Việt Nam), tình hình tội phạm mua bán người ngày phức tạp, tinh vi như lôi kéo đi du lịch, đi làm thuê thu nhập cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp... nhưng để lừa bán, ép buộc, cưỡng bức lao động.
Theo ước tính của Liên Hợp Quốc (LHQ), mỗi năm trên thế giới có khoảng 800.000 đến 1 triệu người bị mua bán. Như vậy có khoảng 3.000 người bị mua bán mỗi ngày. Song số vụ việc được đưa ra “ánh sáng” vẫn ở mức thấp so với thực tế và những đối tượng này vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

(Nguồn ảnh: Internet)
Khách quan mà nói, rõ ràng đây là thách thức với bất kỳ quốc gia nào. Cơ quan Cảnh sát châu Âu ước tính rằng hơn 90% người di cư, trên hành trình đi tìm “miền đất hứa”, đã ít nhất một lần sử dụng “dịch vụ” của những kẻ buôn người.
Hơn 150 quốc gia ở tất cả các châu lục đang phải đối mặt với loại hình tội người. Theo thống kê của LHQ, có khoảng gần 25 triệu nạn nhân của nạn mua bán người trên khắp thế giới, trong đó có lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc...Tuy nhiên, chỉ có khoảng 50.000 nạn nhân mua bán người được phát hiện, trong khi số tội phạm bị xử lý chỉ ở mức 3.500 trong số khoảng 510 đường dây buôn người trên toàn cầu. Trong số nạn nhân này, gần một nửa là phụ nữ, và gần 20% là trẻ em gái.[...]
Nhiều thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo tinh vi của các đường dây tội phạm.
Kể từ năm 2011, Việt Nam đã có Luật phòng chống mua bán người, các quy đinh để xử lý loại tội phạm nguy hiểm và phi nhân tính này. Cơ quan chức năng cũng nỗ lực trong việc ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ việc mua bán người. Tuy nhiên, việc đi lại giữa các quốc gia, các châu lục ngày càng mở rộng như hiện nay một mặt tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động giao thương, du lịch ngày càng thuận lợi; mặt khác nó cũng khiến cho hoạt động mua bán người ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp, khó đối phó.
Phần lớn nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia thời gian gần đây đều thông qua mạng xã hội. Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa gạt nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trá phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm.
(https://bom.so/OtblZC)
a. Xác định kiểu văn bản, mục đích của văn trên.
b. Phân tích mối liên hệ giữa văn bản đọc với ngữ liệu trên. Nếu một số vấn đề
được đặt ra từ 2 văn bản trên.
Câu 2. (3đ) Viết bài nghị luận: Trình bày suy nghĩ và hành động của em trước nạn
buôn người ngày càng tinh vi, xảo quyệt của thế giới phẳng. Yêu cầu: dùng 2 ngữ liệu trên làm bằng chứng và tự đặt tên cho nhan đề văn bản.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
B |
B |
A |
C |
D |
B |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào nói lên đặc điểm hình thức của văn bản Mã Giám Sinh mua Kiều? A. Truyện thơ (thơ lục bát) B. Thơ tự do, gieo vần lưng. C. Thơ lục bát vần bằng. D. Truyện thơ bác học. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết các thể loại
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm hình thức của văn bản Mã Giám Sinh mua Kiều: Truyện thơ (thơ lục bát)
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Đọc tóm tắt và cho biết Mã Giám Sinh mua Kiều thuộc phần nào của tác phẩm? A. Gặp gỡ và đính ước B. Gia biến và lưu lạc C. Đoàn tụ D. Giới thiệu tác phẩm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ phần tóm tắt
Lời giải chi tiết:
Mã Giám Sinh mua Kiều thuộc phần gia biến và lưu lạc của tác phẩm
→ Đáp án: B
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Đoạn trích trên kể về việc: A. Mã Giám Sinh đến làm lễ vấn danh tại nhà Kiều. B. Mã Giám Sinh đến thử tài, ngã giá để mua Kiều. C. Kiều buồn bã trong lễ vấn danh. D. Mã Giám Sinh – kẻ buôn bán lọc lõi. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên kể về việc: Mã Giám Sinh đến thử tài, ngã giá để mua Kiều
→ Đáp án B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Dòng nào sau đây không nói lên con người Mã Giám Sinh? A. Giàu có thanh lịch; oai phong. B. Cử chỉ thiếu lịch sự, thô lỗ. C. Bề ngoài chải chuốt. D. Có mẽ bề ngoài. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên con người Mã Giám Sinh: Giàu có thanh lịch; oai phong
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Những từ ngữ nào nói lên sự giả dối, mập mờ của Mã Giám Sinh khi đến nhà Kiều? A. Vấn danh, sính nghi; cần sắc cần tài B. Ngã giá, ngoài bốn trăm; ép cung, thử bài quạt thơ. C. Vấn danh, sính nghi, ngã giá, ngoài bốn trăm. D. Mối rằng: đáng giá nghìn vàng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và các đáp án
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ nói lên sự giả dối, mập mờ của Mã Giám Sinh khi đến nhà Kiều: Vấn danh, sính nghi, ngã giá, ngoài bốn trăm
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Dòng nào không nói lên nói lên tâm trạng của Kiều trong đoạn trích trên? A. Đau khổ B. Tủi hổ C. Bẽ bàng D. E lệ, thẹn thùng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết thể hiện tâm trạng của Kiều trong văn bản
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên nói lên tâm trạng của Kiều trong đoạn trích trên: E lệ, thẹn thùng
→ Đáp án D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Dòng nào nói lên thân phận của Kiều trong đoạn trích trên? A. Người con gái tài sắc được trân trọng. B. Người con gái tài sắc bị mua bán. C. Là người đẹp nên còn kiêu ki D. Được cha mẹ chiều chuộng nên Kiều chưa muốn đi lấy chồng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết nói lên thân phận của Kiều trong đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Dòng nói lên thân phận của Kiều: Người con gái tài sắc bị mua bán
→ Đáp án B
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Câu 8. Những từ ngữ nào trong 2 dòng thơ: Đắn đo cân sắc cân tài/Ép cung nguyệt, thử bài quạt thơ lột tả bản chất giả dối của lễ vấn danh? A. Đắn đo, ép cung, thử, cần. B. Cầm nguyệt, quạt thơ C. Cân sắc cân tài. D. Đắn đo, ép cung. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 dòng thơ
Chú ý các từ ngữ lột tả bản chất giả dối của lễ vấn danh
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ lột tả bản chất giả dối của lễ vấn danh: Đắn đo, ép cung, thử, cần
→Đáp án A
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Câu 9. Phân tích nghệ thuật khắc họa nhân vật Mã Giám Sinh của Nguyễn Du, từ đó thể hiện thái độ của em đối với nhân vật này (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết miêu tả nhân vật Mã Giám Sinh
Lời giải chi tiết:
Chỉ bằng một vài nét chấm phá nhân vật của ông hiện ra trước mắt người đọc một cách cụ thể cả ngoại hình lẫn nội tâm
+ Cách trả lời nhát gừng, cộc lốc
+ Tác giả cố ý làm nổi bật mâu thuẫn giữa tuổi tác và cách tỉa tót, chải chuốt, cách ăn diện quá mức của y. Những từ “nhẵn nhụi”, “bảnh bao” không chỉ thể hiện được vẻ kệch cỡm của Mã Giám Sinh mà còn kín đáo bộc lộ thái độ châm biếm của Nguyễn Du
+ Cử chỉ, hành động lỗ mãng
→ Mã Giám Sinh trở thành nhân vật điển hình, có sức sống lâu bền…
- Thái độ đối với nhân vật: HS tự trả lời
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Câu 10. Phân tích nỗi niềm đau xót, yêu thương của Nguyễn Du dành cho Kiều trong đoạn trích trên (1đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết, từ ngữ thể hiện nỗi niềm đau xót, yêu thương của Nguyễn Du
Lời giải chi tiết:
- Căm giận, lên án bọn buôn người giả dối
+ Chúng dùng mỹ từ để che giấu hành động bất nhân của mình: lễ vấn danh, sinh nghi, mua ngọc…
+ Nguyễn Du lột mặt nạ chúng: ép cung, ngã giá, ngoài bốn trăm…
- Thi hào thấu hiểu và diễn tả tâm trạng đau đớn của Kiều bằng nỗi xót thương:
+ “Thêm hoa một bước lệ hoa mấy hàng” gợi vẻ đẹp của Kiều, vừa bộc lộ nỗi đau đớn, xót xa. Nước mắt tuôn rơi theo mỗi bước chân của Kiều
+ Kiều đau đớn, ê chề cho cảnh ngộ, trở thành món hàng: Mối càng vén tóc, bắt tay/ Đắn đo cân sắc cân tài/ Ép cung cầm nguyệt, thử bài quạt thơ…
→ Thi hào đau đớn khi người tài sắc bị chà đạp…
II. VIẾT (4 điểm)
Câu 1. (1đ)
a. Xác định kiểu văn bản, mục đích của văn trên.
b. Phân tích mối liên hệ giữa văn bản đọc với ngữ liệu trên. Nếu một số vấn đề
được đặt ra từ 2 văn bản trên.
Phương pháp giải
a. Đọc kĩ văn bản và rút ra nội dung chính và xác định mục đích
b. Đọc kĩ 2 văn bản
Lời giải chi tiết
a. Kiểu văn bản: thông tin; Mục đích: Cảnh báo một loại hình phạm tội phức tạp để người dân cảnh giác; các tổ chức chung tay phá án để hạn chế sự gia tăng…
b. Phân tích mối liên hệ giữa văn bản đọc với ngữ liệu trên: Đề cập đến nạn buôn người, cách kiến tiền bất nhân
Một số vấn đề 2 văn bản đặt ra: Làm giàu bất nhân: buôn bán người; Làm giàu trên thân xác phụ nữ; Tội phạm xuyên quốc gia với chiêu “việc nhẹ lương cao”; Chung tay chống tội phạm buôn người; Nâng cao hiểu biết để không trở thành nạn nhân của bọn buôn người…
Câu 2. (3đ) Viết bài nghị luận: Trình bày suy nghĩ và hành động của em trước nạn
buôn người ngày càng tinh vi, xảo quyệt của thế giới phẳng. Yêu cầu: dùng 2 ngữ liệu trên làm bằng chứng và tự đặt tên cho nhan đề văn bản.
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Trình bày suy nghĩ và hành động của em trước nạn buôn người ngày càng tinh vi, xảo quyệt của thế giới phẳng (đặt tên cho văn bản) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu vấn đề: nạn buôn người + đặt tên văn bản - Thái độ cá nhân đối với luận đề/tính cấp thiết của vấn đề |
|
Thân bài |
2,0 |
- Giới thiệu ngắn luận đề/ biểu hiện cụ thể (phương thức tinh vi của công nghệ thông tin) - Nguyên nhân khiến nạn buôn người ngày càng gia tăng + Ở kẻ phạm tội + Ở phía nạn nhân - Hậu quả của nạn buôn người (lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc…) - Lên án, tố cáo hành động bất nhân - Đề xuất một số giải pháp *Lưu ý: dùng 2 ngữ liệu trên làm bằng chứng |
|
Kết bài |
0,25 |
- Nhận thức của cá nhân về vấn đề - Hành động cụ thể của cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ chính kiến của cá nhân - Phối hợp linh hoạt các yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản và trả lời các câu hỏi kế tiếp
MỘT CƠN GIẬN
(Thạch Lam)
[…] Cũng một buổi chiều mùa đông như hôm nay, tôi ở tòa báo ra về, trong lòng chán nản và buồn bực. Có những ngày mà tự nhiên không hiểu tại sao, ta thấy khó chịu, và hay gắt gỏng, không muốn làm việc gì. Tôi đang ở vào một ngày như thế mà chiều trời hôm ấy lại ảm đạm và rét mướt càng khiến cho cảm giác đó rõ rệt hơn.
Tôi đi vài bước trên con đường phố vắng người. Một cái xe tay dằng xa đi lại, anh phu xe co ro vì rét, hai tay giấu dưới manh áo tơi tàn. Theo lệ như mọi khi, tôi mặc cả:
- Xe đi không? Bốn xu về gần nhà bò Yên Phụ.
- Thầy cho sáu xu.
- Không, bốn xu là đúng giá rồi. [...]
Tôi lại càng ghét và quay lại gắt:
- Có đi hay không thì thôi! Đừng có theo sau người ta mà lải nhải.
Thấy tôi gắt, người phu xe đứng lại, không dám theo nữa. Nhưng để tôi đi một quãng xa, anh ta ới gọi:
- Lại đây đi mà.
Rồi anh ta hạ càng xe xuống, cứ đứng yên chỗ ấy đợi chứ không kéo lại phía tôi. Cái cử chỉ ấy làm tôi sinh ghét thêm, đã toan không đi, nhưng lúc ấy không có cái xe nào khác. Tôi giận dữ bước mạnh lên xe, vừa mắng:
- Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
Anh xe cãi lại:
- Từ đây về đấy thầy cho được bốn đồng xu thật rẻ quá!
- Thì ai bảo anh đi? Không có tôi đã gọi xe khác.
Người phu xe khẽ thở dài, yên lặng nhấc xe lên. Lúc bấy giờ tôi mới ngả mình ra phía sau, nhưng thấy cái đệm cứng như gỗ đập vào lưng, tôi cúi xuống bên nhìn cái tay xe.... Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
- Xe khổ thế này mà anh lại còn đòi cao giá.
- Xe thế mà thầy chê thì còn thế nào nữa!
Sau cùng, giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt:
- Thôi, câm họng đi, đừng lải nhải nữa.
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. Nhưng lúc bấy giờ tôi chỉ thấy tức người xe ấy đến cực điểm, vì hắn dám cãi lại tôi mà không sợ.
Xe đi khỏi nhà máy nước thì gặp một người đội xếp tây đi xe đạp lại, theo sau một người đội xếp ta. Tôi nhận thấy anh xe kéo tôi có ý luống cuống và sợ hãi. Có lẽ vì thế mà người cảnh sát để ý, đi giáp vào cái xe kéo để xem dấu hiệu.
- Ê! Đứng lại!
Người kéo xe dừng chân... Anh ta quay lại tôi hớt hải van xin:
- Lạy thầy... thầy nói giúp con... thầy làm ơn...
Dưới ánh đèn tôi thấy mặt anh xe tái mét. Những vết rạn in sâu xuống trên mặt già nua hốc hác, chân tay người khốn nạn ấy run bật lên và tôi thấy cái rung động chuyển cả vào chiếc thân xe. Người cảnh sát tây đến, nói bằng tiếng ta hơi sõi:
- Mày chết nhé! Mày sẽ bị phạt!
Người phu xe ấp úng nói thì ông ta khoát tay bảo im, rồi quay lại tôi hỏi, lần này bằng tiếng Pháp.
- Người này kéo ông từ trong phố ra hay ông đi khứ hồi?
Tôi liếc mắt nhìn anh kéo xe. Tôi thấy hai mắt anh ta long lanh nhìn tôi, như khẩn cầu van xin yên lặng. Tôi biết lời nói của tôi sẽ làm anh ta bị bắt hay không. Tôi được biết rằng nếu người khách nói là đi khứ hồi từ ngoại ô, thì người xe không việc gì. Nhưng lúc ấy, lời van xin của anh xe kia không làm cho tôi động lòng, mà lại làm cho tôi ghét anh thêm. Tôi trả lời người đội xếp:
- Tôi đi từ phố hàng Bún.
- Vậy phiền ông xuống xe.
Rồi anh ta nhìn anh phu xe, cười một cách tinh quái:
- Allez! Đi về bót!
Khi anh phu xe run sợ và hai người cảnh sát đã khuất đầu phố, tôi mới quay đi thong thả trên bờ hè. Cơn giận của tôi đã hết rồi. Sự hối hận dần thấm thía vào lòng tôi, tôi thấy một cái chán nản bực tức rung động trong người.
Tôi rùng mình nghĩ đến số phận của anh xe khốn nạn. Ba đồng bạc phạt! Anh ta phải vay cai xe để nộp phạt; nhưng ba đồng bạc nợ ấy, bao giờ anh ta trả xong, sau những ngày nhịn đói, bị cai xe hành hạ, đánh đập vì thù hằn?
Những ngày hôm sau thực là những ngày khổ cho tôi. Lòng hối hận không để tôi yên. Hình như có một cái gì nặng nề đè nén trên ngực làm cho tôi khó thở, và lúc nào hình ảnh anh phu xe cũng hiển hiện ra trước mắt. Tôi nhất định đem tiền đến cho người xe kia để chuộc tội lỗi của mình...
Lần ấy là lần đầu tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở như thế. Trong cái hang tối tăm bẩn thỉu ấy, sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới như những người trong một cơn mê. Người phu xe Dư ở trong ấy. Tôi cúi mình bước vào, chỉ thấy tối như bưng lấy mắt và thấy hơi ẩm lạnh thấm vào tận trong mình. Có tiếng người đàn bà khẽ hỏi:
- Bẩm thầy muốn gì?
Khi mắt mắt đã quen tối, tôi nhận thấy người đàn bà vừa hỏi, một bà già ở mép một chiếc giường tre mục nát kê ở sát tường. Sau lưng bà này, một người đàn bà nữa ngồi ôm trong lòng một vật gì hơi động đậy. Cả hai cùng ngước mắt lên nhìn tôi một cách ngạc nhiên và đầu họ chạm vào mái nhà thấp, đây những mảng giẻ rách nát vắt trên xà.
- Bác Dư có nhà không?
- Bẩm, chú nó đi về quê vắng từ hôm nọ.
Một vẻ sợ hãi thoáng qua trên mặt đủ tỏ cho tôi biết họ không nói thật, tôi giảng giải:
- Không, cụ cứ nói thật cho tôi biết. Tôi đến để giúp bác ta chứ không có ý gì khác.
Bà cụ nhìn tôi nghĩ ngợi một lát rồi nói:
- Thế thầy đã biết việc chú nó bị bắt xe hôm nọ?
Tôi gật đầu ra hiệu cho bà cụ cứ nói:
- Hôm ấy cai nó phải đem tiền lên nộp phạt để chuộc xe về. Chú nó đã xin khất với cai để rồi trả dân số tiền đó. Nhưng nó nhất định không nghe, bắt phải trả một nửa ngay. Khốn nạn, thì lấy đâu ra mà trả. Thế là bị nó lột quần áo đánh một trận thừa sống thiếu chết thầy ạ. Khi về đây lê đi không được nữa. Thế mà nó còn bắt mai phải trả ngay.
- Thế bây giờ bác ta đâu?
Bà cụ trả lời:
- Đi ngay từ hôm ấy, mà không biết đi đâu. Đã ba hôm nay chúng tôi dò mà không thấy. Chắc là sợ cai không dám về nữa, dù có về mà không có tiền cũng chết với nó. Thật cũng là cái vạ, nghe đâu chú nó nói hôm ấy tại người khách đi xe không biết nói với người đội xếp thế nào mới bị bắt, chứ không cũng chẳng việc gì.
Bà cụ chép miệng, chỉ người đàn bà ngồi sau:
- Tội cho vợ con chú đây, ốm đã mấy ngày hôm nay không có thuốc. Đứa cháu không biết có qua khỏi được không?
Tôi đứng lại gần xem. Trên cánh tay người mẹ, chỉ còn là một dúm thịt con đã nhăn nheo: đứa bé há hốc miệng thở ra, mặt xám nhợt. Người mẹ thỉnh thoảng lấy cái lông gà dúng vào chén mật ong để bên cạnh, phết lên lưỡi của đứa bé.
- Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiền mua thuốc lại tăng. Ông lang bảo cháu khó qua khỏi được.
Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc. Bà cụ già lê nhích lại gần, cúi xuống khe khẽ kéo lại những cái tã rách như xơ mướp.
Cái cảnh đau thương ấy làm tôi rơm rớm nước mắt. Một cảm giác nghẹn ngào đưa lên chẹn lấy cổ. Tôi lấy tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực [...].
Ra đến bên đường, tôi nghe thấy trong căn nhà lụp xụp đưa ra tiếng khóc của hai người đàn bà... Đứa bé con đã chết.
(Nguồn: Tuyển Tập Thạch Lam. XXB văn học, 2018)
Thạch Lam (1910 -1942), tên thật là Nguyễn Tường Lân, là một nhà văn Việt Nam thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn. Ông là em ruột của hai nhà văn khác cũng trong nhóm Tự Lực văn đoàn là Nhất Linh và Hoàng Đạo. Ngoài bút danh Thạch Lam, ông còn có các bút danh là Việt Sinh, Thiện Sỹ.
Câu hỏi
Câu 1. Dòng nào nói lên đặc điểm thể loại của văn bản Một cơn giận của Thạch Lam?
A. Truyện dài, nhiều nhân vật, viết về cuộc đời, số phận nhân vật.
B. Truyện ngắn, viết về một quãng đời/một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật.
C. Truyện ngắn, viết về số phận nhân vật.
D. Trích đoạn tiểu thuyết, phản ánh hiện thực rộng lớn, nhiều nhân vật.
Câu 2. Dòng nào nói lên đề tài của văn bản Một cơn giận - Thạch Lam
A. Nông thôn.
B. Tâm lý.
C. Thành thị.
D. Kĩ năng ứng xử.
Câu 3. Dòng nào nói lên cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam?
A. Lên án kẻ vô tâm, tàn nhẫn; Xót thương kiếp nghèo khổ.
B. Phê phán sự nhẫn tâm; Xót thương kiếp nghèo khổ.
C. Trân trọng sự hối lỗi; Xót thương kiếp nghèo khổ.
D. Mỉa mai những kẻ lắm lời; Xót thương kiếp nghèo khổ.
Câu 4. Vì sao người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ
A. Người kéo xe lắm lời, tham lam, vụng về.
B. Người kéo xe không biết ứng xử với khách hàng.
C. Khách hàng bực bội trong người, mắng lây sang người khác.
D. Người kéo xe không đáp ứng nhu cầu khách hàng.
Câu 5. Chi tiết nào sau thể hiện rõ sự nhẫn tâm của nhân vật “tôi”?
A. Mắng: Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ.
B. Giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt...
C. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa.
D. Thấy người kéo xe van lơn...ghét thêm...trả lời: tôi đi từ Hàng Bún.
Câu 6. Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng sau diễn ra vào thời điểm nào? Nó có tác dụng gì trong khắc họa nhân vật?
Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá.
A. Sau khi người kéo xe bị đội sếp tây phạt; thể hiện sự hối hận của “tôi”
B. Trước khi người kéo xe bị đội sếp tây phạt; thể hiện sự nhẫn tâm của “tôi”
C. Thấy ba đồng bạc phạt quá lớn.
D. Thấy hình ảnh anh phu xe hiển hiện trước mắt.
Câu 7. Khi nào, nhân vật “tôi” hối hận về ứng xử của mình?
A. Cơn giận đã hết rồi.
B. Thấy anh phu xe run sợ.
C. Khi đội sếp tây đang hỏi; thể hiện sự đấu tranh trong nội tâm của “tôi”
D. Khi người kéo xe đang van xin; thể hiện sự đắc ý của “tôi”.
Câu 8. Cơn giận của nhân vật “tôi” đã gây ra hậu quả như thế nào?
A. Người phu xe mất việc, phải đi trốn.
B. Đứa bé chết vì bố nó mất việc, không có tiền mua thuốc.
C. Nhân vật tôi sống trong sự giày vò.
D. Nhân vật tôi mất oan một khoản tiền.
Câu 9. Văn bản đã gửi đến người đọc tư tưởng, thông điệp nào? Hình thức nghệ thuật nào của văn bản chuyển tải điều đó (1đ)
Câu 10. Em rút được kinh nghiệm gì trong việc giải tỏa cơn giận của bản thân? Theo em, nhân vật “tôi” cần làm gì để giảm tội lỗi của mình? (1đ)
II. VIẾT (4 điểm)
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó (Dùng yếu tố thuyết minh hoặc miêu tả, tự sự để hỗ trợ nghị luận. Bài dài từ 1,5 – 2 trang)

-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
B |
B |
B |
C |
D |
B |
A |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Dòng nào nói lên đặc điểm thể loại của văn bản Một cơn giận của Thạch Lam? A. Truyện dài, nhiều nhân vật, viết về cuộc đời, số phận nhân vật. B. Truyện ngắn, viết về một quãng đời/một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật. C. Truyện ngắn, viết về số phận nhân vật. D. Trích đoạn tiểu thuyết, phản ánh hiện thực rộng lớn, nhiều nhân vật. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại đặc điểm các thể loại đã được học
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm thể loại của văn bản Một cơn giận của Thạch Lam: Truyện ngắn, viết về một quãng đời/một lát cắt trong cuộc đời của nhân vật
→ Đáp án: B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Câu 2. Dòng nào nói lên đề tài của văn bản Một cơn giận - Thạch Lam A. Nông thôn. B. Tâm lý. C. Thành thị. D. Kĩ năng ứng xử. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và tiêu đề
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản Một cơn giận - Thạch Lam: Tâm lý
→ Đáp án: B
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Câu 3. Dòng nào nói lên cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam? A. Lên án kẻ vô tâm, tàn nhẫn; Xót thương kiếp nghèo khổ. B. Phê phán sự nhẫn tâm; Xót thương kiếp nghèo khổ. C. Trân trọng sự hối lỗi; Xót thương kiếp nghèo khổ. D. Mỉa mai những kẻ lắm lời; Xót thương kiếp nghèo khổ. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản và các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng chủ đạo của văn bản Một cơn giận – Thạch Lam: Phê phán sự nhẫn tâm; Xót thương kiếp nghèo khổ
→ Đáp án: B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Câu 4. Vì sao người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ A. Người kéo xe lắm lời, tham lam, vụng về. B. Người kéo xe không biết ứng xử với khách hàng. C. Khách hàng bực bội trong người, mắng lây sang người khác. D. Người kéo xe không đáp ứng nhu cầu khách hàng. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Người kéo xe liên tục bị nhân vật tôi mắng mỏ thậm tệ vì: Khách hàng bực bội trong người, mắng lây sang người khác
→ Đáp án: C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Câu 5. Chi tiết nào sau thể hiện rõ sự nhẫn tâm của nhân vật “tôi”? A. Mắng: Anh thật là lắm chuyện, không đi ngay lại còn vẽ. B. Giận quá, tôi dẫm mạnh chân xuống sàn xe, gắt... C. Sự tồi tàn của cái xe làm tôi càng ghét anh xe nữa. D. Thấy người kéo xe van lơn...ghét thêm...trả lời: tôi đi từ Hàng Bún. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Đọc kĩ các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Chi tiết thể hiện rõ sự nhẫn tâm của nhân vật “tôi”: Thấy người kéo xe van lơn...ghét thêm...trả lời: tôi đi từ Hàng Bún
→ Đáp án: D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu 6. Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng sau diễn ra vào thời điểm nào? Nó có tác dụng gì trong khắc họa nhân vật? Sự giận dữ làm cho tôi quên rằng anh xe cũng chỉ có trả lời những câu mắng của tôi mà thôi, và chính tại tôi gắt với anh ta nhiều quá. A. Sau khi người kéo xe bị đội sếp tây phạt; thể hiện sự hối hận của “tôi” B. Trước khi người kéo xe bị đội sếp tây phạt; thể hiện sự nhẫn tâm của “tôi” C. Thấy ba đồng bạc phạt quá lớn. D. Thấy hình ảnh anh phu xe hiển hiện trước mắt. |
Phương pháp:
Đọc kĩ câu văn và đối chiếu vào văn bản phía trên
Phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ của nhân vật “tôi” ở dòng trên diễn ra vào thời điểm: Trước khi người kéo xe bị đội sếp tây phạt
Tác dụng: thể hiện sự nhẫn tâm của “tôi”
→ Đáp án: B
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Câu 7. Khi nào, nhân vật “tôi” hối hận về ứng xử của mình? A. Cơn giận đã hết rồi. B. Thấy anh phu xe run sợ. C. Khi đội sếp tây đang hỏi; thể hiện sự đấu tranh trong nội tâm của “tôi” D. Khi người kéo xe đang van xin; thể hiện sự đắc ý của “tôi”. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Nhân vật “tôi” hối hận về ứng xử của mình khi: Cơn giận đã hết rồi
→ Đáp án: A
Câu 8 (0.5 điểm)
|
Câu 8. Cơn giận của nhân vật “tôi” đã gây ra hậu quả như thế nào? A. Người phu xe mất việc, phải đi trốn. B. Đứa bé chết vì bố nó mất việc, không có tiền mua thuốc. C. Nhân vật tôi sống trong sự giày vò. D. Nhân vật tôi mất oan một khoản tiền. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Cơn giận của nhân vật “tôi” đã gây ra hậu quả rất đau lòng: Đứa bé chết vì bố nó mất việc, không có tiền mua thuốc
→ Đáp án B
Câu 9 (1.0 điểm)
|
Câu 9. Văn bản đã gửi đến người đọc tư tưởng, thông điệp nào? Hình thức nghệ thuật nào của văn bản chuyển tải điều đó (1đ) |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Rút ra tư tưởng và thông điệp từ văn bản
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Tư tưởng nhân văn: xót thương người nghèo khổ; phê phán ứng xử nhẫn tâm…
-Thông điệp: thận trọng trong ứng xử; sống rộng lượng nhân ái hơn; không phải lỗi ầm nào cũng có thể sửa chữa được; là con người cần biết chịu trách nhiệm với lỗi lầm của bản thân
- Hình thức nghệ thuật: suy nghĩ của nhân vật “tôi”; lời thoại của 2 người phụ nữ
Câu 10 (1.0 điểm)
|
Câu 10. Em rút được kinh nghiệm gì trong việc giải tỏa cơn giận của bản thân? Theo em, nhân vật “tôi” cần làm gì để giảm tội lỗi của mình? (1đ) |
Phương pháp:
Hs tự đúc rút từ nhận thức của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Vế 1: HS tự làm theo nhận thức cá nhân
- Vế 2: HS đề xuất phương án cụ thể (phương án thể hiện tấm lòng và tầm nhìn)
- Tham khảo gợi ý: Tìm gặp anh phu xe và xin lỗi; Giúp đỡ anh phu xe, vợ anh ta: có kể sinh nhai ổn định hơn
PHẦN II –LÀM VĂN (4 điểm)
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó (Dùng yếu tố thuyết minh hoặc miêu tả, tự sự để hỗ trợ nghị luận. Bài dài từ 1,5 – 2 trang)
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản và ô chữ bên dưới
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết
|
Chọn vấn đề em cho là cần thiết nhất đối với thanh niên hiện nay trong những ô chữ sau và viết bài luận về vấn đề đó |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Nêu, giới thiệu luận đề - Sự quan tâm của cá nhân, số đông tới luận đề |
|
Thân bài |
2,0 |
- Làm rõ cách hiểu về luận đề, vai trò của luận đề trong đời sống hiện nay - Biểu hiện của vấn đề/ luận đề trong xã hội (tính hai mặt) - Tác động của luận đề đối với mỗi con người và xã hội - Các giải pháp… Lưu ý: Dùng truyện Một cơn giận làm bằng chứng (yếu tố tự sự) |
|
Kết bài |
0,5 |
Nhận thức và hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0,25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ quan điểm cá nhân (đồng tình/phản bác) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
THỀ NGUYỀN
(Trích Truyện Kiều)
Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình.
Nhặt thưa (1) gương (2) giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh (3) hắt hiu
Sinh vừa tựa án (4) thiu thiu,
Dở chiều như tỉnh dở chiều như mê
Tiếng sen (5) sẽ động giấc hòe (6),
Bóng trăng đã xế hoa lê (7) lại gần.
Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần(8).
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng.
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa.
Bây giờ rõ mặt đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao?”
Vội mừng làm lễ rước vào,
Đài sen (9) nối sáp lò đào (10) thêm hương.
Tiên thề (11) cùng thảo một chương,
Tóc mây (12) một món dao vàng(13)chia đôi.
Vầng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song
Tóc tơ (14) căn vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng (15) đến xương.
Chú thích:
(1) Nhật thưa: (nhật: mau, dày) chỉ ánh trăng chiếu xuyên qua lá cây tạo thành những khoảng sáng không đều nhau, chỗ sáng nhiều chỗ sáng ít.
(2) Gương: ở đây chỉ mặt trăng.
(3) Trướng huỳnh: xưa có người nhà nghèo không có đèn để đọc sách, phải bắt đom đóm làm đèn học. Do đó, trướng huỳnh được dùng chỉ phòng học của nho sinh, đồng thời gợi ý hiếu học. Cả câu ở đây ý nói : nhìn từ bên ngoài vào thấy ánh sáng đèn từ phòng học của Kim Trọng lọt ra dìu diu.
(4) Án: cái bàn học xưa.
(5) Tiếng sen: tiếng bước chân nhẹ nhàng của người đẹp.
(6) Giấc hòe: Từ điển tích Thuần Vu Phần uống rượu say nằm ngủ dưới gốc cây hoè, rồi mơ thấy mình ở nước Hoè An, được công danh phú quý rất mực vinh hiển. Sau bằng mắt tỉnh dậy thì hoá ra đó là giấc mộng, thấy dưới cành hoè phía nam chỉ có một tổ kiến mà thôi. Từ đó điển này có ý: phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.
(7) Hoa lê: hoa cây lê, ở đây chỉ người đẹp.
(8) Đinh Giáp non thần: bài Phú Cao Đường của Tống Ngọc kể rằng vua nước Sở chơi đất Cao Đường nằm mơ thấy một người đàn bà đẹp, hỏi ở đâu, người đó nói là thần nữ núi Vu Giáp. Non thần: thần núi ấy. Cả câu có nghĩa là Kim Trọng cảm thấy Kiều xuất hiện như là thần nữ của núi Vu Giáp.
(9) Đài sen: cái đài hình hoa sen để đặt cây nến.
(10) Lò đào: cái lò hương hình trái đào. Cả câu ý nói Kim Trọng đặt thêm nến sáp cho thêm sáng, thắp thêm hương cho thêm thơm.
(11) Tiên thề: (tiên: tờ giấy) tờ giấy viết lời thể.
(12) Tóc mây: tóc xanh như mây.
(13) Dao vàng: chỉ con dao quý, cũng có thể đây chỉ là phép tu từ thuần tuý khi tả con dao mà Kiều và Kim Trọng dùng để cắt tóc thề nguyền, giống như trường hợp bút hoa, lệ hoa, thềm hoa,...
(14) Tóc tơ: chỉ những điều chỉ li, tỉ mỉ.
(15) Chữ đồng: chữ đồng tâm, đồng lòng.
Trả lời các câu hỏi sau:
Câu 1. Nêu nội dung chính của đoạn trích.
Câu 2. Các từ vội, xăm xăm, băng được bố trí như thế nào và có hàm nghĩa gì?
Câu 3. Ghi lại những câu thơ miêu tả ánh sáng trong trích đoạn. Nhận xét về dụng ý của tác giả trong việc thay đổi sắc độ ánh sáng từ đoạn đầu đến đoạn cuối trong đoạn trích
Câu 4. Tác giả sử dụng biện pháp tu từ nào trong những câu thơ sau? Nêu tác dụng
"Vừng trăng vằng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ cân vặn tấc lòng,
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương."
Câu 5. Viết đoạn văn khoảng 10 – 12 câu phân tích quan niệm tình yêu của Nguyễn Du được thể hiện trong trích đoạn Thề nguyền.
II. VIẾT
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích, đánh giá đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Thề nguyền trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
|
Câu 1. Nêu nội dung chính của đoạn trích. |
Phương pháp:
Đọc đoạn trích, phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
Sau lần gặp gỡ đầu tiên trong buổi chiều thanh minh thơ mộng, Kim Trọng đi tìm nhà trọ học gần cạnh nhà Thúy Kiều cốt để tìm gặp lại nàng. Hai người đã gặp gỡ, trao kỉ vật làm tin. Một hôm, khi cả gia đình sang chơi bên ngoại, Kiều đã tìm gặp Kim Trọng. Chiều tà, nàng trở về nhà, được tin cả nhà vẫn chưa về, nàng quay lại gặp chàng. Hai người đã làm lễ thề nguyền gắn bó trước "vầng trăng vằng vặc".
|
Câu 2. Các từ vội, xăm xăm, băng được bố trí như thế nào và có hàm nghĩa gì? |
Phương pháp:
Đọc văn bản, suy luận.
Lời giải chi tiết:
- Các từ vội, xăm xăm, băng xuất hiện trong hai câu lục và bát. Đặc biệt, từ “vội” xuất hiện hai lần trong văn bản ; hai từ “xăm xăm”, “băng” được đặt liền kề nhau.
- Điều đó cho thấy sự khẩn trương, gấp gáp của cuộc thề nguyền. Kiều như đang chạy đua với thời gian để bày tỏ và đón nhận tình yêu, một tình yêu mãnh liệt, tha thiết... Mặt khác, các từ này cũng dự báo sự không bền vững, sự bất bình thường của cuộc tình Kim – Kiều.
|
Câu 3. Ghi lại những câu thơ miêu tả ánh sáng trong trích đoạn. Nhận xét về dụng ý của tác giả trong việc thay đổi sắc độ ánh sáng từ đoạn đầu đến đoạn cuối trong đoạn trích |
Phương pháp:
Đọc, tìm ý, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
- Những câu thơ
+ Nhặt thưa gương giọi đầu cành
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu?
+ Vội mừng làm lễ rước vào
Đài sen nối sáp lò đào thêm hương
- Nhận xét: Sắc độ ánh sáng tăng dần theo thời gian làm rõ phù hợp với tâm trạng.
|
Câu 4. Tác giả sử dụng biện pháp tu từ nào trong những câu thơ sau? Nêu tác dụng "Vừng trăng vằng vặc giữa trời, Đinh ninh hai miệng một lời song song. Tóc tơ cân vặn tấc lòng, Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương." |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp tu từ.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ ẩn dụ và nhân hóa trong câu thơ
Tóc tơ cân vặn tấc lòng, (Nhân hóa - Ẩn dụ)
Trăm năm tạc một chữ đồng đến xương (Ẩn dụ)
- Tác dụng: Thể hiện lời thề trăm năm bền vững, thể hiện sự đồng lòng, một lòng một dạ cho tình yêu này.
Đó cũng là một niềm tin vào tình cảm mãi thủy chung sắt son của hai người.
|
Câu 5. Viết đoạn văn khoảng 10 – 12 câu phân tích quan niệm tình yêu của Nguyễn Du được thể hiện trong trích đoạn Thề nguyền. |
Phương pháp:
Phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết:
- Học sinh khẳng định được quan niệm về tình yêu của Nguyễn Du: Quan niệm tình yêu tiến bộ, táo bạo vượt thời đại: sự chủ động trong tình yêu
- Học sinh đưa ra những lí lẽ, dẫn chứng để bày tỏ quan điểm: Đồng tình hoặc không đồng tình với quan điểm này.
+ Tình yêu là nhu cầu lớn của mỗi người, con người được tự do và khát vọng trong tình yêu
+ Quan niệm xưa cũ gò bó con người, mong muốn người con gái phải giữ gìn khuôn phép, cha mẹ đặt dâu con ngồi đấy,....nhưng với Nguyễn Du tình yêu là sự chủ động đôi bên và là khát vọng cá nhân dù là nam hay nữ.
+ Tình yêu theo Nguyễn Du còn là tình cảm thủy chung, son sắt, bền chặt, gắn kết giữa hai người với nhau
....
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích, đánh giá đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Thề nguyền trên.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận về một văn bản văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật của đoạn trích Thề nguyền
Gợi ý:
1. Cảnh Kiều sang nhà Kim Trọng
"Cửa ngoài vội rủ rèm the,
Xăm xăm băng lối vườn khuya một mình
Nhặt thưa gương giọi đầu cành,
Ngọn đèn trông lọt trướng huỳnh hắt hiu.
Sinh vừa tựa án thiu thiu,
Dở chiều như tinh dở chiều như mê
Tiếng sen sẽ động giấc hoè,
Bóng trăng đã xế hoa lê lại gần
Bâng khuâng đỉnh Giáp non thần
Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng
Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,
Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa.
Bây giờ rỏ mật đôi ta,
Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?”
Tâm trạng và tình cảm của Thúy Kiều
- Theo như lễ giáo phong kiến thì con gái phải là để người con trai tỏ tình trước hay là cha mẹ đặt đâu con ngồi đó nhưng Kiều lại khác. Nàng một mình "xăm xăm băng lối" sang nhà Kim trọng.
+ Từ ngữ: "Xăm xăm", "băng": Hành động dứt khoát, táo bạo, mạnh mẽ, bất chấp quan niệm hà khắc của lễ giáo phong kiến → Thể hiện sự vội vàng và tình cảm lớn lao mà Thúy Kiều dành cho Kim Trọng.
+ "Nhặt thưa gương giọi đầu cành,...Còn ngờ giấc mộng đêm xuân mơ màng": Hình ảnh Thúy Kiều quay trở lại gặp Kim Trọng trong không gian đầy trăng thơ mộng.
+ "Nàng rằng: “Khoảng vắng đêm trường,...Biết đâu rồi nữa chẳng là chiêm bao ?”: Lời Thúy Kiều.
+ "Khoảng vắng đêm trường": Là khoảng thời gian tất cả mọi vật đều chìm trong giấc ngủ. Nhưng Kiều không để thời gian chi phối tình cảm của mình mà đã xăm xăm đến nhà Kim trọng.
+ "Vì hoa nên phải trổ đường tìm hoa": Tình yêu hồn nhiên, trong sáng, tự do và tha thiết.
+ Hoa tượng trưng cho cái đẹp nhưng dễ phai tàn → Nó dự báo một cuộc đời bão táp của Kiều.
+ "Chẳng là chiêm bao": Băn khoăn về một sự tan vỡ.
→ Đoạn thơ thể hiện được tâm trạng và tình cảm của Thúy Kiều. Nàng đã nghe theo tiếng gọi của tình yêu và chính vì thế mà đã hành động mà không cần biết đến thứ lễ giáo phong kiến kia.
Tâm trạng và thái độ trân trọng của Kim Trọng
- Nhà thơ dùng những mỹ từ rất đẹp để nói về cảnh tượng ấy : “nhặt thưa”, “lọt”, "hắt hiu". Mọi thứ đều trở nên nhỏ nhẹ, hiền từ trước tình yêu
- Điển cố điển tích: tiếng sen, giấc xòe → để chỉ giấc mơ được gặp người đẹp của Kim Trọng
- Và đến khi biết là mình không phải là mơ nữa thì Kim Trọng nhanh chóng rước Kiều vào nhà
→ Đoạn thơ là một màn tình yêu giữa nàng và chàng. Thúy Kiều chủ động sang tìm Kim Trọng đủ thấy tình yêu trong nàng đã lớn như thế nào. Kim Trọng thì vốn đã phải lòng nàng nhưng vẫn còn sợ nàng không đồng ý. Hai người nhận ra tình cảm của nhau và chuẩn bị một lễ thề nguyền thiêng liêng hạnh phúc.
2. Cảnh Kiều và Kim Trọng thề nguyền
"Vội mừng làm lễ rước vào,
Đài sen nối sáp, lò đào thêm hương
Tiên thề cùng thảo một chương
Tóc mây một món dao vàng chia đôi
Vừng trăng vàng vặc giữa trời,
Đinh ninh hai miệng một lời song song.
Tóc tơ cân vặn tấc lóng,
Trăm năm tạc một chữ đổng đốn xương"
- Không gian: Trong nhà giữa một đêm trăng sáng
- Thời gian: đêm tối
- Các hình ảnh:
+ Đài sen, lò đào thêm hương
+ Tiên thề: Tờ giấy viết lời thề
+ Dùng dao vàng cắt tóc thề nguyền
→ Quyết tâm chung đôi
- Ánh trăng: Nhân chứng cho cuộc thề nguyền của đôi trai gái
- Lời thề: Trăm năm bền vững.
+ Hai miệng một lời song song → Thể hiện sự đồng lòng, một lòng một dạ cho tình yêu này. Đó cũng là một niềm tin vào tình cảm mãi thủy chung sắt son của hai người
→ Đó quả là những vần thơ đẹp nhất hay nhất về tình yêu của chàng Kim và nàng Kiều. Chuyện tình của hai người chẳng khác nào cổ tích vậy. Vậy là một buổi thê nguyền đã diễn ra thật thiêng liêng và hạnh phúc.
Những tín vật tình yêu cùng những lời nói đồng lòng đã được vầng trăng kia chứng giám.
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Cặp mắt anh lại đang nhìn xói vào cái mặt tôi đang được bàn tay anh dằn ngửa ra. Da mặt tôi cứ dày lên. Tôi nhắm mắt, rồi mở mắt. Mỗi lúc mở mắt, tôi không thể nhìn đi đâu khác cặp mắt anh. Trời ơi, có lẽ tôi ngồi trên ghế cắt tóc ở cái quán này đã một nửa thế kỷ? Chốc nữa, sắp tới, anh sẽ làm gì tôi đây?
- Đồ dối trá, mày hãy nhìn coi, bà mẹ tao khóc đã lòa cả hai mắt kia! Bây giờ thì tấm hình tao đã được trưng trên các tạp chí hội họa của khắp các nước. Người ta đã trân trọng ghi tên mày bên dưới, bên cạnh mấy chữ:
"Chân dung chiến sĩ giải phóng". Thật là danh tiếng quá!
- Tôi là một nghệ sĩ chứ có phải đâu là một anh thợ vẽ truyền thần, công việc nghệ sĩ là phục vụ cả một số đông người, chứ không phải chỉ phục vụ một người! Anh chỉ là một cá nhân, với một cái chuyện riêng của anh, anh hãy chịu để cho tôi quên đi, để phục vụ cho cái đích lớn lao hơn. Anh đã thấy đấy, bức "chân dung chiến sĩ giải phóng" đã đóng góp đôi chút vào công việc làm cho thế giới hiểu cuộc kháng chiến của chúng ta thêm!
"A ha! Vì mục đích phục vụ số đông của người nghệ sĩ cho nên anh quên tôi đi hả... Có quyền lừa dối hả?
Thôi, anh bước khỏi mắt tôi đi. Anh cút đi!".
Một bận, đến hai ngày liền tôi không thấy anh thợ của tôi làm việc. Cái quán cắt tóc bỏ vắng hai ngày liền. Sáng ngày thứ ba vẫn thế. Và lại thấy một người đàn bà ra dọn dẹp, chứ không phải bà cụ già lòa như mọi ngày. Tôi chạy sang. Chiếc ghế cắt tóc không còn nữa. Chỉ còn chiếc gương và mấy cái chai lọ. Người
đàn bà hỏi tôi:
- Bác đến cắt tóc?
- Vâng.
- Nhà em mấy hôm nay đang dọn cái chỗ làm mới ở phố ngoài kia. Ngày mai xong. Xin mời bác đến.
Vợ anh có vẻ trạc tuổi gần ba mươi. Một khuôn mặt đàn bà hiền lành. Chị vừa nói vừa bóc tấm tranh của tôi ra. Tôi gợi chuyện.
- Bức tranh đẹp đấy chứ, chị nhỉ?
Người đàn bà hơi đỏ mặt, cuốn tấm tranh lại một cách cẩn thận. Lâu sau mới đáp:
- Anh nhà tôi bảo: Anh bộ đội trong tờ tranh này chính là người ta vẽ anh ấy. Hồi anh ấy còn ở bộ đội trong cho nên mới mua về treo.
- Anh ấy nói với chị thế?
- Vâng.
- Hôm trước tôi đến cắt tóc ở đây có thấy một bà cụ...
- Là mẹ anh nhà tôi. Thế ra bác là khách quen?
- Vâng. Bà cụ bị tật lâu chưa?
- Thưa đã lâu. Đã chín năm nay.
- Vì sao?
- Bà cụ lòa đi cũng vì anh nhà tôi. Ngày đó bỗng nhiên có tin ra nhà tôi hy sinh. Bà cụ đâm ốm. Anh ấy là con một. Bà cụ nhớ anh ấy, nửa đêm cũng trở dậy đi lang thang. Cứ khóc hoài...
- Bà cụ lòa từ năm nào, chị biết không?
- Từ 69.
- Từ tháng mấy?
- Tôi cũng không nhớ thật rõ, có lẽ khoảng giữa năm.
Tôi ra đến Hà Nội vào đầu tháng ba năm ấy. Nếu tôi là một người tử tế ra thì không khéo bà cụ không bị lòa, không những thế mà tôi còn có thể làm cho bà cụ khỏe ra! Chính tôi đã làm cho bà mẹ anh trở thành mù lòa?
[...] Tôi quyết định phải trở lại cái quán kia. Tôi quyết định phải chường cái mặt mình ra, chứ không được lẩn tránh. Tôi không cho phép tôi chạy trốn. Bà cụ lại ngước mắt lên nhìn tôi như lần trước khuôn mặt đờ đẫn và hoan hỉ:
- Thưa ông đến cắt tóc?
- Vâng ạ!
Anh thợ cắt tóc nghe mẹ lên tiếng mới quay người lại. Tôi vừa kịp nhận ra được từ nơi cặp mắt vẫn còn trẻ của anh chiếu thẳng về phía tôi một cái nhìn ban đầu soi mói, ngạc nhiên, rồi hơi nghiêm mặt lại.
Nhưng những diễn biến phản ứng trên cái mặt người thợ chỉ diễn ra nhanh như một cái chớp mắt. Ngay sau đó anh lại trở lại cái vẻ mặt và cử chỉ từ tốn, điềm đạm, ân cần của một người thợ cắt tóc đứng đắn và yêu nghề.
Da mặt tôi tự nhiên dày cộm lên.
- Mời bác ngồi!
Tôi cố trấn tĩnh để khỏi run lập cập, bước tới ngồi vào cái ghế gỗ như một cái ghế tra điện.
- Bác vẫn cắt như cũ?
- Vâng.
...
"Lần này anh lại đối xử với tôi như lần trước đây?"
"Phải".
"Anh cũng không trách mắng, chỉ trán chỉ mặt tôi?"
"Không! Anh cứ yên tâm. Trước sau tôi vẫn coi anh là một nghệ sĩ tài năng đã có nhiều cống hiến cho xã hội".
"Bây giờ anh nói với tôi một điều gì đi, khuyên tôi một nhời đi!"
"Không".
"Tôi có phải cút khỏi đây không?"
"Không. Anh cứ đến đây. Tôi cắt cho anh kỹ lắm, anh biết đấy!"
Gần nửa năm, tôi đã để vào bức tranh sơn mài tất cả công sức và sự suy nghĩ, và trong suốt thời gian ấy, một đôi lần tôi cũng gợi lại chuyện cũ nhưng người thợ vẫn một mực cố tỏ ra chưa hề bao giờ quen biết tôi. Trở về làm một anh thợ cắt tóc cũng như lúc ở bộ đội, anh vẫn lẳng lặng sống như vậy để cho người chung quanh tự phán xét lấy những công việc đã làm. Lời đề nghị rụt rè của anh: Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình.
Bây giờ thì cái tác phẩm mới của tôi đã hoàn thành. Tôi đang đối mặt với chính mình, để viết những dòng này, như những lời chú giải cho một tác phẩm hội họa thể hiện một cái mặt người rất lớn: những luồng ánh sáng hàng nghìn nến từ phía trước và trên đầu chiếu thẳng xuống một nửa mái đầu tóc tốt rợp như một khu rừng đen bí ẩn, và một nửa mái tóc đã cắt, thoạt trông như một phần bộ óc mầu xám vừa bị mổ phanh ra.
Phần bên dưới khuôn mặt như vẫn đang được giấu kín dưới một cái mặt nạ: dưới cằm và hai bên mép phủ kín bọt xà phòng. Không trông rõ miệng, chỉ thấy một vệt mầu đen lờ mờ nổi bồng bềnh trên những đám bọt xà
phòng. Và nổi bật trên cái khuôn mặt là đôi mắt mở to, khắc khoải, bồn chồn, đầy nghiêm khắc, đang nhìn vào nội tâm.
(Trích truyện ngắn Bức tranh, Nguyễn Minh Châu, tập Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành,1983)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất.
B. Ngôi thứ hai.
C. Ngôi thứ ba.
D. Ngôi thứ hai và ngôi thứ ba.
Câu 2. Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn:
A. Điểm nhìn của tác giả, điểm nhìn bên ngoài chiếm ưu thế.
B. Điểm nhìn của nhân vật tôi, điểm nhìn bên trong chiếm ưu thế.
C. Điểm nhìn của anh thợ cắt tóc, điểm nhìn bên trong chiếm ưu thế.
D. Điểm nhìn của nhân vật tôi, điểm nhìn bên trong chiếm ưu thế.
Câu 3. Bức tranh của người họa sĩ vẽ có tên là gì?
A. “Chân dung người chiến sĩ”.
B. “Chân dung anh bộ đội cụ Hồ”.
C. “Chân dung người chiến sĩ quả cảm”.
D. “Chân dung chiến sĩ giải phóng".
Câu 4. Từ “tranh sơn mài” được định nghĩa là: chất liệu hội hoạ, trong và bóng, chế từ nhựa sơn, thường dùng vẽ tranh. Cách giải thích nghĩa của từ thuộc cách giải thích nào?
A. Phân tích nội dung nghĩa của từ.
B. Sử dụng từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa.
C. Nêu định nghĩa.
D. Phân tích các thành tố cấu tạo.
Câu 5. Vì sao bà mẹ (bà cụ) bị mù lòa cả hai mắt?
A. Bà cụ ốm một trận rất nặng rồi hai mắt lòa đi.
B. Bà cụ khóc thương tới lòa hai mắt khi nghe tin con trai hy sinh.
C. Bà cụ bị mù lòa hai mắt bẩm sinh.
D. Bà cụ gặp tai nạn khiến hai mắt bị mù lòa.
Câu 6. Trên cương vị là một người họa sĩ, nhân vật “tôi” là người như thế nào?
A. Là một nghệ sĩ tài năng, anh ta vốn nghiêm túc với nghệ thuật và công việc.
B. Là một nghệ sĩ nổi tiếng, với mong muốn vẽ được bức tranh để đời.
C. Là nghệ sĩ vẽ tranh kém nổi, sống nhờ nghề vẽ tranh.
D. Là nghệ sĩ tài ba, được học qua nhiều trường lớp và các họa sĩ nổi tiếng.
Câu 7. Sau khi biết lí do mẹ của anh thợ cắt tóc bị mù, nhân vật “tôi” có thái độ như thế nào?
A. Nhận ra lỗi lầm của bản thân và cảm thấy day dứt, trăn trở.
B. Chưa nhận ra lỗi lầm nhưng cảm thấy buồn thương.
C. Cảm thấy lo lắng, sợ hãi.
D. Cảm thấy hoảng hốt, hồi hộp.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Phân tích đặc điểm của người kể chuyện trong truyện (ngôi kể, quan hệ và thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật trong truyện, lời kể chuyện và lời nhân vật trong truyện có gì đặc biệt?)
Câu 9. Em hiểu như thế nào về lời đề nghị rụt rè của anh thợ cắt tóc trong quá khứ được gợi lại từ dòng hồi tưởng của nhân vật “tôi”: Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình.
Câu 10. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày suy nghĩ của em về hệ thống điểm nhìn trong văn bản và cho biết điểm nhìn đó có tác dụng hé lộ điều gì trong tâm lí nhân vật.
II. VIẾT
Viết bài văn phân tích đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện (lời kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể) và nội dung (chủ đề, tư tưởng) trong trích đoạn truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
|
A |
B |
D |
A |
B |
A |
A |
|
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ nhất. B. Ngôi thứ hai. C. Ngôi thứ ba. D. Ngôi thứ hai và ngôi thứ ba. |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Nhớ lại kiến thức về ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ nhất
→ Đáp án A
|
Câu 2. Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn: A. Điểm nhìn của tác giả, điểm nhìn bên ngoài chiếm ưu thế. B. Điểm nhìn của nhân vật tôi, điểm nhìn bên trong chiếm ưu thế. C. Điểm nhìn của anh thợ cắt tóc, điểm nhìn bên trong chiếm ưu thế. D. Điểm nhìn của nhân vật tôi, điểm nhìn bên trong chiếm ưu thế. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết thể hiện điểm nhìn
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn: Điểm nhìn của nhân vật tôi, điểm nhìn bên trong chiếm ưu thế
→ Đáp án B
|
Câu 3. Bức tranh của người họa sĩ vẽ có tên là gì? A. “Chân dung người chiến sĩ”. B. “Chân dung anh bộ đội cụ Hồ”. C. “Chân dung người chiến sĩ quả cảm”. D. “Chân dung chiến sĩ giải phóng". |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Bức tranh của người họa sĩ vẽ có tên là: “Chân dung chiến sĩ giải phóng"
→ Đáp án D
|
Câu 4. Từ “tranh sơn mài” được định nghĩa là: chất liệu hội hoạ, trong và bóng, chế từ nhựa sơn, thường dùng vẽ tranh. Cách giải thích nghĩa của từ thuộc cách giải thích nào? A. Phân tích nội dung nghĩa của từ. B. Sử dụng từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa. C. Nêu định nghĩa. D. Phân tích các thành tố cấu tạo. |
Phương pháp:
Nhớ lại kiến thức về cách giải nghĩa của từ
Lời giải chi tiết:
Cách giải thích nghĩa của từ thuộc cách giải thích: Phân tích nội dung nghĩa của từ
→ Đáp án A
|
Câu 5. Vì sao bà mẹ (bà cụ) bị mù lòa cả hai mắt? A. Bà cụ ốm một trận rất nặng rồi hai mắt lòa đi. B. Bà cụ khóc thương tới lòa hai mắt khi nghe tin con trai hy sinh. C. Bà cụ bị mù lòa hai mắt bẩm sinh. D. Bà cụ gặp tai nạn khiến hai mắt bị mù lòa. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Bà mẹ (bà cụ) bị mù lòa cả hai mắt vì: Bà cụ khóc thương tới lòa hai mắt khi nghe tin con trai hy sinh
→ Đáp án B
|
Câu 6. Trên cương vị là một người họa sĩ, nhân vật “tôi” là người như thế nào? A. Là một nghệ sĩ tài năng, anh ta vốn nghiêm túc với nghệ thuật và công việc. B. Là một nghệ sĩ nổi tiếng, với mong muốn vẽ được bức tranh để đời. C. Là nghệ sĩ vẽ tranh kém nổi, sống nhờ nghề vẽ tranh. D. Là nghệ sĩ tài ba, được học qua nhiều trường lớp và các họa sĩ nổi tiếng. |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Chú ý các chi tiết thể hiện con người nhân vật “tôi”
Lời giải chi tiết
Trên cương vị là một người họa sĩ, nhân vật “tôi”: Là một nghệ sĩ tài năng, anh ta vốn nghiêm túc với nghệ thuật và công việc
→ Đáp án A
|
Câu 7. Sau khi biết lí do mẹ của anh thợ cắt tóc bị mù, nhân vật “tôi” có thái độ như thế nào? A. Nhận ra lỗi lầm của bản thân và cảm thấy day dứt, trăn trở. B. Chưa nhận ra lỗi lầm nhưng cảm thấy buồn thương. C. Cảm thấy lo lắng, sợ hãi. D. Cảm thấy hoảng hốt, hồi hộp. |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Sau khi biết lí do mẹ của anh thợ cắt tóc bị mù, nhân vật “tôi” có thái độ: Nhận ra lỗi lầm của bản thân và cảm thấy day dứt, trăn trở
→ Đáp án A
|
Câu 8. Phân tích đặc điểm của người kể chuyện trong truyện (ngôi kể, quan hệ và thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật trong truyện, lời kể chuyện và lời nhân vật trong truyện có gì đặc biệt?) |
Phương pháp
Đọc đoạn trích, phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết
- Ngôi kể: Ngôi thứ nhất – xưng tôi.
- Quan hệ và thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật trong truyện: Nhân tôi là người nghệ sĩ từng vẽ bức tranh chàng trai là bộ đội lúc bấy giờ với thông tin anh bộ đội đã mất. Ngày giải phóng, người nghệ sĩ ghé quán cắt tóc đúng quán anh bộ đội ngày xưa mở ra → Mối quan hệ giữa nhân vật tôi và anh thợ cắt tóc, người bộ đội ngày xưa chính là sự áy náy, khó xử khi biết mình chính là một trong những lí do khiến mẹ anh khóc mù hai mắt vì thương nhớ con (tưởng con đã hi sinh).
Lời kể chuyện và lời nhân vật trong truyện có điều đặc biệt: Người kể chuyện cũng chính là nhân vật tôi, bên cạnh những đoạn đối thoại giữa nhân vật tôi với anh thợ cắt tóc và vợ anh thợ cắt tóc. Còn là những đoạn tưởng tượng ra lời đối thoại có phần trách móc của anh thợ cắt tóc với chính mình → Cho thấy được sự dằn vặt trong tâm trí người nghệ sĩ khi biết có thể bản thân chính là nguyên nhân khiến mẹ anh thợ cắt tóc bị mù.
|
Câu 9. Em hiểu như thế nào về lời đề nghị rụt rè của anh thợ cắt tóc trong quá khứ được gợi lại từ dòng hồi tưởng của nhân vật “tôi”: Xin mọi người hãy tạm ngừng một phút cái nhịp sống bận bịu, chen lấn, để tự suy nghĩ về chính mình. |
Phương pháp
Đọc văn bản, suy luận.
Lời giải chi tiết
Học sinh có thể chia sẻ những suy nghĩ của bản thân, có thể tham khảo gợi ý sau:
- Sự cẩn trọng trước những điều mình làm
- Không nên vì những điều ích kỉ, vị kỉ cá nhân mà có thể gây hại tới người khác
- Nhìn nhận lại chính bản thân mình để cố gắng thay đổi và hoàn thiện ngày một tốt hơn..
|
Câu 10. Hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày suy nghĩ của em về hệ thống điểm nhìn trong văn bản và cho biết điểm nhìn đó có tác dụng hé lộ điều gì trong tâm lí nhân vật. |
Phương pháp
Đọc, tìm ý, tổng hợp.
Lời giải chi tiết
Xác định được, điểm nhìn của truyện: Điểm nhìn từ nhân vật tôi và điểm nhìn xây dựng từ bên trong
Tác dụng: Nhân vật tôi là người trực tiếp tham gia câu chuyện, có ảnh hưởng tới các nhân vật khác, vì vậy việc đẩy điểm nhìn từ phía nhân tôi sẽ giúp cho câu chuyện trở nên chân thật và theo mạch cảm xúc của nhân tôi. Đồng thời, xây dựng điểm nhìn từ bên trong cho thấy được những cảm xúc day dứt, dằn vặt, dày vò khôn xiết của nhân vật tôi, những đoạn chiêm nghiệm về triết lí cuộc đời hay những cuộc đối thoại giữa mình và anh thợ cắt tóc khiến cho nhân vật tôi cảm thấy hoang mang, e ngại và lo sợ.
Việc xây dựng điểm nhìn này cũng phù hợp với tính chiêm nghiệm, triết lí trong cách viết truyện ngắn của Nguyễn Minh Châu
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Viết bài văn phân tích đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện (lời kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể) và nội dung (chủ đề, tư tưởng) trong trích đoạn truyện ngắn Bức tranh của Nguyễn Minh Châu
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận về một văn bản văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích và đánh giá
+ Nội dung: Giá trị tư tưởng và chủ đề
+ Nghệ thuật kể chuyện (Lời kể chuyện, điểm nhìn, ngôi kể)
Gợi ý:
- Giới thiệu nhân vật và mối quan hệ của hai nhân vật:
+ Người họa sĩ, đó là một anh chàng nghệ sĩ tài năng, anh ta vốn nghiêm túc với nghệ thuật và công việc.
+ Người thợ làm nghề cắt tóc sau thời gian đi bộ đội trở về.
- Nghệ thuật trần thuật:
+ Ngôi kể: Ngội thứ nhất – xưng tôi
+ Quan hệ và thái độ của người kể chuyện đối với các nhân vật trong truyện: Nhân tôi là người nghệ sĩ từng vẽ bức tranh chàng trai là bộ đội lúc bấy giờ với thông tin anh bộ đội đã mất. Ngày giải phóng, người nghệ sĩ ghé quán cắt tóc đúng quán anh bộ đội ngày xưa mở ra → Mối quan hệ giữa nhân vật tôi và anh thợ cắt tóc, người bộ đội ngày xưa chính là sự áy náy, khó xử khi biết mình chính là một trong những lí do khiến mẹ anh khóc mù hai mắt vì thương nhớ con (tưởng con đã hi sinh)
+ Lời kể chuyện và lời nhân vật trong truyện có điều đặc biệt: Người kể chuyện cũng chính là nhân vật tôi, bên cạnh những đoạn đối thoại giữa nhân vật tôi với anh thợ cắt tóc và vợ anh thợ cắt tóc. Còn là những đoạn tưởng tượng ra lời đối thoại có phần trách móc của anh thợ cắt tóc với chính mình → Cho thấy được sự dằn vặt trong tâm trí người nghệ sĩ khi biết có thể bản thân chính là nguyên nhân khiến mẹ anh thợ cắt tóc bị mù.
+ Điểm nhìn từ nhân vật tôi và điểm nhìn xây dựng từ bên trong
+ Tác dụng: Nhân vật tôi là người trực tiếp tham gia câu chuyện, có ảnh hưởng tới các nhân vật khác, vì vậy việc đẩy điểm nhìn từ phía nhân tôi sẽ giúp cho câu chuyện trở nên chân thật và theo mạch cảm xúc của nhân tôi. Đồng thời, xây dựng điểm nhìn từ bên trong cho thấy được những cảm xúc day dứt, dằn vặt, dày vò khôn xiết của nhân vật tôi, những đoạn chiêm nghiệm về triết lí cuộc đời hay những cuộc đối thoại giữa mình và anh thợ cắt tóc khiến cho nhân vật tôi cảm thấy hoang mang, e ngại và lo sợ.
→ Liên hệ với sáng tạo truyện ngắn mang phong cách của Nguyễn Minh Châu
- Tư tưởng chủ đề và triết lí nhân sinh: Đề cao sự chính trực, đạo đức của con người. Nghệ thuật phải sinh ra trong đạo đức và duy trì đạo đức để làm nghệ thuật
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU:
Đọc kĩ văn bản sau và trả lời câu hỏi:
NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH (NGUYỄN THI)
(Trích)
(Lược phần đầu: Việt là một chiến sĩ Giải phóng quân, xuất thân từ một gia đình nông dân có mối thù sâu nặng với Mĩ – nguy: ông nội và bố Việt đều bị giặc giết hại; mẹ Việt vừa phải vất vả nuôi con vừa phải đương đầu với những đe doạ, hạch sách của bọn giặc, cuối cùng cũng chết vì bom đạn. Gia đình chỉ còn lại Việt, chị Chiến, thằng Út em, chủ Nam, và một người chị nuôi đi lấy chồng xa. Truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình và những đau thương mất mát nặng nề do tội ác của Mĩ – nguy gây ra đối với gia đình Việt đều được chủ Nam ghi chép vào một cuốn sổ của gia đình.
Việt và Chiến hàng hát tòng quân đi giết giặc. Việt nhỏ tuổi, đồng đội gọi thân mật là cậu Tư. Anh rất gắn bó với đơn vị, đặc biệt là với tiểu đội trưởng Tánh, như tình ruột thịt. Ở anh luôn luôn sôi nổi một tinh thần chiến đấu. Anh quyết lập được nhiều chiến công để cùng chị Chiến trả thù cho ba má. Trong trận chiến đấu ác liệt tại một khu rừng cao su, Việt đã hạ được một xe bọc thép của địch nhưng bị thương nặng và lạc đồng đội.
Việt ngất đi tỉnh lại nhiều lần. Mỗi lần tỉnh lại, dòng hồi ức lại đua anh trở về với những kĩ niệm thân thiết đã qua: kỉ niệm về má, chị Chiến, chú Năm, về đồng đội và anh Tánh,...)
Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuống lên cho Việt ăn... Nhưng mấy giọt mưa lất phất trên cổ làm Việt choàng tỉnh hẳn. Một sự vắng lặng như từ trên trời lao xuống chạy từ cổ Việt, lan dài cho tới ngón chân. Việt có một mình ở đây thôi ư? Câu hỏi bật ra trong đầu Việt rồi dội lại trong từng chân lông kẻ tóc. Cái cảm giác một mình bật lên một cách rõ ràng nhất, mênh mông nhất, trong đêm thứ hai này, khi Việt cảm thấy không còn bò đi được nữa, khi những hình ảnh thân yêu thường kéo đến rất nhanh rồi cũng vụt tan biến đi rất nhanh chỉ vì một cành cây gãy, một giọt mưa rơi trên mặt, hoặc một tiếng động nhỏ của ban đêm. Việt muốn chạy thật nhanh, thoát khỏi sự vắng lặng này, về với ánh sáng ban ngày, gặp lại anh Tánh, níu chặt lấy các anh mà khóc như thằng Út em vẫn níu chân chị Chiến, nhưng chân tay không nhấc lên được. Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mua ngoài vàm sông", cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc...
Một loạt đạn súng lớn văng vẳng dội đến ầm ĩ trên ngọn cây. Rồi loạt thứ hai... Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lễnh lăng của giặc. Đó là những tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng môi và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hỏi Đồng khởi. Đúng súng của ta rồi! Việt muốn reo lên. Anh Tánh chắc ở đó, đơn vị mình ở đó. Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi! Đó, lại tiếng hụp hùm... chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy. Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ. Những khuôn mặt anh em mình lại hiện ra... Cái cằm nhọn hoắt ra của anh Tánh, nụ cười và cái nheo mắt của anh Công mỗi lần anh động viên Việt tiến lên... Việt vẫn còn đây, nguyên tại vị trí này, đạn đã lên nòng, ngón cái còn lại vẫn sẵn sàng nổ súng. Các anh chờ Việt một chút. Tiếng máy bay vẫn gầm rú hỗn loạn trên cao, nhưng mặc xác chúng.
Kèn xung phong của chúng ta đã nổi lên. Lựu đạn ta đang nổ rộ...
Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống. Tiếng súng đã đem lại sự sống cho đêm vắng lặng. Ở đó có các anh đang chờ Việt, đạn ta đang đổ lên đầu giặc Mĩ những đám lửa dữ dội, và những mũi lê nhọn hoắt trong đêm đang bắt đầu xung phong..
(Truyện và kí, NXB Văn học Giải phóng, 1978)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba
D. Ngôi thứ hai và ngôi thứ ba
Câu 2. Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn:
A. Điểm nhìn của tác giả
B. Điểm nhìn của chị Chiến
C. Điểm nhìn của má
D. Điểm nhìn của Việt
Câu 3. Trong những câu văn sau, câu văn nào cho thấy được cảm xúc xuất phát từ điểm nhìn của nhân vật Việt:
A. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ.
B. Ước gì bây giờ lại được gặp má.
C. Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo
D. Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt...Việt nằm thở dốc
Câu 4. Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong câu “Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng môi và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hỏi Đồng khởi.” là gì?
A. Gợi lên cảm giác phấn khích và khát khao chiến đấu tột cùng trong nhân vật Việt lúc này.
B. Gợi lên sự dũng cảm của nhân vật Việt khi tiếng súng trở thành những âm thanh quen thuộc và nhân vật sẵn sàng đối mặt với những khó khăn và thử thách.
C. Gợi lên những âm thanh quen thuộc gắn liền với nhân vật Việt khi một mình bị thương nặng giữa chiến trường, đồng thời gợi cảm giác sống trong tinh thần quật khởi của đồng bào miền Nam trong những ngày đánh Mỹ
D. Gợi lên những âm thanh quen thuộc gắn liền với nhân vật Việt khi đang bị thương ở chiến trường, đồng thời cho thấy sự dũng cảm của nhân vật.
Câu 5. Tại sao Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ đối với nhân vật Việt?
A. Vì đây là âm thanh tiếng súng mà đồng đội bắn. Nó gọi Việt phải bước tiếp để sống để trả thù quân địch. Tiếng súng xung trận đã tiếp thêm sức mạnh cho tiếng gọi Việt quay trở lại sự sống.
B. Vì đây là tiếng súng mà Việt đã quá quen thuộc và thôi thúc Việt khỏe mạnh, chiến đấu
C. Vì Việt nghe tiếng súng nhưng không hề sợ hãi cái chết mà chỉ có tinh thần chiến đấu.
D. Vì đây là tiêng súng đã hạ gục Việt và Việt khao khát vực dậy để đánh bại kẻ thù.
Câu 6. Từ láy “văng vẳng” được định nghĩa: Vọng lại từ xa nhưng nghe không thật rõ lắm. Cách giải thích nghĩa của từ đó là:
A. Phân tích nội dung nghĩa của từ
B. Sử dụng từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa
C. Nêu định nghĩa
D. Phân tích các thành tố cấu tạo
Câu 7. Suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật Việt được thể hiện trong đoạn “Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống.” là gì?
A. Mơ hồ, ảo ảnh không biết là mơ hay thật.
B. Hoang mang, lo sợ không biết được tương lai.
C. Quyết tâm vùng dậy để chiến đấu.
D. Liều mình, bất chấp sự sống và cái chết.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Hãy xác định những câu văn là lời của nhân vật Việt, tìm hiểu tâm trạng của việt bộc lộ trong những câu văn đó.
Câu 9. Qua văn bản, em hiểu gì về nhân vật Việt?
Câu 10. Bằng việc tìm hiểu về cảm xúc của nhân vật Việt trước khó khăn, kết hợp với hiểu biết xã hội của em, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: Bản lĩnh một người được thể hiện rõ nhất ở thái độ của họ khi đối mặt với khó khăn.
II. VIẾT
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích nhân vật Việt qua lời kể chuyện, điểm nhìn được thể hiện trong đoạn trích trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
PHẦN I – TRẮC NGHIỆM (6 điểm)
|
Câu 1 (0.25đ) |
Câu 2 (0.25đ) |
Câu 3 (0.25đ) |
Câu 4 (0.25đ) |
Câu 5 (0.25đ) |
Câu 6 (0.25đ) |
Câu 7 (0.25đ) |
|
C |
D |
B |
C |
A |
A |
C |
|
Câu 1. Đoạn trích được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Ngôi thứ hai và ngôi thứ ba |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích
Nhớ lại kiến thức về ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ 3
→ Đáp án C
|
Câu 2. Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn: A. Điểm nhìn của tác giả B. Điểm nhìn của chị Chiến C. Điểm nhìn của má D. Điểm nhìn của Việt |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý điểm nhìn trần thuật
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện chủ yếu trần thuật theo điểm nhìn: của Việt
→ Đáp án D
|
Câu 3. Trong những câu văn sau, câu văn nào cho thấy được cảm xúc xuất phát từ điểm nhìn của nhân vật Việt: A. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. B. Ước gì bây giờ lại được gặp má. C. Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo D. Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt...Việt nằm thở dốc |
Phương pháp:
Đọc kĩ các đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Câu văn cho thấy được cảm xúc xuất phát từ điểm nhìn của nhân vật Việt: Ước gì bây giờ lại được gặp má
→ Đáp án B
|
Câu 4. Hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong câu “Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng môi và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hỏi Đồng khởi.” là gì? A. Gợi lên cảm giác phấn khích và khát khao chiến đấu tột cùng trong nhân vật Việt lúc này. B. Gợi lên sự dũng cảm của nhân vật Việt khi tiếng súng trở thành những âm thanh quen thuộc và nhân vật sẵn sàng đối mặt với những khó khăn và thử thách. C. Gợi lên những âm thanh quen thuộc gắn liền với nhân vật Việt khi một mình bị thương nặng giữa chiến trường, đồng thời gợi cảm giác sống trong tinh thần quật khởi của đồng bào miền Nam trong những ngày đánh Mỹ D. Gợi lên những âm thanh quen thuộc gắn liền với nhân vật Việt khi đang bị thương ở chiến trường, đồng thời cho thấy sự dũng cảm của nhân vật. |
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về tác dụng của biện pháp so sánh
Lời giải chi tiết:
Hiệu quả: Gợi lên những âm thanh quen thuộc gắn liền với nhân vật Việt khi một mình bị thương nặng giữa chiến trường, đồng thời gợi cảm giác sống trong tinh thần quật khởi của đồng bào miền Nam trong những ngày đánh Mỹ
→ Đáp án C
|
Câu 5. Tại sao Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ đối với nhân vật Việt? A. Vì đây là âm thanh tiếng súng mà đồng đội bắn. Nó gọi Việt phải bước tiếp để sống để trả thù quân địch. Tiếng súng xung trận đã tiếp thêm sức mạnh cho tiếng gọi Việt quay trở lại sự sống. B. Vì đây là tiếng súng mà Việt đã quá quen thuộc và thôi thúc Việt khỏe mạnh, chiến đấu C. Vì Việt nghe tiếng súng nhưng không hề sợ hãi cái chết mà chỉ có tinh thần chiến đấu. D. Vì đây là tiêng súng đã hạ gục Việt và Việt khao khát vực dậy để đánh bại kẻ thù. |
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Tiếng súng nghe thân thiết và vui lạ đối với nhân vật Việt vì: Vì đây là âm thanh tiếng súng mà đồng đội bắn. Nó gọi Việt phải bước tiếp để sống để trả thù quân địch. Tiếng súng xung trận đã tiếp thêm sức mạnh cho tiếng gọi Việt quay trở lại sự sống.
→ Đáp án A
|
Câu 6. Từ láy “văng vẳng” được định nghĩa: Vọng lại từ xa nhưng nghe không thật rõ lắm. Cách giải thích nghĩa của từ đó là: A. Phân tích nội dung nghĩa của từ B. Sử dụng từ đồng nghĩa, gần nghĩa hoặc trái nghĩa C. Nêu định nghĩa D. Phân tích các thành tố cấu tạo |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về cách giải nghĩa của từ
Lời giải chi tiết
Cách giải nghĩa của từ đó là: Phân tích nội dung nghĩa của từ
→ Đáp án A
|
Câu 7. Suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật Việt được thể hiện trong đoạn “Việt đã bò đi được một đoạn, cây súng đẩy đi trước, hai cùi tay lôi người theo. Việt cũng không biết rằng mình đang bò đi nữa, chính trận đánh đang gọi Việt đến. Phía đó là sự sống.” là gì? A. Mơ hồ, ảo ảnh không biết là mơ hay thật. B. Hoang mang, lo sợ không biết được tương lai. C. Quyết tâm vùng dậy để chiến đấu. D. Liều mình, bất chấp sự sống và cái chết. |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn văn
Phân tích suy nghĩ dựa vào những chi tiết nổi bật
Lời giải chi tiết
Suy nghĩ và cảm xúc của nhân vật Việt được thể hiện trong đoạn trên là: Hoang mang, lo sợ không biết được tương lai
→ Đáp án C
|
Câu 8. Hãy xác định những câu văn là lời của nhân vật Việt, tìm hiểu tâm trạng của việt bộc lộ trong những câu văn đó. |
Phương pháp
Đọc đoạn trích, phân tích, tổng hợp.
Lời giải chi tiết
- Lời nói của nhân vật:
+ “Rõ ràng đây không phải là tiếng pháo lễnh lãng của giặc.”
+ “Đúng súng của quân ta rồi!”
+ “Anh Tánh chắc chắn ở đó, đơn vị của mình cũng ở đó.”
+ “Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi!”
+ “Đó, lại tiếng hụp hùm...chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy.”
+ “Tiếng súng nghe thấy mà thân thiết và vui lạ.”
+ “Những khuôn mặt anh em đồng đội mình lại hiện ra...”
+ “Cái cằm nhọn hoắt nhìn ra của anh Tánh, nụ cười và cùng với cái nheo mắt của anh Công mỗi lần mà anh động viên Việt tiến lên... Các anh chờ Việt một chút.”
- Tâm trạng nhân vật Việt phấp phỏng, hồi hộp cùng với mong chờ, niềm vui sướng và hân hoan khi Việt phát hiện ra âm thanh tiếng súng quen thuộc của những người anh em và đồng đội mình.
|
Câu 9. Qua văn bản, em hiểu gì về nhân vật Việt? |
Phương pháp
Đọc văn bản, suy luận.
Lời giải chi tiết
Học sinh có thể nêu cảm nhận về nhân vật Việt, có thể tham khảo những gợi ý sau:
- Việt là một người lính, một người anh hùng thời ông cha ta kháng chiến chống Mỹ kết hợp tất cả những phẩm chất của một người lính cùng với tính cách gan dạ, dũng cảm, ngoan cường, dũng cảm và không sợ hãi, khuất phục trước nghịch cảnh: khi mất đơn vị, bị thương rất nặng nhưng nhân vật người chiến sĩ anh hùng Việt vẫn bình tĩnh, lạc quan và luôn trong tư thế chiến đấu với kẻ địch để bảo vệ Tổ quốc mình.
- Hình ảnh người thương binh vẫn luôn trong tư thế sẵn sàng chiến đấu cho đến hơi thở cuối cùng đã thể hiện khí chất anh hùng của nhân vật mà tác giả muốn khắc họa. Nhân vật người chiến sĩ bị thương Việt là một gương mặt tiêu biểu của lớp thanh niên thời chống Mỹ, tham gia kháng chiến bằng tất cả nhiệt huyết, nhiệt huyết của tuổi trẻ không ngại gian khổ, ngoan cường và không sợ chết hết lòng vì nhân dân, Tổ quốc và luôn quan tâm đến những người anh em đồng đội luôn sát cánh bên mình.
|
Câu 10. Bằng việc tìm hiểu về cảm xúc của nhân vật Việt trước khó khăn, kết hợp với hiểu biết xã hội của em, em hãy viết một đoạn văn (khoảng 10 câu) trình bày suy nghĩ của em về vấn đề: Bản lĩnh một người được thể hiện rõ nhất ở thái độ của họ khi đối mặt với khó khăn. |
Phương pháp
Đọc, tìm ý, tổng hợp.
Lời giải chi tiết
Học sinh trình bày các lí lẽ và bằng chứng để phân tích luận đề: Bản lĩnh một người được thể hiện rõ nhất ở thái độ của họ khi đối mặt với khó khăn.
a. Giải thích bản lĩnh: Là khả năng đương đầu với khó khăn, giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống một cách bình tĩnh, thông minh và tỉnh táo. Bên cạnh đó, bản lĩnh còn là lòng dũng cảm, kiên trì, dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm
b. Biểu hiện của người có bản lĩnh:
- Là người quyết đoán, không vì người khác nói ra nói vào mà lung lay ý chí quyết tâm của mình.
- Người có bản lĩnh khi gặp khó khăn thường không than khóc oán trách số phận hay đổ lỗi cho người này, người kia mà là người tự dám nhận lỗi về mình tự mình khắc phục khó khăn để bước tiếp.
- Khi đối diện với hoàn cảnh khó khăn, người có bản lĩnh luôn hướng về suy nghĩ lạc quan, tích cực, cố gắng để hoàn thành mục tiêu của mình.
c. Học sinh lấy dẫn chứng và liên hệ bản thân.
PHẦN II – LÀM VĂN (4 điểm)
Viết bài văn khoảng 2/3 trang giấy phân tích nhân vật Việt qua lời kể chuyện, điểm nhìn được thể hiện trong đoạn trích trên.
Phương pháp:
- Phân tích (Phân tích đề để xác định thể loại, yêu cầu, phạm vi dẫn chứng).
- Sử dụng các thao tác lập luận (phân tích, tổng hợp, bàn luận,…) để tạo lập văn bản.
Lời giải chi tiết:
a. Đảm bảo cấu trúc bài văn nghị luận về một văn bản văn học.
b. Xác định đúng vấn đề nghị luận: Phân tích và đánh giá: Nhân vật Việt thông qua lời kể, điểm nhìn
Gợi ý:
- Giới thiệu chung về nhân vật
- Việt là người dũng cảm, gan dạ, luôn sẵn sàng trong tư thế chiến đấu Học sinh có thể lấy dẫn chứng từ lời kể và cảm nghĩ của nhân vật và phân tích
+ Rõ ràng đây không phải là tiếng pháo lễnh lãng của giặc.”
+ “Đúng súng của quân ta rồi!”
+ “Chà, nổ dữ, phải chuẩn bị lựu đạn xung phong thôi!”
+ “Đó, lại tiếng hụp hùm...chắc là một xe bọc thép vừa bị ta bắn cháy.”
+ “Tiếng súng nghe thấy mà thân thiết và vui lạ.”
- Việt là người có tinh thần đồng đội và luôn nghĩ về đồng đội của mình
Học sinh có thể lấy dẫn chứng từ lời kể và cảm nghĩ của nhân vật và phân tích
+ “Anh Tánh chắc chắn ở đó, đơn vị của mình cũng ở đó.”
+ “Những khuôn mặt anh em đồng đội mình lại hiện ra...”
+ “Cái cằm nhọn hoắt nhìn ra của anh Tánh, nụ cười và cùng với cái nheo mắt của anh Công mỗi lần mà anh động viên Việt tiến lên... Các anh chờ Việt một chút.”
- Việt là người giàu tình cảm, yêu thương gia đình
Trong hoàn cảnh ngặt nghèo, Việt vẫn luôn nhớ về má, về gia đình, về chị Chiến về cha,... Việt tỉnh dậy lần thứ tư, trong đầu còn thoáng qua hình ảnh của người mẹ. Đêm nữa lại đến. Đêm sâu thăm thẳm, bắt đầu từ tiếng dế gáy u u cao vút mãi lên. Người Việt như đang tan ra nhè nhẹ. Ước gì bây giờ lại được gặp má. Phải, ví như lúc má đang bơi xuồng, má sẽ ghé lại, xoa đầu Việt, đánh thức Việt dậy, rồi lấy xoong cơm đi làm đồng để ở dưới xuống lên cho Việt ăn...
Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao tròn lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mua ngoài vàm sông",
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 - Đề số 9
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Mong ước đầu tiên và lớn nhất của tôi là các con sẽ trở thành người tử tế, sau đó là cháu có một cuộc sống hạnh phúc. Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí là với cả trái đất này một cách tử tế! Việc cháu tiếp tục học ở đâu, làm việc gì là tùy vào sở thích, niềm đam mê và năng lực của cháu.
(Báo giáo dục và thời đại số 24 ngày 28 - 1 - 2017)
Câu 1 (0,5 điểm): Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên?
Câu 2 (0,5 điểm): Theo em, trình tự lập luận trong văn bản trên được trình bày theo phương pháp nào?
Câu 3 (1,0 điểm): Xác định nội dung cơ bản của đoạn trích?
Câu 4 (1,0 điểm): Là một người trẻ tuổi, anh/chị có tán đồng với mong ước về tương lai tuổi trẻ của vị phụ huynh thể hiện trong đoạn trích trên không? Vì sao?
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích phần đọc - hiểu: Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế!
Câu 2 (4.0 điểm) Cảm nhận của anh/ chị về bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ sau:
“Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
(Trích “Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mặc Tử)
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (3.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định những phương thức biểu đạt được sử dụng trong đoạn trích trên? |
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn trích để xác định cách thức truyền tải nội dung.
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt nghị luận (thể hiện quan điểm về cách sống) và biểu cảm (bày tỏ mong ước, tình cảm của phụ huynh dành cho con cái).
Câu 2.
|
Theo em, trình tự lập luận trong văn bản trên được trình bày theo phương pháp nào? |
Phương pháp:
- Xác định cách tác giả triển khai ý trong đoạn trích.
- Có các phương pháp lập luận phổ biến: diễn dịch (từ ý khái quát đến cụ thể), quy nạp (từ chi tiết đến khái quát), tổng - phân - hợp (mở đầu khái quát, sau đó phân tích, rồi kết luận).
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng phương pháp lập luận diễn dịch. Câu đầu tiên đưa ra ý chính (mong muốn con trở thành người tử tế), các câu sau mở rộng và làm rõ quan điểm này.
Câu 3.
|
Xác định nội dung cơ bản của đoạn trích? |
Phương pháp:
- Xác định ý chính của đoạn trích.
- Tóm tắt nội dung mà tác giả muốn truyền tải.
Lời giải chi tiết:
Nội dung cơ bản của đoạn trích là bày tỏ mong muốn của bậc cha mẹ đối với con cái, trong đó giá trị cốt lõi là sự tử tế và hạnh phúc. Tác giả nhấn mạnh rằng dù con cái làm công việc gì, sống ở đâu cũng cần có thái độ sống đúng đắn, biết đối xử tốt với mọi người và cả thiên nhiên.
Câu 4.
|
Là một người trẻ tuổi, anh/chị có tán đồng với mong ước về tương lai tuổi trẻ của vị phụ huynh thể hiện trong đoạn trích trên không? Vì sao? |
Phương pháp:
- Xác định ý kiến của mình (đồng tình hay không).
- Giải thích bằng lý lẽ và dẫn chứng.
Lời giải chi tiết:
Em hoàn toàn tán đồng với mong ước của vị phụ huynh trong đoạn trích. Sống tử tế không chỉ giúp con người được tôn trọng mà còn tạo ra một xã hội tốt đẹp hơn. Tử tế với bản thân giúp ta rèn luyện nhân cách, tử tế với gia đình và cộng đồng tạo nên những mối quan hệ bền vững. Đặc biệt, trong xã hội hiện đại, khi đạo đức có lúc bị xem nhẹ, việc giữ gìn lòng tử tế lại càng quan trọng hơn bao giờ hết.
PHẦN VIẾT (7.0 điểm)
Câu 1.
|
Hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến được nêu trong đoạn trích phần đọc - hiểu: Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế, ứng xử với bản thân, với gia đình, với bạn bè, những người xung quanh, với cộng động và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế! |
Phương pháp:
- Giải thích ý nghĩa câu nói.
- Bàn luận về tầm quan trọng của sự tử tế trong công việc và cuộc sống.
- Đưa ra dẫn chứng minh họa.
- Kết luận, rút ra bài học.
Lời giải chi tiết:
“Sau này con có trở thành bất cứ ai trên cuộc đời này, làm bất cứ công việc gì thì cũng làm việc một cách tử tế,ứng xử với bản than, với gia đình,với bạn bè, những người xung quanh,với cộng đồng và thậm chí với cả trái đất này một cách tử tế”- một lời nhắn nhủ, gửi gắm chân thành đầy yêu thương và cũng thật sự ý nghĩa. “Việc tử tế” không nhất thiết phải là những việc to tát, sang trọng mà có khi chỉ là những việc nhỏ bé, bình thường nhưng là những việc tốt, có ý nghĩa. Kết hợp cùng cái cách mình làm, bằng một cái tâm và trách nhiệm. Ý nghĩa cuả câu nói này chính là sau này con có thể trở thành bất cứ ai (thành vĩ nhân hay chỉ là thường dân), có thể làm việc gì (việc lớn lao hay việc nhỏ bé) không quan trọng. Quan trọng là phải tử tế, làm việc tử tế, ứng xử tử tế. Xã hội loài người văn minh hình thành là từ khi con người biết tôn trọng và tín nhiệm lẫn nhau. Không có giá trị nào được tạo ra cho đến khi con người biết hành động vì lẽ phải. Kẻ giả dối lãnh hậu quả do cách mình sống, người tử tế hưởng hoa trái của việc mình làm. Trong cuộc sống này rất cần có sự tử tế ở mỗi con người để cùng xây dựng một xã hội văn minh, tiến bộ và giàu lòng nhân ái hơn nữa. Tử tế” có nghĩa là sự cẩn thận, kĩ lưỡng, thận trọng, chu đáo trong công việc, trong lối sống và trong cách đối xử với mọi người. Người tử tế là người có tấm lòng nhân ái, biết tôn trọng bản thân và người khác, có thái độ sống nhân từ, hoà hợp với thế giới xung quanh, đề cao đạo đức, sự lịch thiệp, nhã nhặn, tình yêu thương, lẽ công bằng. Người sống tử tế luôn biết nâng niu, quý trọng từ những cái nhỏ nhặt, bình thường nhất trong cuộc sống để tạo nên lối sống đẹp, được nhiều người yêu mến, quý trọng. Tử tế là phẩm chất cao quý của con người. Người tử tế, do đó, không chỉ là người có phẩm chất cao quý mà còn là người biết sử dụng lòng tốt của bản thân, chia sẻ những nổi khổ niềm đau trong cuộc sống, nhằm góp phần xây dựng cuộc sống an bình hơn. Sự tử tế không tự nó hình thành mà cần được dạy bảo, rèn luyện mới có được. Lòng tử tế hiện hữu trong mỗi con người, trước nhất như một tiềm năng, do vậy, để có nó trong cuộc sống, ta cần khai thác, nuôi dưỡng, chăm sóc và phát triển. Đừng bao giờ để thói đố kị, ích kỉ làm mờ con mắt mà trở nên tham lam, thực dục và cả tàn nhẫn để đối xử với những người xung quanh. Điều đó sẽ hủy hoại đi biết bao nhiêu điều tốt đẹp trong cuộc sống này. Quả thật, câu nói được đưa ra có ý nghĩa vô cùng to lớn, thức tỉnh những con người còn đang u mê, chưa biết làm sao để sống có ý nghĩa, đồng thời cũng nâng bước, chắp cánh thêm cho những tấm long thơm thảo, sống tốt sẽ luôn hạnh phúc vì những điều mình đã làm.
Câu 2.
|
Cảm nhận của anh/ chị về bức tranh thiên nhiên trong đoạn thơ sau: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ? Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên Vườn ai mướt quá xanh như ngọc Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
Gió theo lối gió, mây đường mây Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay Thuyền ai đậu bến sông trăng đó Có chở trăng về kịp tối nay? (Trích “Đây thôn Vĩ Dạ”- Hàn Mặc Tử) |
Phương pháp:
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm và vị trí đoạn thơ.
- Phân tích bức tranh thiên nhiên theo từng câu thơ.
- Nhận xét về nghệ thuật và cảm xúc của tác giả.
- Kết luận về ý nghĩa của bức tranh thiên nhiên trong thơ Hàn Mặc Tử.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử là một trong những tác phẩm tiêu biểu của phong trào Thơ Mới. Đoạn thơ trên mở đầu bằng lời mời gọi đầy tha thiết:
"Sao anh không về chơi thôn Vĩ?"
Câu hỏi vừa như một lời trách móc, vừa như một niềm mong mỏi da diết. Hình ảnh thôn Vĩ hiện lên với những hàng cau đón nắng sớm, một khu vườn tràn đầy sức sống với màu xanh tươi mát:
"Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc"
Màu xanh của khu vườn được so sánh với ngọc, gợi lên vẻ đẹp tinh khôi, trong trẻo của miền quê xứ Huế. Bức tranh ấy không chỉ đẹp về thị giác mà còn có hồn, với những cành trúc che nghiêng, thấp thoáng hình ảnh con người.
Sang khổ thơ thứ hai, thiên nhiên dần trở nên xa vắng, man mác buồn:
"Gió theo lối gió, mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay"
Câu thơ gợi lên sự chia cách, cô đơn, dòng sông Vĩ lặng lẽ trôi trong sự tĩnh lặng của cảnh vật. Hình ảnh "thuyền ai" và "sông trăng" tạo nên không gian huyền ảo, lãng mạn nhưng cũng đầy u hoài:
"Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?"
Ánh trăng vừa là vẻ đẹp của thiên nhiên, vừa là biểu tượng của khát vọng, của ước mơ được đoàn tụ, gắn kết. Nhưng câu hỏi cuối bài thơ không có câu trả lời, như một nỗi buồn xa vắng, một niềm khắc khoải không thể gọi thành lời.
Bằng ngôn ngữ giàu hình ảnh, nhạc điệu du dương, đoạn thơ đã khắc họa một bức tranh thiên nhiên vừa tươi đẹp, vừa u buồn, phản chiếu tâm trạng của thi nhân. Thôn Vĩ hiện lên như một miền ký ức xa xôi mà tác giả tha thiết mong được trở về, nhưng hiện thực thì lại đầy chia xa. Điều đó càng làm tăng thêm sức hấp dẫn và chiều sâu của bài thơ.
Đề thi giữa kì 2 Văn 11 - Đề số 10
Đề thi
PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Cho ngữ liệu sau đọc và trả lời câu hỏi:
Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung.
Bốn bề bát ngát xa trông,
Cát vàng cồn nọ bụi hồng dặm kia.
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya,
Nửa tình, nửa cảnh như chia tấm lòng.
Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ.
Bên trời góc bể bơ vơ,
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?
Sân Lai cách mấy nắng mưa,
Có khi gốc tử đã vừa người ôm?
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác, biết là về đâu?
(Kiều ở lầu Ngưng Bích, trích “Truyện Kiều” – Nguyễn Du, NXB Văn học, 2014)
Chú thích: Đoạn trích trên nằm ở phần thứ hai (Gia biến và lưu lạc). Sau khi biết mình bị bán vào chốn lầu xanh, Kiều uất ức tự vẫn. Tú bà vờ hứa hẹn đợi Kiều bình phục sẽ gả chồng cho.
Câu 1 (0.5 điểm): Xác định thể thơ của đoạn trích trên.
Câu 2 (0.5 điểm): Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là ai?
Câu 3 (1.0 điểm): Anh/chị hiểu như thế nào về từ “Xuân” trong hai câu thơ: Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”?
Câu 4 (1.0 điểm): Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp cú được sử dụng trong đoạn trích trên.
Câu 5 (1.0 điểm): Nhận xét của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích trên.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm) Từ tâm trạng cô đơn, bơ vơ của Thúy Kiều trong đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về giá trị của nghị lực sống trong cuộc đời mỗi con người.
Câu 2 (4.0 điểm) Viết bài văn nêu cảm nhận của anh/ chị về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích ở phần đọc – hiểu.
Đáp án
PHẦN I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Xác định thể thơ của đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: lục bát
Câu 2.
|
Nhân vật trữ tình trong đoạn trích trên là ai? |
Phương pháp:
Đọc kĩ đoạn trích, chú thích và xác định
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình: Thúy Kiều
Câu 3.
|
Anh/chị hiểu như thế nào về từ “Xuân” trong hai câu thơ: Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân/ Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung”? |
Phương pháp:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định nghĩa của từ
Lời giải chi tiết:
Nghĩa đen: “Xuân” có nghĩa là mùa xuân – mùa của sự tươi trẻ, tràn đầy sức sống.
Nghĩa bóng: “Xuân” ở đây nghĩa là thanh xuân, tuổi trẻ của một cô gái => “Khóa xuân” có nghĩa là thanh xuân của Kiều bị giam cầm, bị kìm hãm trong chốn lầu xanh, mất đi tự do và tuổi trẻ.
Câu 4.
|
Chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ điệp cú được sử dụng trong đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Tìm các từ/cụm từ lặp lại nhiều lần, sau đó phân tích tác dụng của chúng.
Lời giải chi tiết:
- Điệp cú “buồn trông” xuất hiện ở bốn câu thơ cuối:
Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Buồn trông nội cỏ rầu rầu,
Buồn trông gió cuốn mặt duềnh.
- Tác dụng:
+ Nhấn mạnh nỗi buồn triền miên, dai dẳng của Kiều khi bị giam cầm, cô đơn.
+ Tạo nhịp điệu ám ảnh, diễn tả tâm trạng tuyệt vọng, bế tắc của nàng.
Câu 5.
|
Nhận xét của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Phân tích nội dung đoạn trích để làm rõ tâm trạng và phẩm chất của Kiều.
Lời giải chi tiết:
Vẻ đẹp tâm hồn của Thúy Kiều qua đoạn trích:
- Nỗi nhớ thương sâu nặng: Kiều hướng về gia đình, lo lắng cho cha mẹ khi mình không còn bên cạnh.
- Tấm lòng chung thủy: Nhớ về Kim Trọng với tình yêu son sắt.
- Nỗi buồn và sự cô đơn: Cảnh thiên nhiên phản chiếu tâm trạng lẻ loi, bơ vơ, mất phương hướng.
- Khát vọng tự do, hạnh phúc nhưng lại bị kìm hãm bởi số phận nghiệt ngã.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Từ tâm trạng cô đơn, bơ vơ của Thúy Kiều trong đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về giá trị của nghị lực sống trong cuộc đời mỗi con người. |
Phương pháp:
- Giải thích: Nghị lực sống là khả năng kiên trì, vượt qua khó khăn, thử thách để vươn lên trong cuộc sống.
- Bàn luận:
+ Nghị lực giúp con người mạnh mẽ đối mặt với nghịch cảnh.
+ Những người có nghị lực thường đạt được thành công và truyền cảm hứng cho xã hội.
+ Thiếu nghị lực dễ dẫn đến bi quan, bỏ cuộc trước khó khăn.
- Dẫn chứng: Những tấm gương có nghị lực vươn lên (Nick Vujicic, Helen Keller, thầy Nguyễn Ngọc Ký…).
- Bài học rút ra: Mỗi người cần rèn luyện nghị lực sống để làm chủ cuộc đời mình.
Lời giải chi tiết:
Trong cuộc sống, mỗi người đều phải đối diện với khó khăn, thử thách, và nghị lực sống chính là yếu tố quan trọng giúp con người vượt qua nghịch cảnh để vươn tới thành công. Nghị lực sống là ý chí kiên trì, lòng dũng cảm và quyết tâm không bỏ cuộc dù gặp phải trở ngại. Người có nghị lực luôn sẵn sàng đối mặt với thất bại, biết đứng dậy sau vấp ngã và không ngừng nỗ lực để đạt được mục tiêu. Nhờ đó, họ có thể biến ước mơ thành hiện thực, khẳng định giá trị bản thân và truyền cảm hứng cho những người xung quanh. Chẳng hạn, Nick Vujicic – chàng trai không tay không chân, đã vươn lên trở thành diễn giả nổi tiếng thế giới, hay Helen Keller – dù khiếm thính và khiếm thị nhưng vẫn trở thành nhà văn, nhà hoạt động xã hội vĩ đại. Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn có những người thiếu ý chí, dễ dàng bỏ cuộc khi gặp khó khăn, sống dựa dẫm vào người khác, đánh mất cơ hội phát triển bản thân. Vì vậy, mỗi người cần rèn luyện nghị lực sống để vững vàng trước sóng gió, tạo dựng một cuộc đời ý nghĩa và thành công.
Câu 2.
|
Viết bài văn nêu cảm nhận của anh/ chị về tâm trạng của nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích ở phần đọc – hiểu. |
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu đoạn trích và hoàn cảnh của Thúy Kiều.
2. Thân bài:
Không gian cô đơn, bế tắc (cảnh lầu Ngưng Bích, bốn bề mênh mông).
Nỗi nhớ thương da diết (với gia đình, với Kim Trọng).
Nỗi buồn đau, tuyệt vọng (điệp từ "buồn trông" thể hiện sự vô vọng).
3. Kết bài: Đánh giá tâm trạng Kiều – vừa đáng thương, vừa thể hiện tâm hồn cao đẹp.
Lời giải chi tiết:
Nguyễn Du – đại thi hào của dân tộc, bằng ngòi bút tinh tế và sâu sắc, đã khắc họa rõ nét tâm trạng của Thúy Kiều trong đoạn trích Kiều ở lầu Ngưng Bích. Đây là khoảng thời gian Kiều bị giam lỏng sau khi bị lừa bán vào lầu xanh. Tâm trạng của nàng hiện lên đầy xót xa qua từng câu thơ, thể hiện nỗi cô đơn, nhớ thương và lo lắng cho tương lai đầy mịt mù phía trước.
Mở đầu đoạn trích, Nguyễn Du miêu tả khung cảnh thiên nhiên rộng lớn nhưng lại mang đầy nỗi cô đơn:
"Trước lầu Ngưng Bích khóa xuân,
Vẻ non xa tấm trăng gần ở chung."
Không gian rộng lớn với "non xa", "trăng gần" càng làm nổi bật sự cô lập của Kiều. Nàng như bị giam cầm giữa nơi bát ngát ấy, chỉ có thiên nhiên làm bạn. "Khóa xuân" không chỉ diễn tả tuổi xuân bị kìm hãm mà còn thể hiện tâm trạng đau khổ, tuyệt vọng của Kiều.
Nỗi cô đơn ấy nhanh chóng biến thành niềm thương nhớ khôn nguôi. Kiều nhớ Kim Trọng – người tình chung thủy mà nàng đã phải phụ bạc vì chữ hiếu:
"Tưởng người dưới nguyệt chén đồng,
Tin sương luống những rày trông mai chờ."
Nhớ về lời thề nguyền dưới trăng, Kiều không khỏi xót xa, dằn vặt. Nàng lo lắng không biết Kim Trọng có còn mong đợi hay đã trách hờn mình. Không chỉ nhớ tình lang, Kiều còn thương cha mẹ già yếu:
"Xót người tựa cửa hôm mai,
Quạt nồng ấp lạnh những ai đó giờ?"
Hình ảnh "tựa cửa" gợi lên cảnh cha mẹ ngày đêm mong ngóng tin con. Kiều càng thương cha mẹ bao nhiêu, nàng càng đau đớn bấy nhiêu vì bản thân không thể ở bên phụng dưỡng.
Cuối đoạn trích, tâm trạng Kiều chuyển sang nỗi sợ hãi, hoang mang trước số phận:
"Buồn trông cửa bể chiều hôm,
Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Buồn trông ngọn nước mới sa,
Hoa trôi man mác biết là về đâu?"
Các điệp ngữ "buồn trông" liên tiếp nhấn mạnh tâm trạng lo lắng, tuyệt vọng của Kiều. Hình ảnh "hoa trôi man mác" chính là ẩn dụ cho cuộc đời lênh đênh, vô định của nàng – một kiếp người nhỏ bé giữa dòng đời nghiệt ngã.
Như vậy, qua đoạn trích "Trước lầu Ngưng Bích", Nguyễn Du đã thành công trong việc khắc họa tâm trạng Thúy Kiều bằng bút pháp tả cảnh ngụ tình đặc sắc. Kiều hiện lên với đầy đủ những cung bậc cảm xúc: cô đơn, nhớ thương và lo sợ, qua đó bộc lộ số phận bi kịch của nàng. Đoạn thơ không chỉ thể hiện tài năng của Nguyễn Du mà còn gợi lên sự đồng cảm sâu sắc của người đọc đối với nhân vật Thúy Kiều.
Công cụ tra cứu bỏ túi cho ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11
Tra cứu nhanh công thức, bảng biểu và phương pháp giải miễn phí 24/7
Tổng hợp công thức trọng tâm từ lớp 6 đến 12 chuẩn SGK mới GDPT 2018.
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, cuối kỳ các môn có lời giải chi tiết.
Công thức chuẩn, dấu hiệu nhận biết (Signal words) & chia động từ tự động.
Đánh giá độ hữu ích của lời giải
Ý kiến của em giúp Tri Thức Hub nâng cao chất lượng bài giảng
Lời giải bài Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11 có giúp em hiểu rõ phương pháp và tự làm được bài tập không?
Luyện trắc nghiệm ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Bài học cùng chuyên đề: Đề thi giữa kì 2 lớp 11 - Chân trời sáng tạo
Đề ôn luyện trắc nghiệm liên quan
Trắc nghiệm củng cố: Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11
Bộ câu hỏi trắc nghiệm rèn luyện tư duy và ghi nhớ kiến thức cốt lõi.
Kho đề thi & Kiểm tra định kỳ Lớp 11
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, học kỳ và đề ôn luyện trắc nghiệm trực tuyến miễn phí.
Luyện đề thi Giữa kì & Học kì ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Sau khi học xong "Đề thi giữa kì 2 Ngữ Văn 11 - Chân trời sáng tạo", bạn có thể thử sức ngay với kho đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết và đề thi học kì chuẩn phân phối chương trình Kết Nối Tri Thức. Hỗ trợ tải trọn bộ PDF đề bài kèm Lời giải chi tiết trên App Tri Thức Hub!
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
