
Đề thi học kì 1 Văn 11
Flashcard 60s: Kiến thức cốt lõi
Lật thẻ nhớ nhanhChỉ 1 phút nắm trọn định nghĩa, dạng bài và bí quyết làm bài trước khi đọc giải
Ghi nhớ & Mẹo giải nhanh: Đề thi học kì 1 Văn 11
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 11 - Chân trời sáng tạo
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Tùy bút, tản văn
- Tùy bút là tiểu loại thuộc loại hình kí; thường tập trung thể hiện cái “tôi” của tác giả, luôn có sự kết hợp giữa tự sự và trữ tình. Ở tùy bút, chi tiết, sự kiện chỉ là cái cớ, là tiền đề để bộc lộ cảm xúc, suy tư, nhận thức, đánh giá về con người và cuộc sống. Ngôn ngữ của tùy bút giàu chất thơ (có chất trữ tình, giàu nhạc điệu, giàu sức gợi,…)
- Tản văn: là một dạng văn xuôi gần với tùy bút; thường kết hợp tự sự, trữ tình, nghị luận, miêu tả thiên nhiên, khắc họa nhân vật. Tản văn chú trọng việc nêu lên được nét chính của các hiện tượng giàu ý nghĩa xã hội và bộc lộ tình cảm, ý nghĩa của tác giả. Sức hấp dẫn của tản văn chủ yếu ở khả năng phát hiện những nét đặc thù, đặc biệt của sự việc, đối tượng hay khả năng kết nối, xâu chuỗi các sự việc, đối tượng có vẻ rời rạc, nhỏ nhặt để hướng đến thể hiện chủ đề của tác phẩm.
b. Văn bản nghị luận
- Một văn bản nghị luận bao gồm nhiều thành tố: luận đề, luận điểm, lí lẽ, bằng chứng… Các thành tố đó được tổ chức thành một chỉnh thể, có quan hệ chặt chẽ với nhau, nhằm đạt hiệu quả thuyết phục cao nhất
- Là thành tố có tính chất bao trùm, luận đề có chức năng định hướng việc triển khai các luận điểm. Các luận điểm trong văn bản nghị luận, với sự thống nhất của lí lẽ và bằng chứng, có nhiệm vụ làm rõ từng khía cạnh và thể hiện tính nhất quán của luận đề. Mối quan hệ có tính bản chất giữa các thành tố như vậy tạo nên cấu trúc đặc thù của văn bản nghị luận
c. Truyện thơ
- Truyện thơ thuộc loại hình tự sự, có cốt truyện, câu chuyện, nhân vật, lời kể,… nhưng lại được thể hiện dưới hình thức thơ. Với dung lượng tương đối lớn, truyện thơ có thể bao quát được nhiều sự kiện, con người, chi tiết cụ thể, sinh động của đời sống thường nhật. Truyện thơ hiện diện trong nhiều nền văn học, có lịch sử lâu đời, phát triển thành một số dòng riêng theo sự chi phối của các điều kiện văn hóa, xã hội cụ thể
- Truyện thơ dân gian do tầng lớp bình dân hoặc các trí thức sống gần gũi với tầng lớp bình dân sáng tác; lưu hành chủ yếu bằng truyền miệng nhưng cũng có khi thông qua các văn bản viết. Truyện thơ dân gian khai thác đề tài từ nhiều nguồn khác nhau như truyện cổ, sự tích tôn giáo hay những câu chuyện đời thường
d. Văn bản thông tin
- Văn bản thông tin là một hình thức viết nhằm truyền đạt thông tin và kiến thức một cách chính xác và trung thực. Loại văn bản này rất phổ biến và hữu ích trong đời sống hàng ngày. Nó bao gồm nhiều thể loại khác nhau, như thông báo, chỉ dẫn, mô tả công việc, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, lịch biểu, cơ sở dữ liệu, hợp đồng quảng cáo, các văn bản hành chính, từ điển và bản tin.
- Mục đích chính của văn bản thông tin là truyền đạt thông tin một cách khách quan và trung thực.
- Nhan đề của văn bản thông tin thường tập trung nêu bật đề tài của văn bản
- Bố cục văn bản thông tin thường có các phần: nhan đề, sa- pô; thời gian và nơi in văn bản; nội dung chính của văn bản
- Văn bản thông tin thường được trình bày bằng kênh chữ và có thể kết hợp với kênh hình
e. Bi kịch
- Là một thể loại thuộc về kịch
- Bi kịch tập trung diễn tả những xung đột hệ trọng, đạt tới mức căng thẳng tột độ giữa những mong muốn, hành động cao đẹp, hào hùng của con người với những tình thế bi đát không thể đảo ngược của thực tại hay với những trở ngại tồn tại ngay trong bản tính con người
2. Phần tiếng Việt
a. Giải thích nghĩa của từ
b. Ngôn ngữ nói
c. Cách trích dẫn và lập danh mục tài liệu tham khảo
d. Ngôn ngữ viết
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận
b. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội
c. Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội
d. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học (kịch bản văn học) hoặc tác phẩm nghệ thuật (bộ phim)
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
*Đề bài
Văn bản Ai đã đặt tên cho dòng sông
Câu 1: Ngay câu mở đầu văn bản, tác giả đã nêu đặc điểm đặc biệt gì của dòng sông Hương?
A. Quá trình hình thành, kiến tạo của dòng sông qua nhiều thế kỉ
B. Vẻ đẹp dữ dội, hùng tráng của dòng sông Hương ở đoạn thượng lưu
C. Những bí ẩn về hành trình của dòng sông Hương trước khi xuôi về cố đô Huế
D. Trong các dòng sông đẹp trên thế giới, chỉ có sông Hương là thuộc về một thành phố duy nhất
Câu 2: Khi ở thượng nguồn, vẻ đẹp của sông Hương được so sánh với hình ảnh nào?
A. Bản trường ca của rừng già
B. Cô gái Di – gan man dại
C. Người mẹ phù sa của một vùng văn hóa xứ sở
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 3: Hình ảnh nào sau đây KHÔNG ĐƯỢC DÙNG để miêu tả về dòng sông Hương?
A. Một mảnh trăng non
B. Một tấm lụa, tấm voan huyền ảo
C. Một tiếng “vâng” không lời của tình yêu
D. Một người con gái dịu dàng của đất nước
Câu 4: Đáp án nào KHÔNG ĐÚNG khi nói về đoạn trích Ai đã đặt tên cho dòng sông?
A. Đoạn trích thể hiện vốn hiểu biết sâu rộng của nhà văn về nhiều lĩnh vực: văn hóa, địa lý, lịch sử, văn chương
B. Văn phong tao nhã, hướng nội, tinh tế và rất mực tài hoa
C. Đoạn trích thể hiện tình yêu đắm say, sự gắn bó thiết tha, sâu nặng của tác giả với dòng sông Hương, với đất và người xứ Huế
D. Giọng điệu thông minh, sắc sảo pha lẫn sự hóm hỉnh, từng trải
Văn bản Cõi lá
Câu 5: Tác phẩm Cõi lá thuộc thể loại:
A. Tiểu thuyết
B. Tản văn
C. Tùy bút
D. Ký
Câu 6: Cõi lá đã làm nổi bật nét đặc trưng gì của cảnh sắc Hà Nội?
A. Sinh động, đầy sức sống
B. U tối, buồn bã
C. Ảm đạm, tiêu điều
D. Không có gì đặc sắc
Câu 7: Tính từ nào được sử dụng để miêu tả vẻ đẹp của thiên nhiên Hà Nội?
A. Trời trong veo
B. Nắng chao chát
C. Sắc lá ngọt ngào như mật
D. Tất cả các đáp án trên
Văn bản Một cây bút và một quyển sách có thể thay đổi thế giới
Câu 8: Việc lặp lại cấu trúc “ Chúng tôi kêu gọi…” có tác dụng gì ?
A. Làm cho nội dung bài đọc trở nên thu hút, có nhịp điệu, mang tính liên kết cao
B. Nhấn mạnh đến đối tượng mà tác giả muốn truyền tải
C. Kêu gọi tất cả mọi người hãy trả lại công bằng, trả lại sự bình đẳng cho trẻ em gái
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 9: Luận đề nào dưới đây KHÔNG PHẢI luận đề của văn bản?
A. Mọi phụ nữ, mọi thanh thiếu niên nam nữ đều được quyền bảo vệ quyền lợi của mình.
B. Tầm quan trọng bút và sách - Giáo dục mang tới sức mạnh to lớn khiến họ sợ hãi.
C. Tấm gương những con người đã đứng lên đòi công bằng và hòa bình
D. Đã đến lúc mọi người lên tiếng đòi công bằng và hoà bình
Câu 10: Văn bản viết ra nhằm mục đích gì?
A. Nêu lên tội ác của những kẻ khủng bố, kẻ cực đoan đã làm với những người vô tội
B. Đem đến thông điệp hãy đứng lên đòi quyền bình đẳng
C. Phê phán xã hội đương thời
D. A và B đúng
Văn bản Công nghệ AI của hiện tại và tương lai
Câu 11: Theo văn bản, do đâu mà AI có được khả năng vượt trội và có thể ứng dụng vào nhiều lĩnh vực khác nhau trong đời sống?
A. AI là năng lực “tự học” của máy tính, có thể tự phán đoán, phân tích trước các dữ liệu mới mà không cần sự hỗ trợ của con người, đồng thời có khả năng xử lí dữ liệu với số lượng rất lớn ở tốc độ cao.
B. Trí tuệ nhân tạo nhân tạo có khả năng tự thích nghi, tự học và tự phát triển, tự đưa ra các lập luận để giải quyết vấn đề, có thể giao tiếp như con người…
C. Trí tuệ nhân tạo có khả năng vượt xa trí tưởng tượng của con người trong mọi mặt
D. A và B đúng
Câu 12: Ý nào KHÔNG ĐÚNG khi nói về thuận lợi mà công nghệ AI mang đến cho con người?
A. Có thể xử lý khối lượng lớn công việc.
B. Giúp các nhà nghiên cứu, doanh nghiệp, khởi nghiệp và chính phủ có thể định hướng mục tiêu phát triển cho tương lai.
C. Tốn kém
D. Hỗ trợ hệ thống thông tin chính phủ, hỗ trợ nhận diện khuôn mặt, hỗ trợ ngành vận tải tự lái.
Văn bản Lời tiễn dặn
Câu 13: Khi biết người yêu đã đi lấy chồng, chàng trai có suy nghĩ gì?
A. Mong được bế con của người yêu
B. Mong được lấy người yêu
C. Suy nghĩ đến cái chết
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 14: Lời thề nguyền thủy chung được diễn tả qua biện pháp nghệ thuật nào?
A. So sánh
B. Điệp cấu trúc
C. Nhân hóa
D. Nói quá
Văn bản Tú Uyên gặp Giáng Kiều
Câu 15: Nguồn gốc tác phẩm được lấy cảm hứng từ:
A. Câu chuyện hư cấu
B. Câu chuyện có thật trong lịch sử
C. Câu chuyện trong dân gian Việt Nam
D. Câu chuyện trong dân gian nước ngoài
Câu 16: Tác giả so sánh nỗi nhớ của chàng Tú Uyên với:
A. Trăng dưới nước
B. Sông Tương mơ hình
C. Lá thu rụng vàng
D. Nỗi buồn chiều thu
Câu 17: Thông điệp mà tác giả muốn gửi đến người đọc là gì?
A. Hãy không ngừng tìm kiếm tình yêu đích thực
B. Không nên tin vào những điều thần kì trong cuộc sống
C. Hãy trân trọng hiện tại
D. Tất cả các đáp án trên
Văn bản Sơn Đoòng – thế giới chỉ có một
Câu 18: Nhan đề “Sơn Đoòng - thế giới chỉ có một” cho thấy văn bản muốn đề cập đến thông tin gì về hang Sơn Đoòng?
A. Đề cập đến thông tin du lịch, các điểm tham quan ở hang Sơn Đoòng
B. Đề cập đến nét nổi bật đặc sắc và các thông tin liên quan đến hang Sơn Đoòng
C. Đề cập đến những điểm thu hút khách du lịch nhất của hang Sơn Đoòng
D. Đề cập đến những lưu ý khi du lịch ở Sơn Đoòng
Câu 19: Cách trình bày đề mục được in đậm và tách dòng khoa học có tác dụng gì:
A. Giúp người đọc dễ dàng theo dõi văn bản
B. Giúp người đọc hiểu được ý chính của đoạn văn nhắc đến.
C. Giúp bài viết được trình bày đẹp hơn
D. A và B đúng
Văn bản Đồ gốm gia dụng của người Việt
Câu 20: Những thông tin cơ bản của văn bản này gợi cho người đọc suy nghĩ gì về văn hóa dân tộc?
A. Văn hóa đồ gốm sứ xưa không chỉ mang giá trị lớn về mặt vật chất mà còn cả mặt tinh thần.
B. Đồ gốm chính là một phần “đời sống” của người Việt còn lại, là chất men tạo sự đam mê cho giới chơi đồ gốm sứ xưa ở Việt Nam cũng như trên thế giới.
C. Đồ gốm sứ xưa là những đồ vật tĩnh lặng, nhưng chúng lại hàm chứa nội dung văn hoá, mỹ thuật trang trí dân tộc phong phú.
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 21: Cách sử dụng các yếu tố hình thức của văn bản này có gì đặc biệt?
A. Xen giữa các đoạn văn là một số bài thơ
B. Các đoạn có độ dài ngắn khác nhau
C. Có lồng ghép nhiều hình ảnh minh họa
D. Tất cả các đáp án trên
Văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
Câu 22: Tác phẩm Vũ Như Tô là một vở bi kịch lịch sử năm hồi viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516 – 1517 dưới triều của vua nào?
A. Lê Long Đĩnh
B. Lê Chiêu Thống
C. Trần Dụ Tông
D. Lê Tương Dực
Câu 23: Những mâu thuẫn cơ bản trong tác phẩm Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài là?
A. Mâu thuẫn giữa cuộc sống xa hoa, trụy lạc của Lê Tương Dực với cuộc sống khốn khổ của người nông dân
B. Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật thuần túy của Vũ Như Tô và lợi ích thiết thực của nhân dân
C. Mâu thuẫn giữa hình thức và nội dung, bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo
D. Đáp án A và
Tác phẩm Chí khí anh hùng
Câu 24: Quan niệm về chí anh hùng trong bài thơ là gì?
A. Nam nhi chí ở bốn phương
B. Nam nhi sinh ra trên đời này đầu đội trời chân đạp đất, mang nợ tang bồng
C. Nam nhi trung với nước hiếu với dân
D. Đáp án khác
Câu 25: Quan niệm về chí làm trai thể hiện như thế nào qua tác phẩm?
A. Kẻ sĩ phải làm nên sự nghiệp to lớn, để lại công đức, danh tiếng cho đất nước, quê hương
B. Kẻ sĩ phải lập thân bằng con đường khoa cử
C. Làm quan là để thực hiện lý tưởng trung quân ái quốc
D. Tất cả các đáp án trên
2. Phần tiếng Việt
a. Giải thích nghĩa của từ
Câu 1: Khi giải thích “Cầu hôn: xin được lấy làm vợ” là đã giải thích nghĩa của từ bằng cách nào?
A. Dùng từ đồng nghĩa với từ cần được giải thích
B. Trình bày khái niệm mà từ biểu thị
C. Kết hợp giữa dùng từ đồng nghĩa với trình bày khái niệm mà từ biểu thị
D. Dùng từ trái nghĩa với từ được giải thích
Câu 2: Trung niên: người đã quá tuổi thanh niên nhưng chưa già
Từ trên được giải thích theo cách nào?
A. Dùng từ trái nghĩa với từ được giải thích
B. Dùng từ đồng nghĩa với từ được giải thích
C. Trình bày khái niệm mà từ biểu thị
D. Miêu tả hành động kết hợp với trình bày khái niệm mà từ biểu thị
Câu 3: Học lỏm có nghĩa là:
A. Nghe hoặc thấy người ta làm rồi làm theo, chứ không được ai trực tiếp dạy bảo
B. Học và luyện tập để có hiểu biết và có kỹ năng
C. Học văn hóa có thầy, có chương trình, có hướng dẫn (nói một cách khái quát)
D. Tìm tòi, hỏi han để học tập
b. Ngôn ngữ nói
Câu 4: Hạn chế của ngôn ngữ nói là:
A. Người nói và người nghe khó hiểu ý nhau
B. Khó phổ biến rộng và lưu giữ lâu dài
C. Khó khăn trong việc truyền tải
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 5: Người nói có thể sử dụng:
A. Yếu tố chêm xen
B. Những từ biểu cảm như trợ từ, thán từ
C. Câu rút gọn, câu đặc biệt.
D. Tất cả các đáp án trê
c. Cách trích dẫn và lập danh mục tài liệu tham khảo
Câu 6: Trong tiểu luận hay báo cáo nghiên cứu, việc trích dẫn có tác dụng gì?
A. Giúp đảm bảo độ tin cậy, sự minh bạch
B. Tránh tình trạng đạo văn
C. Cho phép người đọc theo dõi và tìm được nguồn trích dẫn.
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 7: Danh mục tài liệu tham khảo thường đặt ở:
A. Đầu bài báo cáo
B. Giữa bài báo cáo
C. Cuối bài báo cáo
D. Có thể đặt bất kì đâu
d. Ngôn ngữ viết
Câu 8: Đặc điểm của ngôn ngữ viết là gì?
A. Được thể hiện qua chữ viết trong văn bản, hình thành một cách có chọn lọc kĩ càng, có suy nghĩ và căn chỉnh một cách cẩn thận
B. Được thể hiện qua hình vẽ, màu sắc, bố cục
C. Được thể hiện qua lời nói, truyền miệng từ người này sang người kia
D. Đáp án khá
Câu 9: Ngôn ngữ viết thường là ngôn ngữ:
A. Dùng để trao đổi giữa hai người với nhau
B. Không trau chuốt, hoàn chỉnh
C. Được trau chuốt, hoàn chỉnh
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 10: Trong những trường hợp sau, trường hợp nào mang đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ viết?
A. Bài báo ghi lại cuộc đàm thoại
B. Biên bản ghi lại những lời phát biểu trong cuộc họp
C. Lời thuyết trình theo một văn bản chuẩn bị trước
D. Đoạn đối thoại của các nhân vật trong tác phẩm văn học
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận
Đề 1: Thuyết minh về một lễ hội em được tham gia hoặc biết đến (trong bài có sử dụng kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm)
Đề 2: Em hãy viết bài thuyết minh giới thiệu một số phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam (trong bài có sử dụng kết hợp yếu tố miêu tả và biểu cảm)
b. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về vấn đề chảy máu chất xám
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về tệ nạn cờ bạc
Đề 4: Nêu ý kiến của em về vấn đề an toàn giao thông hiện nay
c. Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội
Đề 1: Nghiên cứu về cấu trúc Hoàng thành Thăng Long
Đề 2: Nghiên cứu về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình hiện nay
d. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học (kịch bản văn học) hoặc tác phẩm nghệ thuật (bộ phim)
Đề 1: Viết bài nghị luận về ý nghĩa thực sự của cái đẹp thông qua văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
Đề 2: Viết bài nghị luận về văn bản Sống hay không sống, đó là vấn đề
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
22 |
23 |
24 |
25 |
|
D |
D |
A |
D |
B |
A |
D |
D |
C |
D |
D |
C |
D |
B |
C |
B |
C |
B |
D |
D |
C |
D |
D |
B |
D |
2. Phần tiếng Việt
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
|
B |
C |
A |
B |
D |
D |
C |
A |
C |
C |
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản thuyết minh có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận
Đề 1: Thuyết minh về một lễ hội em được tham gia hoặc biết đến
I. Mở bài
Giới thiệu lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại.
II. Thân bài:
Giới thiệu những đặc điểm của lễ hội theo kết cấu thời gian kết hợp với kết cấu logic.
– Trình bày thời gian tổ chức lễ hội, địa điểm, nguồn gốc lễ hội:
Thời gian cụ thể (thời gian ấy gắn với ý nghĩa lịch sử như thế nào).
Địa điểm tổ chức lễ hội.
Nguồn gốc, lí do tổ chức lễ hội (tôn vinh nét đẹp phong tục truyền thống hay thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại).
– Giới thiệu các công việc chuẩn bị cho lễ hội:
Chuẩn bị các tiết mục biểu diễn.
Chuẩn bị trang trí, tiến trình lễ hội (nếu là lễ hội truyền thống thì chuẩn bị cho việc rước kiệu, trang trí kiệu, chọn người,…).
Chuẩn bị về địa điểm…
– Giới thiệu diễn biến của lễ hội theo trình tự thời gian. Thường lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội.
Nếu là lễ hội tôn vinh nét đẹp phong tục truyền thống thì bao gồm: rước kiệu lễ Phật, dâng hương lễ vật, các hình thức diễn xướng dân gian, các đoàn khách thập phương.
Nếu là lễ hội thể hiện khí thế của thời đại: tuyên bố lí do; các đại biểu nêu ý nghĩa, cảm tưởng về lễ hội, các hoạt động biểu diễn (như đồng diễn, diễu hành, ca nhạc, các trò vui chơi,…)
– Đánh giá về ý nghĩa lễ hội.
III. Kết bài:
Khẳng định lại ý nghĩa lễ hội.
Chú ý: bài văn viết đúng với phong cách của văn thuyết minh, có thể kết hợp thêm các yếu tố miêu tả (đặc điểm, tiến trình của lễ hội), biểu cảm (nêu cảm nhận về ý nghĩa của lễ hội); trình bày sạch đẹp, logic.
Đề 2: Em hãy viết bài thuyết minh giới thiệu một số phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam
a. Mở bài:
Dẫn dắt và giới thiệu về vẻ đẹp phẩm chất của con người Việt Nam.
b. Thân bài:
- Nêu một số phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam như chăm chỉ, sáng tạo, yêu nước, thủy chung,…
- Phân tích các phẩm chất ấy dựa trên các ví dụ, dẫn chứng cụ thể trong đời sống hằng ngày, trong học tập, lao động và chiến đấu.
- Phân tích, lí giải nguồn gốc của các phẩm chất đáng quý ấy.
- Phát biểu suy nghĩ, cảm nhận về những phẩm chất của con người Việt Nam.
c. Kết bài:
Khái quát lại về vai trò, ý nghĩa của những phẩm chất cao đẹp trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
b. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về vấn đề chảy máu chất xám
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: hiện tượng chảy máu chất xám. (Học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực).
2. Thân bài
a. Giải thích
Hiện tượng chảy máu chất xám: là cách gọi ẩn dụ để chỉ tình trạng nhân tài, trí thức – “chất xám” Việt Nam đang có xu hướng định cư và làm việc, phục vụ hoàn toàn cho lợi ích của nước ngoài thay vì cống hiến cho dân tộc.
b. Thực trạng
Nhiều người tài giỏi sau khi du học ở nước ngoài đã quyết định định cư luôn tại quốc gia đó và làm việc, tạo ra của cải, vật chất cho đất nước họ trong khi đất nước mình đang cần, “thèm khát” những nhân tài.
Một ví dụ điển hình phải kể đến đó là chương trình Đường lên đỉnh Olympia, đa số những quán quân sau khi qua nước ngoài du học đều chọn ở lại nước ngoài định cư và làm việc,…
c. Nguyên nhân
Chủ quan: do ý thức con người muốn sống trong một môi trường tốt hơn, đầy đủ tiện nghi hơn,…
Khách quan: do cơ sở vật chất nước nhà chưa đủ để đáp ứng nhu cầu làm việc, nghiên cứu của con người; chế độ đãi ngộ chưa tương xứng với công sức,…
d. Giải pháp
Trước hết mỗi con người cần có nhận thức đúng đắn, sẵn sàng cống hiến cho nước nhà, bỏ qua những lợi ích cá nhân.
Nhà nước cần có những biện pháp đặc biệt nhằm chiêu mộ nhân tài về nước, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng đạt chuẩn và trả công cho họ một cách xứng đáng.
3. Kết bài
Khái quát lại vấn đề nghị luận: hiện tượng chảy máu chất xám và rút ra bài học cho bản thân.
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về vấn đề ô nhiễm môi trường
1. Mở bài
Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: vấn đề ô nhiễm môi trường.
2. Thân bài
a. Giải thích vấn đề
Ô nhiễm môi trường là hiện trạng môi trường xuất hiện những chất độc, chất hại dẫn đến thay đổi nhanh chóng và gây tác hại xấu đến cuộc sống con người.
b. Thực trạng
Hàng ngày có hàng tấn rác thải được đổ ra biển, các chất độc hại ngày càng tích lũy và ảnh hưởng xấu tới môi sinh và các sinh vật biển. Bên cạnh đó, môi trường nước ngọt cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Môi trường không khí bị ô nhiễm nặng nề do khí thải công nghiệp, khí thải xe cộ và mùi rác thải sinh hoạt của con người.
Diện tích rừng bị chặt phá ngày càng tăng.
c. Nguyên nhân
Chủ quan: Do ý thức kém của con người.
Khách quan: Do hiện tượng cực đoan của xã hội; do sự quản lí của nhà nước hoạt động của các doanh nghiệp trong việc xử lí.
d. Hậu quả
Ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người.
Mất đi các nguồn lợi từ biển: các hải sản, du lịch biển.
Mất cân bằng đa dạng sinh học của môi trường sống.
e. Giải pháp
Mỗi người cần có ý thức bảo vệ môi trường sống quanh mình, thay đổi từ những thói quen nhỏ nhất để khiến cho môi trường được cải thiện tốt hơn.
Nhà nước cần tăng cường sự quản lí cũng như xử phạt nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm làm ô nhiễm môi trường.
Tiến hành áp dụng công nghệ khoa học để giải quyết hiện trạng ô nhiễm nước thải ... hiện nay.
3. Kết bài
Khái quát lại vấn đề cần nghị luận: hiện tượng ô nhiễm môi trường; đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.
Đề 3: Viết bài văn nghị luận về tệ nạn cờ bạc
1. Mở bài
Giới thiệu vấn đề cần nghị luận: tệ nạn cờ bạc.
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách viết mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân mình.
2. Thân bài
a. Khái niệm
Cờ bạc là những may rủi trong tiền bạc, là một cách kiếm tiền ăn may, nhưng không phải kiếm tiền bằng chính công sức, mồ hôi và nước mắt mà chỉ là bằng vận may của mình.
Cờ bạc còn được xem là một trò chơi kích thích, gây nghiện, những ai dính vào tệ nạn này đều bị sức hút của nó mê hoặc.
b. Thực trạng
Cờ bạc được diễn ra dưới nhiều hình thức như: đánh lô, đánh đề, tổ tôm, cá độ đá banh…
Tệ nạn cờ bạc hiện nay diễn ra rất nhiều nơi, nhiều khu vực rất khó kiểm soát. Từ việc chơi những canh bạc nhỏ sẽ dẫn đến những canh bạc lớn.
Những người tham gia thường ở trong những độ tuổi từ thanh thiếu niên đến trung niên, và đặc biệt thường là những người đàn ông, con trai.
Hiện nay, với sự phát triển của Internet, hình thức đánh cờ bạc ngày càng tinh vi hơn, đó là đánh bài bạc qua mạng.
c. Nguyên nhân
Chủ quan: do ý thức của con người chưa cao, chưa hiểu về tác hại của cờ bạc, thậm chí có những người hiểu về tác hại của nó nhưng vẫn tham gia vì để muốn chứng minh bản thân mình hoặc muốn “gỡ lại những gì đã mất”.
Khách quan: do bị người khác lôi kéo, dụ dỗ,…
d. Hậu quả
Gây thiệt hại nặng nề về tiền của khiến nhiều người rơi vào cảnh nợ nần, bần cùng.
Chia rẽ tình cảm gia đình: gia đình phản đối đánh bạc sẽ gây ra xung đột, cãi vã.
Ảnh hưởng đến nhân cách, suy nghĩ, hành động của người tham gia đánh bạc,…
e. Giải pháp
Mỗi cá nhân tự ý thức được tác hại to lớn của cờ bạc và tránh xa chúng.
Gia đình và nhà trường cần xây dựng tư tưởng cho con em mình ngay từ nhỏ.
Nhà nước cần đặt ra nhiều quy định nghiêm khắc hơn.
3. Kết bài
Khẳng định lại tác hại của tệ nạn cờ bạc và rút ra bài học cho bản thân.
Đề 4: Nêu ý kiến của em về vấn đề an toàn giao thông hiện nay
I. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Ngày nay xã hội phát triển thì nhu cầu về cơ sở vật chất của con người ngày càng tăng. Đối với chuyện đi lại cũng thế, ngày nay nhu cầu đi lại ngày càng nhiều. Chính vì thế mà tình trạng gia thông ngày nay khá phức tạp. Để hiểu rõ thêm về an toàn giao thông chúng ta cùng đi tìm hiểu và nhận thức đối với học sinh ta nên làm gì để hiểu rõ hơn về an toàn giao thông.
II. Thân bài
1. Thực trạng về an toàn giao thông hiện nay
Tình trạng tai nạn giao thông xảy ra ở nước ta ngày càng phổ biến. Theo Cục CSGT, năm 2016 thì:
Cả nước xảy ra hơn 21.000 vụ tai nạn giao thông
Cướp đi sinh mạng gần 9.000 người.
Cùng nhiều thiệt hại về tài sản khác
2. Nguyên nhân dẫn đến tai nạn giao thông
- Do người tham gia giao thông không chấp hành đúng luật giao thông.
- Những người điều khiển phương tiện giao thông không nắm được luật giao thông.
- Sự thiếu ý thức, thiếu trách nhiệm của người tham gia giao thông như: lạng lách, đua xe, đi xe không đúng tốc độ, không đúng làn đường quy định.
- Say xỉn khi tham gia giao thông.
- Những người đi bộ, người bán hàng rong đi không đúng đường quy định
- Lỗi do phương tiện giao thông yếu kém.
- Những phương tiện giao thông đã quá cũ kĩ không thể tiếp tục tham gia giao thông.
- Lỗi do cơ sở hạ tầng yếu kém: giao thông có những ổ voi, ổ gà, đường quá chật,….
3. Hậu quả:
Nhiều người thiệt mạng.
Mất mát về tiền của, vật chất của con người.
Ùn tắc giao thông, mất trật tự xã hội.
4. Giải pháp giảm thiểu tai nạn giao thông
Đưa ra những biện pháp tuyên truyền, giáo dục nâng cao ý thức tham gia giao thông của người tham gia giao thông.
Đưa ra những chính sách phù hợp nhằm mang tính chất răn đe phòng ngừa những người tham gia giao thông để họ có thể tham gia giao thông an toàn.
Làm tốt hơn nữa việc kiểm tra chất lượng cũng như khắc phục cơ sở hạ tầng giao thông.
III. Kết bài:
- Nêu cảm nghĩ của cá nhân em về tai nạn giao thông
c. Viết báo cáo nghiên cứu về một vấn đề tự nhiên hoặc xã hội
Đề 1: Nghiên cứu về cấu trúc Hoàng thành Thăng Long
Kiến trúc kinh thành, cố đô phong kiến ở Việt Nam luôn mang theo cái gì đó rất chung và rất riêng với văn hóa kiến trúc của Trung Hoa và nó luôn thể hiện nét đẹp truyền thống, văn hóa lịch sử lâu đời của người Việt. Bên cạnh quần thể kiến trúc Cố đô Huế từ xưa, người Việt vẫn luôn tự hào với kiến trúc thành Thăng Long – tòa thành đã trải qua biết bao năm tháng của lịch sử.
Như chúng ta đã biết, kinh thành Thăng Long luôn được gắn với một sự kiện lịch sử nổi tiếng đó là vào năm 1010, vua Lý Thái Tổ đã dời đô từ Hoa Lư đến Đại La và cho xây dựng kinh thành Thăng Long. Cùng với đó là hàng loạt các cung điện, lăng tẩm được xây dựng, nổi bật là công trình Điện Kính Thiên cao tới 2 tầng rộng hơn 2300 mét vuông. Thời Hậu Lê, thành Thăng Long vẫn được coi là kinh đô, trung tâm kinh tế, chính trị của cả nước.
Về vị trí, kinh thành Thăng Long tọa lạc ở phía Bắc Việt Nam và được giảm dần về diện tích qua các triều đại. Ở thời Hậu Lê, hầu như không xây dựng thêm các chùa tháp mà chủ yếu là trùng tu. Thay vào đó, hàng loạt phủ đệ mới của giới quý tộc, quan lại trung ương được xây dựng, tạo ra hình ảnh một kinh thành Thăng Long đầy quyền uy, thâm nghiêm.
Về kiến trúc, trải qua thời gian và những biến cố của lịch sử, thành Thăng Long đã có nhiều thay đổi, biến dạng, nhưng đến nay vẫn còn thấy được cả di tích trên mặt đất, dưới lòng đất, di tích lịch sử cách mạng, di tích khảo cổ, di tích kiến trúc nghệ thuật,… tạo thành hệ thống các di tích được đánh giá là quan trọng bậc nhất trong hệ thống các di tích đô thị cổ, trung, cận, hiện đại của nước ta. Hiện tại, trong khu vực trung tâm Thành cổ Thăng Long - Hà Nội còn lại 5 điểm di tích nổi trên mặt đất phân bố theo trục Bắc – Nam, còn gọi là “Trục chính tâm”, “Trục ngự đạo”, gồm có: Kỳ Đài, Đoan Môn, nền điện Kính Thiên, Hậu Lâu, Bắc Môn, tường bao và kiến trúc cổng hành cung thời Nguyễn, di tích nhà và hầm D67, các công trình kiến trúc Pháp…
Kinh thành Thăng Long từ thời Lý được xây dựng theo cấu trúc ba vòng thành, gọi là “tam trùng thành quách”: vòng thành ngoài là La thành hay Đại La thành, vòng thành giữa là Hoàng thành (thời Lý - Trần - Lê gọi là Thăng Long thành, thời Lê còn gọi là Hoàng thành) và vòng thành trong cùng gọi là Cấm thành (hay Cung thành). Cấm thành từ thế kỷ 11 đến thế kỷ 18 hầu như không thay đổi và còn bảo tồn cho đến nay hai vật chuẩn rất quan trọng: Thứ nhất là nền điện Kính Thiên xây dựng thời Lê sơ (1428) trên nền điện Càn Nguyên (sau đổi tên là điện Thiên An) thời Lý, Trần. Đó vốn là vị trí của núi Nùng (Long Đỗ - Rốn Rồng), được coi là tâm điểm của Cấm thành và Hoàng thành, nơi chung đúc khí thiêng của non sông đất nước theo quan niệm phong thuỷ cổ truyền, mà di tích hiện còn là nền điện với bậc thềm và lan can đá chạm rồng thế kỷ 15. Thứ hai là cửa Đoan Môn, cửa Nam của Cấm thành thời Lý - Trần - Lê. Trên vị trí này hiện nay vẫn còn di tích cửa Đoan Môn thời Lê.
Phương Đình Nguyễn Văn Siêu (1799-1872), trong sách Đại Việt địa dư chí toàn biên có đoạn mô tả khá rõ ràng về Hoàng thành Thăng Long thời Lê: “Ở giữa là Cung thành, trong cửa Cung thành là Đoan Môn. Trong Đoan Môn là điện Thị Triều, trong điện Thị Triều là điện Kính Thiên. Bên hữu Kính Thiên là điện Chí Kính, bên tả là điện Vạn Thọ. Bên hữu Đoan Môn là Tây Trường An, bên tả là Đông Trường An, ở giữa có Ngọc Giản. Trong Hoàng thành và ngoài Cung thành ở phía Đông là Thái Miếu, sau là Đông Cung”.
Để giúp thế hệ sau và bạn bè quốc tế hiểu thêm về lịch sử Việt Nam cùng Hoàng thành Thăng Long, đêm tour “Giải mã Hoàng thành Thăng Long” đã được tổ chức thành công. Đây không chỉ là một sự kiện quảng bá văn hóa, du lịch mà nó còn là cách để thế hệ sau tôn vinh, tự hào về lịch sử, văn hóa của dân tộc mình.
Trải qua thăng trầm của lịch sử, chiến tranh, thuộc địa… Kinh thành Thăng Long vẫn nằm đó như một minh chứng trường tồn của lịch sử, về một thời huy hoàng đã qua đi của dân tộc. Chúng ta – thế hệ con cháu phải biết bảo tồn, gìn giữ và phát huy vẻ đẹp của Hoàng thành đến thế hệ tương lai và bạn bè quốc tế.
Tài liệu tham khảo:
1. TTXVN (2010), Thăng Long thời Lê, thời Mạc-Lê, Trung Hưng (1428-1788), Ban Tuyên giáo Trung ương.
2. Sở Du lịch Hà Nội (2020), Khu di tích Hoàng thành Thăng Long, Cổng thông tin điện tử Quận Ba Đình – Thành phố Hà Nội.
3. Quang Dương (2018), Hoàng thành Thăng Long – Dấu ấn văn hóa, kiến trúc độc đáo, Báo Xây dựng.
Đề 2: Nghiên cứu về vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh Hòa Bình hiện nay.
GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC MƯỜNG Ở TỈNH HÒA BÌNH HIỆN NAY
Tóm tắt:
Quá trình hội nhập quốc tế tạo ra nhiều cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng đặt ra những thách thức không nhỏ đối với một quốc gia đa dân tộc như Việt Nam. Trước sự tác động của kinh tế thị trường, của hội nhập quốc tế sâu rộng và giao lưu văn hóa hiện nay, nhiều giá trị văn hóa dân tộc đang dần bị mai một, pha trộn, lai căng không còn giữ được bản sắc. Do vậy, việc khẳng định giá trị văn hóa của các dân tộc là vấn đề cấp bách.
I. Một số vấn đề về bản sắc văn hóa dân tộc, bản sắc văn hóa dân tộc Mường
Để hiểu được khái niệm bản sắc văn hóa dân tộc, trước tiên chúng ta phải tìm hiểu khái niệm văn hóa là gì? Theo Lênin, “Nền văn hóa vô sản không phải từ trên trời rơi xuống, nó không phải do những người tự cho mình là chuyên gia về văn hóa vô sản bịa đặt ra. Văn hóa vô sản phải là sự phát triển hợp quy luật của vốn kiến thức mà loài người đã tạo ra dưới ách áp bức của xã hội tư bản, địa chủ và của xã hội quan liêu”.
Theo định nghĩa của UNESCO: “Văn hóa là tổng thể những nét đặc thù về tinh thần và vật chất, về trí tuệ và xúc cảm quy định tính cách của một xã hội hay một nhóm xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản (tồn tại – being) người, những hệ thống giá trị, những truyền thống và tín ngưỡng”.
Theo Đào Duy Anh trong sách Việt Nam văn hóa sử cương: “Văn hóa tức là sinh hoạt”.
Qua một số nghiên cứu vừa tìm hiểu ở trên, chúng ta có thể đưa ra định nghĩa: “Bản sắc văn hóa dân tộc là tổng thể những giá trị bền vững, những tinh hoa văn hóa vật chất và tinh thần làm nên sắc thái riêng của một dân tộc trong lịch sử trong phát triển mà qua đó chúng ta biết được dân tộc này với dân tộc khác trong đời sống cộng đồng”.
Hòa Bình là một tỉnh miền núi nằm trong vùng Tây Bắc Việt Nam, chính nơi đây các nhà khảo cổ học đã tìm ra những chứng tích của một nền văn hóa. Người Mường còn có những tên gọi khác nhau Mol, Mual, Mon. Bản sắc văn hóa Mường là những nét riêng độc đáo biểu hiện trong các giá trị văn hóa vật chất và tinh thần mà cộng đồng người Mường đã sáng tạo và tích lũy trong lịch sử của mình, những giá trị này được kế thừa và phát triển qua nhiều thế hệ, và cũng được vận động biến đổi cùng với sự vận động biến đổi của văn hóa tộc người gắn liền với sự phát triển chung của văn hóa dân tộc.
II. Thực trạng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Hòa Bình hiện nay
Hòa Bình đã tổ chức những công tác hữu hiệu trong việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở Hòa Bình như Công tác xây dựng đời sống văn hóa; Tổ chức tốt các cuộc vận động xây dựng “Gia đình văn hóa”, “Thôn, bản, khối văn hóa”, “Cơ quan văn hóa”; Công tác tổ chức các hoạt động văn hóa, giao lưu văn hóa.
Kết quả đạt được trong năm 2013 có 1400/1364 làng bản đạt tiêu chuẩn văn hóa, đạt 102,6%; 155000/146838 gia đình đạt tiêu chuẩn văn hóa đạt 105,05%; 570/548 cơ quan đơn vị đạt tiêu chuẩn văn hóa đạt 104%.
III. Tầm quan trọng của việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở nước ta
Nói đến con người Việt Nam, bản sắc văn hóa Việt Nam hoàn toàn không có nghĩa là nói đến một cái gì đó có tính chất khuôn mẫu, cố định. Đây là một khái niệm động, nó không ngừng vận động, phát triển để tự hoàn thiện và nâng cao. Từ đó, mang đến một cái nhìn toàn diện, sáng tạo, bất ngờ cho truyền thống.
Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là giữ gìn tất cả những mặt tích cực trong bản sắc văn hóa dân tộc; khắc phục, loại bỏ những hủ tục; phát huy những yếu tố tích cực, tốt đẹp. Vì vậy, việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, trong đó có dân tộc Mường là một việc vô cùng quan trọng và cần thiết trong giai đoạn hiện nay.
Đối với dân tộc Mường nói riêng, việc giữ gìn bản sắc văn hóa nhằm củng cố và phát triển ý thức dân tộc, nâng cao tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc; góp phần tạo nền tảng cho hội nhập hợp tác phát triển bền vững; thực hiện tốt mục tiêu xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
III. Kết luận
Vấn đề giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường ở tỉnh thị trường trong nền kinh tế thị trường hiện nay đòi hỏi nhiều giải pháp tích cực, liên quan đến đời sống văn hóa của nhân dân và dân tộc. Trong đó, vai trò của nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ người Mường hãy tiếp nối, giữ gìn và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp đó.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, tr.13.
2. Vương Anh (2003), Tiếp cận với văn hóa bản Mường, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
3. Huy Cận (1994), Suy nghĩ về bản sắc văn hóa dân tộc, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
d. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học (kịch bản văn học) hoặc tác phẩm nghệ thuật (bộ phim)
Đề 1: Viết bài nghị luận về ý nghĩa thực sự của cái đẹp thông qua văn bản Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
1. Mở bài:
- Giới thiệu vở kịch “Vũ Như Tô” của Nguyễn Huy Tưởng.
- Giới thiệu nhân vật Vũ Như Tô - nhân vật của bi kịch.
2. Thân bài:
a. Giải thích nhân vật bi kịch:
- Bi kịch là một thể loại kịch thể hiện mối xung đột không điều hoà được giữa thiện và ác, cao cả và thấp hèn, lí tưởng và thực tại,… để dẫn đến kết thúc thường là cái chết bi thảm gây cảm xúc đau thương mãnh liệt cho người đọc, người xem.
- Nhân vật bi kịch: Nhân vật mắc vào những mâu thuẫn, nghịch cảnh oan trái, éo le dẫn tới những kết cục bi đát, đau thương.
b. Bi kịch của Vũ Như Tô:
* Biểu hiện:
- Vũ Như Tô có tài, có ước vọng cao cả, niềm khát khao và đam mê sáng tạo cái đẹp. Vũ Như Tô nhận xây Cửu Trùng Đài không ngoài mục đích sáng tạo một công trình nghệ thuật để tô điểm cho đất nước.
- Nhưng thực tế phũ phàng, ngang trái của xã hội đã dẫn đến sự vỡ mộng thê thảm: Cửu Trùng đài bị đốt, Vũ Như Tô và Đan Thiềm bị đưa ra pháp trường chịu chết.
- Tâm trạng vỡ mộng của Vũ Như Tô qua đoạn trích:
+ Trong thời khắc biến loạn dữ dội, Vũ Như Tô vẫn không tỉnh, vẫn say sưa với giấc mơ Cửu Trùng Đài (phân tích).
+ Chỉ đến khi tận mắt chứng kiến Cửu Trùng Đài bị đốt phá, Vũ Như Tô mới đau đớn kinh hoàng nhận ra sự vỡ mộng lớn.
* Nguyên nhân bi kịch:
- Mâu thuẫn giữa khát vọng cao cả của người nghệ sĩ với cách thực hiện khát vọng ấy: Mục đích của Vũ Như Tô là chân chính những con đường thực hiện lại sai lầm khi ông lợi dụng quyền lực của bạo chúa để thực hiện khát vọng nghệ thuật.
- Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu thuần tuý của muôn đời với lợi ích thiết thực, trực tiếp của quần chúng nhân dân:
+ Niềm khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ đắm chìm trong mơ mộng đã đẩy Vũ Như Tô đến vị thế đối nghịch với nhân dân.
+ Hoàn cảnh xã hội chưa cho phép người nghệ sĩ thực hiện khát khao sáng tạo cái đẹp của mình. Trong hoàn cảnh không thích hợp, cái đẹp thành ra phù phiếm, cao siêu.
* Ý nghĩa của bi kịch Vũ Như Tô
- Thương cảm người nghệ sĩ có tài, có tâm, đam mê nghệ thuật, khao khát sáng tạo, sẵn sàng hi sinh tất cả cho cái đẹp, nhưng xa rời thực tế mà phải trả giá bằng sinh mệnh và cả công trình nghệ thuật của mình.
- Cái đẹp không thể tách rời cái thiện, người nghệ sĩ phải có hoài bão lớn, có khát vọng sáng tạo những công trình vĩ đại nhưng không thể đặt nghệ thuật xa rời với cuộc sống của nhân dân.
- Xã hội phải biết tạo điều kiện sáng tạo cho các tài năng, vun đắp tài năng, quý trọng, nâng niu những sản phẩm đích thực.
3. Kết bài:
Qua bi kịch của nhân vật Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng gợi những suy tư sâu sắc về mối quan hệ giữa người nghệ sĩ với hoạt động sáng tạo nghệ thuật và hiện thực đời sống của nhân dân.
Đề 2: Viết bài nghị luận về văn bản Sống hay không sống, đó là vấn đề
Đoạn trích "Sống hay không sống? Đó là vấn đề" thể hiện sự sâu sắc của tác giả không chỉ trong việc khám phá chủ đề và tư tưởng của tác phẩm mà còn trong việc đặt ra những câu hỏi quan trọng về bản chất của cuộc sống. Nó mở ra một không gian suy tư về sự tồn tại, những trăn trở, lo âu mà con người thường phải đối mặt trong cuộc sống với mọi khó khăn, nguy hiểm và thách thức.
Ví dụ cụ thể có thể được tìm thấy trong việc khám phá tâm trí của nhân vật chính Hamlet. Hành động và suy nghĩ của anh ta không chỉ đơn thuần là một phản ứng đối với tình hình xung quanh mà còn là sự thể hiện của sự suy ngẫm sâu xa về ý nghĩa thực sự của cuộc sống.
Nhờ tài năng điêu luyện của Shakespeare, các tác phẩm của ông không chỉ đơn thuần là những câu chuyện mà còn là những tác phẩm nghệ thuật đích thực. Ông biết cách xây dựng những nhân vật sống động, phong phú với những tính cách đa dạng, từ đó tạo nên những tình huống kịch tính và hấp dẫn.
Một ví dụ điển hình là nhân vật Hamlet. Tâm trạng bi ai, những mưu mẹo tinh vi, và sự đau khổ tinh tế của anh ta được thể hiện qua từng từ ngữ, từng hành động. Cách mà Hamlet tương tác với các nhân vật khác trong tác phẩm tạo nên một bức tranh phức tạp về tâm hồn và tình cảm của anh ta.
Những tác phẩm kịch của Shakespeare không chỉ đơn thuần là một phần của quá khứ, mà còn là những tác phẩm vĩ đại còn sống động và ảnh hưởng đến ngày nay và trong tương lai.
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 1
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
TỜ HOA
(Nguyễn Tuân)
Tại một công trường làm đường Tây Bắc, 1966
Tôi nhìn ra cái tàu lăn nghiến đá mặt đường mới, nhìn ra những kíp thợ xây dựng mở đường, nhìn ra một tổ ong của anh chị em làm đường vừa mang được ong chúa về. Cửa sổ buồng tôi viết, lúc nào cũng nhộn nhịp cánh tay người và những cánh ong quen dần với tổ mới. Ong bay trên trang sổ tay tôi. Ong tua tròn trên trang giấy chữ nhật trắng, như là tàu bay đảo nhiều vòng chờ lệnh hạ cánh xuống. Buồng bên có người bị ong đốt. Bởi vì người đó hoảng hốt vừa giết ong một cách không cần thiết, và ngửi thấy mùi máu, bọn ong cùng tổ liền xông tới đốt. Rồi ong cũng lăn ra chết, tinh hồn xuất theo luôn với nọc đốt. Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. Anh cán bộ địa chất liền cho tôi mượn một số tạp chí khoa học có mấy trang về nuôi ong. Giờ tôi mới biết rằng đó là một thế giới đầy sinh thú. Đời sống con ong để lại cho người đọc nó một bài học về kiên nhẫn, về cần lao, về tích lũy, chế tạo và sáng tạo. Người ta đã đánh dấu con ong, theo dõi nó, và thấy rằng cái giọt mật làm ra đó, là kết quả của 2.700.000 chuyến (bay) đi, đi từ tổ nó đến khắp các nơi có hoa quanh vùng. Và trong một nửa lít mật ong đóng chai, phân chất ra được 5 vạn thứ hoa. Tính ra thành bước chân người thì tổng cộng đường bay của con ong đó là 8.000.000 cây số.
Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. Sự tích lũy ở mình cũng ngày ngày có giọt ra mà phần nào đem thơm thảo vào sự sống. Đối hoa xuân lắng ong mật mà thêm ngẫm tới đàn bướm tốt mã chấp chới bay, lộng lẫy những sắc phấn của sáo ngữ ồn ào. Bướm phù phiếm cũng bay vào hoa, nhưng cặp cánh hào nhoáng cũng chẳng để lại gì. Từ ngày có lịch sử tiến hóa của loài người, chưa ai dám nói đến mật bướm.
Người ta hay nhắc đến mang nặng đẻ đau. Có những quá trình không phải hoài thai, không đẻ gì (theo nghĩa hẹp và theo nghĩa đen sinh học) nhưng rất khó đau và nặng nhọc đèo bòng. Ngọc trai nguyên chỉ là một hạt cát, một hạt bụi biến xâm lăng vào vỏ trai, lòng trai. Cái bụi bặm khách quan nơi ron bế lẻn vào cửa trai. Trai xót lòng. Máu trai liền tiết ra một thứ nước rãi bọc lấy cải hạt buốt sắc. Có những cơ thể trai đã chết ngay vì hạt cát từ đâu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình (và vì trai chết nên cát bụi kia vẫn chỉ là hạt cát). Nhưng có những cơ thể trai vẫn sống, sống lấy máu lấy rãi mình ra mà bao phủ lấy hạt đau hạt xót. Tới một thời gian nào đó, hạt cát khối tình con, cộng với nước mắt hạch trai, đã trở thành lõi sáng của một hạt ngọc tròn trăn ánh ngời (…)
(Báo Văn Nghệ số 143 - Tết Bính Ngọ)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
A. Tản văn
B. Tùy bút
C. Kí
D. Truyện kí
Câu 2. Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt nào khác?
A. Tự sự và miêu tả
B. Tự sự và nghị luận
C. Miêu tả và thuyết minh
D. Tự sự và thuyết minh
Câu 3. Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến điều gì?
A. Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo
B. Bài học về sự may mắn
C. Bài học về sự nỗ lực không ngừng nghỉ
D. Bài học về sự chế tạo và sáng tạo
Câu 4. Đâu không phải là biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong câu sau?
Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì.
A. So sánh
B. Điệp từ
C. Ẩn dụ
D. Liệt kê
Câu 5. Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm điều gì?
A. Quá trình sáng tạo và thành công phải đến từ sự đau đớn
B. Quá trình sáng tạo và thành công cần đến rất nhiều khó khăn
C. Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm.
D. Quá trình sáng tạo và thành công không dễ dành với bất kì ai
Câu 6. Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn sau là gì?
Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời.
A. Nhân hóa và so sánh
B. Nhân hóa và ẩn dụ
C. So sánh và ẩn dụ
D. Nhân hóa và ẩn dụ
Câu 7. Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật nào trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân?
A. Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư
B. Kho từ ngữ phong phú, giàu có
C. Sự chiêm nghiệm lớn về cuộc đời
D. Sự quan sát tinh tế các sự vật, hiện tượng xung quanh
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. “Tôi nhìn…”, “Giờ tôi mới biết rằng…”, “cái tôi thấy say say…”
Qua các cụm từ trên anh/chị hiểu gì về cái “tôi” trong thể loại tùy bút?
Câu 9. Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để nói về hạt ngọc trai? Tác dụng nghệ thuật của chuỗi từ ngữ đó?
Câu 10. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày quan điểm của em về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được.
II. VIẾT (4,0 điểm)
Hãy viết một bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến: “Cuộc sống của ta là thiên đường hay địa ngục, phải chăng điều đó phụ thuộc phần lớn vào chính bản thân ta?”
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
B |
A |
C |
C |
A |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Văn bản trên thuộc thể loại gì? A. Tản văn B. Tùy bút C. Kí D. Truyện kí |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể loại.
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại: Tùy bút .
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt nào khác? A. Tự sự và miêu tả B. Tự sự và nghị luận C. Miêu tả và thuyết minh D. Tự sự và thuyết minh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt: Tự sự và nghị luận
→ Đáp án: B
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến điều gì? A. Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo B. Bài học về sự may mắn C. Bài học về sự nỗ lực không ngừng nghỉ D. Bài học về sự chế tạo và sáng tạo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Thông qua câu chuyện về con ong, tác giả muốn nói đến: . Bài học về kiên nhẫn, cần lao và tích lũy, chế tạo và sáng tạo.
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Đâu không phải là biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong câu sau? Giữa rừng Tây Bắc đầy hoa, đầy bướm, đầy ong, cái tôi thấy say say trong chính mình là dầu không được một chuyến đi bằng một đời ong, mình cũng là một con sinh vật đang nung một thứ mật gì. A. So sánh B. Điệp từ C. Ẩn dụ D. Liệt kê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định biện pháp tu từ.
Lời giải chi tiết:
Biện pháp tu từ không được nhà văn sử dụng trong câu trên là: Ẩn dụ.
→ Đáp án C
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm điều gì? A. Quá trình sáng tạo và thành công phải đến từ sự đau đớn B. Quá trình sáng tạo và thành công cần đến rất nhiều khó khăn C. Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm. D. Quá trình sáng tạo và thành công không dễ dành với bất kì ai |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Qua câu chuyện của con trai, tác giả muốn gửi gắm: Quá trình sáng tạo và thành công tựa như quá trình hoài thai, cần rất nhiều đau đớn, khó khăn và trải nghiệm.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn sau là gì? Con ong bé cũng như con voi to, vốn tính lành nhưng khiêu khích chúng thì chúng đánh lại ngay, dẫu rằng có phải lấy bổn mạng ra mà trả lời. A. Nhân hóa và so sánh B. Nhân hóa và ẩn dụ C. So sánh và ẩn dụ D. Nhân hóa và ẩn dụ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Phép tu từ được tác giả sử dụng trong câu văn sau là: Nhân hóa và so sánh.
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật nào trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân? A. Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư B. Kho từ ngữ phong phú, giàu có C. Sự chiêm nghiệm lớn về cuộc đời D. Sự quan sát tinh tế các sự vật, hiện tượng xung quanh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Chú ý cách sử dụng từ ngữ của Nguyễn Tuân.
Xác định phong cách nghệ thuật được thể hiện trong văn bản.
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn bản đã tập trung thể hiện rõ đặc điểm nổi bật trong phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân: Sự tài hoa, uyên bác và đậm chất suy tư
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
“Tôi nhìn…”, “Giờ tôi mới biết rằng…”, “cái tôi thấy say say…” Qua các cụm từ trên anh/chị hiểu gì về cái “tôi” trong thể loại tùy bút? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS có thể trả lời dựa trên gợi ý sau:
Qua các cụm từ “Tôi nhìn…”, “Giờ tôi mới biết rằng…”, “cái tôi thấy say say…” ta thấy được cái “tôi” trong thể tùy bút của nhà văn Nguyễn Tuân đó là: Cái tôi thể hiện trực tiếp trong tác phẩm và cái tôi đó có được là từ sự quan sát, trải nghiệm và tưởng tượng của tác giả.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng những từ ngữ nào để nói về hạt ngọc trai? Tác dụng nghệ thuật của chuỗi từ ngữ đó? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- Trong đoạn văn bản trên, tác giả đã sử dụng một chuỗi những từ ngữ phong phú để nói về hạt ngọc trai: hạt cát; một hạt bụi biển xâm lăng vào vở trai, lòng trai; cái bụi bặm khách quan nơi rốn bể lẻn vào cửa trai; cái hạt buốt sắc; hạt cát từ đâu bên ngoài gieo vào giữa lòng mình; hạt đau hạt xót; hạt cát khối tình con; một hạt ngọc tròn trặn ánh ngời.
- Qua đó, người viết vừa tái hiện cụ thể, sinh động mà chân thực quá trình hình thành hạt ngọc trong lòng những con trai nơi đáy đại dương vừa giúp người đọc hình dung quá trình ấy cũng giống như quá trình hoài thai, mang nặng đẻ đau của con người.
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) trình bày quan điểm của em về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được. |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về vấn đề: Không có một thành công nào dễ dàng đạt được.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Thành công được đúc kết qua những trải nghiệm và những lần thất bại, trả giá.
- Con người cần có sự nỗ lực, ý chí vượt lên khó khăn thử thách để đạt được thành công.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Hãy viết một bài văn nghị luận nêu suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến: “Cuộc sống của ta là thiên đường hay địa ngục, phải chăng điều đó phụ thuộc phần lớn vào chính bản thân ta?” |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận nêu suy nghĩ về ý kiến: “Cuộc sống của ta là thiên đường hay địa ngục, phải chăng điều đó phụ thuộc phần lớn vào chính bản thân ta?” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. - Giải thích vấn đề: ý nghĩa của hai từ thiên đường và địa ngục những từ thể hiện thực tê khác nhau của cuộc sống, hiểu được vai trò có tính chất quyết định của cá nhân đối với đời sống của chính mình. - Phân tích, đánh giá vấn đề: mỗi cá nhân cẩn tự xây dựng cho mình một quan niệm sống đúng đắn: biết tạo ra sự cân bằng, hài hoà giữa nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần; nỗ lực vượt lên hoàn cảnh, song cũng cần biết chấp nhận những giới hạn của thực tại; không bi quan, tuyệt vọng khi gặp gian khó, ngược lại biết hướng tới tương lai bằng niềm tin và sự phấn đấu không ngừng… |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 2
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(…)
VŨ NHƯ TÔ - Cảnh ngộ chúng tôi có khác chi cảnh ngộ bà? Có phần khổ nhục hơn nữa. Chế độ thì nghiệt ngã vô lý: nhà không cho làm cao, áo không cho mặc đẹp. Ai xây một kiểu nhà mới khả quan, thì lập tức kết vào tội lộng hành đem chém. Thành thử không ai dám vượt ra khuôn sáo nghìn xưa, nghề kiến trúc đọng lại như một vũng ao tù. Người có tài không được thi thố đành phải tiến về mặt tiểu xảo. Mà nói ngay đến những bọn này nào họ có được yên thân. Họ phải lẩn lút, giấu giếm. Vô phúc mà triều đình biết, thế là gia đình tan nát. Họ bị đóng cũi giải kinh, để làm những công việc nhà vua, thân giam trong nội như một tên trọng phạm, mãi đến khi mắt mờ, tay chậm, họ mới được thải hồi nguyên quán. Triều đình còn không ban cho họ một chút bổng nhờ để mưu sống buổi tàn niên. Cách đối đãi như thế, thì nhân tài nhiều sao được, mà ai chịu luyện tập cho thành tài? Thậm chí người ta nói kẻ có tài đã không giúp cho gia đình, còn là một cái vạ nữa.
ĐAN THIỀM - Thảo nào mà nước ta không có lấy một lâu đài nào ra hồn, khả dĩ sánh với những lâu đài Trung Quốc. Ngay cả Chiêm Thành cũng hơn ta nhiều lắm...
VŨ NHƯ TÔ - Tôi bẩm sinh có khiếu về kiến trúc. Tôi đã học văn, sau bỏ văn tập nghề, nhưng tập thì tập, vẫn lo nơm nớp, chỉ sợ triều đình biết, thì vợ con ở nhà nheo nhóc, mà mình cũng không biết bao giờ được tháo cũi xổ lồng. Vua Hồng Thuận ngày nay càng khinh rẻ chúng tôi, cách đối đãi lại bạc ác. Chẳng qua là cái nợ tài hoa, chứ thực ra theo nghề ở ta lợi chẳng có mà nhục thì nhiều.
ĐAN THIỀM - Chính vì thế mà ông càng đáng trọng.
VŨ NHƯ TÔ - Trọng để làm gì? Tìm danh vọng chúng tôi đã chẳng chọn nghề này. Đời lẩn lút...
ĐAN THIỀM - Vậy thì các ông luyện nghề làm gì, luyện mà không đem ra thi thố?
VŨ NHƯ TÔ - Đó là nỗi khổ tâm của chúng tôi. Biết đa mang là khổ nhục mà không sao bỏ được. Như bóng theo hình. Chúng tôi vẫn chờ dịp.
ĐAN THIỀM - Dịp đấy chứ đâu? Cửu Trùng Đài...
[…]
VŨ NHƯ TÔ - Xây Cửu Trùng Đài cho một tên bạo chúa, một tên thoán nghịch, cho một lũ gái dâm ô? Tôi không thể đem tài ra làm một việc ô uế, muôn năm làm bia miệng cho người đời được.
ĐAN THIỀM - Ông biết một mà không biết hai. Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây. Ông không có tiền, ông không có thể dựng lấy một tòa đài như ý nguyện. Chấp kinh, phải tòng quyền. Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hành cái mộng lớn của ông... Ông khẽ tiếng. Đó là tiểu tiết. Ông cứ xây lấy một tòa đài cao cả. Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ kia rồi mất đi nhưng sự nghiệp của ông còn lại về muôn đời. Dân ta nghìn thu được hãnh diện, không phải thẹn với những cung điện đẹp nước ngoài, thế là đủ. Hậu thế sẽ xét công cho ông, và nhớ ơn ông mãi mãi. Ông hãy nghe tôi làm cho đất Thăng Long này thành nơi kinh kỳ lộng lẫy nhất trần gian.
VŨ NHƯ TÔ - Đa tạ. Bà đã khai cho cái óc u mê này. Thiếu chút nữa, tôi nhỡ cả. Những lời vàng ngọc tôi xin lĩnh giáo. Trời quá yêu nên tôi mới được gặp bà.
ĐAN THIỀM - Tôi cũng may được gặp ông. Xin ông cố đi. Đức vua ngự tới…
(Trích Vũ Như Tô, Nguyễn Huy Tưởng, in trong Tổng tập văn học Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1997)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Những nhân vật nào xuất hiện trong đoạn trích?
A. Vũ Như Tô, Đan Thiềm
B. Vũ Như Tô, Trịnh Duy Sản
C. Đan Thiềm, Nguyễn Vũ
D. Đan Thiềm, Lê Tương Dực
Câu 2. Những lời nói của các nhân vật ở trong đoạn trích được gọi là:
A. Lời tác giả
B. Lời chỉ dẫn sân khấu
C. Lời thoại
D. Lời thuyết minh
Câu 3. Dựa vào đoạn trích, hãy cho biết Vũ Như Tô có tài năng gì?
A. Tài hội họa
B. Tài văn chương
C. Tài võ nghệ
D. Tài kiến trúc
Câu 4. Đan Thiềm muốn Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài nhằm mục đích gì?
A. Phục vụ lợi ích cho Vũ Như Tô
B. Tô điểm cho đất nước
C. Phục vụ lợi ích của nhà vua
D. Phục vụ lợi ích cho nhân dân
Câu 5. Nhân vật Vũ Như Tô hiện lên trong đoạn trích là một con người có tính cách như thế nào?
A. Không khuất phục trước cường quyền
B. Luồn cúi để cầu phú quý
C. Không có chính kiến rõ ràng
D. Bất chấp tất cả vì danh vọng
Câu 6. Từ những lời thoại trong đoạn trích, cho thấy thái độ nào của Vũ Như Tô với giai cấp thống trị đương thời?
A. Kiêng nể, e dè.
B. Căm hận, quyết đấu tranh tiêu diệt
C. Căm phẫn, oán trách.
D. Sợ hãi, luồn cúi.
Câu 7. Đoạn trích trên đã đem đến cho anh/chị cảm nhận được điều gì về nhân vật Đan Thiềm?
A. Là cung nữ có cái nhìn tỉnh táo, thức thời
B.Là cung nữ say mê cái đẹp, trân trọng người tài
C. Là cung nữ có tấm lòng tự hào, tự tôn dân tộc.
D. Là cung nữ có tấm lòng quý trọng người tài, lo nghĩ cho đất nước
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Đoạn trích trên đã thể hiện những đặc sắc gì về nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng?
Câu 9. Anh/chị có đồng tình với lời khuyên của Đan Thiềm: “Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây.” không? Vì sao?
Câu 10. Từ nội dung đoạn trích, anh/chị có suy nghĩ gì về vai trò của người tài đối với đất nước? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. VIẾT (5,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh của bản lĩnh trong cuộc sống.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
A |
C |
D |
B |
C |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Những nhân vật nào xuất hiện trong đoạn trích? A. Vũ Như Tô, Đan Thiềm B. Vũ Như Tô, Trịnh Duy Sản C. Đan Thiềm, Nguyễn Vũ D. Đan Thiềm, Lê Tương Dực |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định các nhân vật trong văn bản.
Lời giải chi tiết:
Những nhân vật nào xuất hiện trong đoạn trích: Vũ Như Tô, Đan Thiềm
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Những lời nói của các nhân vật ở trong đoạn trích được gọi là: A. Lời tác giả B. Lời chỉ dẫn sân khấu C. Lời thoại D. Lời thuyết minh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Những lời nói của các nhân vật ở trong đoạn trích được gọi là: Lời thoại
→ Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Dựa vào đoạn trích, hãy cho biết Vũ Như Tô có tài năng gì? A. Tài hội họa B. Tài văn chương C. Tài võ nghệ D. Tài kiến trúc |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Chú ý từ ngữ miêu tả nhân vật Vũ Như Tô.
Lời giải chi tiết:
Vũ Như Tô có tài năng kiến trúc
→ Đáp án D
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Đan Thiềm muốn Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài nhằm mục đích gì? A. Phục vụ lợi ích cho Vũ Như Tô B. Tô điểm cho đất nước C. Phục vụ lợi ích của nhà vua D. Phục vụ lợi ích cho nhân dân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định mục đích xây Cửu Trùng Đài.
Lời giải chi tiết:
Đan Thiềm muốn Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài nhằm mục đích: Tô điểm cho đất nước
→ Đáp án B
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Nhân vật Vũ Như Tô hiện lên trong đoạn trích là một con người có tính cách như thế nào? A. Không khuất phục trước cường quyền B. Luồn cúi để cầu phú quý C. Không có chính kiến rõ ràng D. Bất chấp tất cả vì danh vọng. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật Vũ Như Tô hiện lên trong đoạn trích là một con người: Không có chính kiến rõ ràng.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Từ những lời thoại trong đoạn trích, cho thấy thái độ nào của Vũ Như Tô với giai cấp thống trị đương thời? A. Kiêng nể, e dè. B. Căm hận, quyết đấu tranh tiêu diệt C. Căm phẫn, oán trách. D. Sợ hãi, luồn cúi. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Từ những lời thoại trong đoạn trích, cho thấy thái độ của Vũ Như Tô với giai cấp thống trị đương thời: Căm phẫn, oán trách.
→ Đáp án C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Đoạn trích trên đã đem đến cho anh/chị cảm nhận được điều gì về nhân vật Đan Thiềm? A. Là cung nữ có cái nhìn tỉnh táo, thức thời B.Là cung nữ say mê cái đẹp, trân trọng người tài C. Là cung nữ có tấm lòng tự hào, tự tôn dân tộc. D. Là cung nữ có tấm lòng quý trọng người tài, lo nghĩ cho đất nước. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật Đan Thiềm: Là cung nữ có tấm lòng quý trọng người tài, lo nghĩ cho đất nước.
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Đoạn trích trên đã thể hiện những đặc sắc gì về nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích trên thể hiện những đặc sắc về nghệ thuật của Nguyễn Huy Tưởng là:
- Ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao
- Dùng ngôn ngữ hành động của nhân vật để khắc họa tính cách, miêu tả tâm trạng, dẫn dắt và đẩy xung đột kịch phát triển.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Anh/chị có đồng tình với lời khuyên của Đan Thiềm: “Ông có tài, tài ấy phải đem cống hiến cho non sông, không nên để mục nát với cỏ cây.” không? Vì sao?
|
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS trình bày quan điểm: đồng tình/không đồng tình/đồng tình một phần.
- Lí giải:
+ Theo hướng đồng tình: Tài năng của mỗi người chỉ được bộc lộ và có ý nghĩa khi phục vụ cho lợi ích chính đáng của bản thân và xã hội.
+ Theo hướng không đồng tình: Vì tài năng của Vũ Như Tô bị lợi dụng để phục vụ cho lợi ích không chính đáng của giai cấp thống trị khi nhân dân đang khổ cực, lầm than.
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Từ nội dung đoạn trích, anh/chị có suy nghĩ gì về vai trò của người tài đối với đất nước? (Viết khoảng 5 – 7 dòng) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về vấn đề: Vai trò của người tài đối với đất nước.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Người tài cần đem tài năng và tâm sức của mình để phục vụ cho lợi ích của nhân dân, của đất nước.
- Người tài phải có chí khí, không khuất phục trước cường quyền.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh của bản lĩnh trong cuộc sống. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về sức mạnh của bản lĩnh trong cuộc sống. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. a. Giải thích: Bản lĩnh là khả năng đương đầu với khó khăn, giải quyết mọi vấn đề của cuộc sống một cách bình tĩnh, thông minh và tỉnh táo. Bên cạnh đó, bản lĩnh còn là lòng dũng cảm, kiên trì, dám nghĩ dám làm dám chịu trách nhiệm... b. Bàn luận: - Với bản thân: + Bản lĩnh giúp bản thân kiên cường vượt qua khó khăn, thử thách để đi đến thành công. + Khẳng định được vị trí của bản thân trong xã hội. + Giữ được nhân cách trong mọi hoàn cảnh. + Đem lại cho người thân, người xung quanh niềm tin tưởng. - Với xã hội: giúp xã hội trở nên tốt đẹp, văn minh. c. Mở rộng: - Phê phán người nhút nhát, không dám thể hiện bản thân, theo đuổi những thứ bản thân mình đề ra, sợ thất bại, sợ vấp ngã... - Bản lĩnh không có nghĩa là liều lĩnh, cố gắng làm những việc mà mình không đủ khả năng nhận thức và ý chí. d. Liên hệ bản thân: - Rèn luyện bản lĩnh, chinh phục thành công - Sống có ích và cống hiến cho xã hội Lưu ý: Học sinh lấy dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 3
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Đọc văn bản sau:
Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ…Phương Tây bây giờ đã đi tới chỗ sâu nhất trong hồn ta. Ta không còn có thể vui cái vui của ngày trước, buồn cái buồn của ngày trước. Đã đành ta chỉ có chừng ấy mối tình như con người muôn nơi và muôn thuở. Nhưng sống trên đất Việt Nam ở đầu thế kỷ hai mươi, những mối tình của ta không khỏi có màu sắc riêng, cái dáng dấp riêng của thời đại. “Các cụ ta ưa những màu đỏ choét; ta lại ưa những màu xanh nhạt…các cụ bâng khuâng vì tiếng trùng đêm khuya; ta nao nao vì tiếng gà lúc đúng ngọ. Nhìn một cô gái xinh xắn ngây thơ, các cụ coi như đã làm một điều tội lỗi; ta thì cho là mát mẻ như đứng trước một cánh đồng xanh. Cái ái tình của các cụ thì chỉ là sự hôn nhân, nhưng đối với ta thì trăm hình muôn trạng: cái tình say đắm, cái tình thoảng qua, cái tình gần gụi, cái tình xa xôi…cái tình trong giây phút, cái tình ngàn thu…”. Mấy câu nói xô bồ, liều lĩnh mà tha thiết của ông Lưu Trọng Lư ở nhà Học hội Qui Nhơn hồi tháng 6 – 1943 đã vạch rõ tâm lý cả lớp thanh niên chúng ta.
Tình chúng ta đã đổi mới, thơ chúng ta cũng phải đổi mới vậy. Cái khát vọng cởi trói cho thi ca chỉ là cái khát vọng nói rõ những điều kín nhiệm – u uất, cái khát vọng được thành thực. Một nỗi khát vọng khẩn thiết đến đau đớn…Đã thế, không thể xem phong trào thơ mới là một chuyện lập dị do một bọn dốt nát bày đặt ra để kiếm chỗ ngồi trong làng thơ. Nó là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại bắt đầu từ hồi nước ta sát nhập đế quốc Pháp và xa hơn nữa, từ hồi Nguyễn Trịnh phân tranh, lúc người Âu mới đến. Cái ngày người lái buôn phương Tây thứ nhất đặt chân lên xứ ta, người ấy đã đem theo cùng với hàng hóa phương Tây, cái mầm sau này sẽ nảy thành thơ mới.
(Trích “Một thời đại trong thi ca” – Hoài Thanh Hoài Chân, NXB VH, tr 17)
* Một thời đại trong thơ ca là bài tiểu luận phê bình mở đầu cuốn thi nhân Việt Nam, cuốn sách tổng kết về phong trào thơ Mới (1930 – 1945)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1: Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản:
A. Phương thức thuyết minh
B. Phương thức nghị luận
C. Phương thức miêu tả
D. Phương thức biểu cảm
Câu 2: Trong văn bản, tác giả chỉ ra nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự ra đời của phong trào thơ mới 1930 – 1945 là gì?
A. Do sở thích của người đời xưa khác người đời nay
B. Do mong muốn làm nên chuyện khác lạ của một số nhà thơ
C. Do sự xâm nhập của văn hóa phương Tây vào đời sống xã hội lúc bấy giờ.
D. Do người phương Tây mang theo rất nhiều hàng hóa vào xứ ta
Câu 3: Xác định chức năng của lời dẫn trong ngoặc kép (phần in đậm):
A. Luận đề
B. Luận điểm
C. Lý lẽ
D. Dẫn chứng
Câu 4: Bài viết sử dụng phương thức biểu đạt nào để hỗ trợ việc trình bày quan điểm của tác giả?
A. Thuyết minh
B. Miêu tả
C. Tự sự
D. Biểu cảm
Câu 5. Hàm ý của câu văn “nó (thơ mới) là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại” là gì?
A. Sự ra đời mang tính ngẫu nhiên của phong trào Thơ mới
B. Sự ra đời mang tính tất yếu của phong trào Thơ mới
C. Sự nhường chỗ của thơ cũ đối với Thơ mới
D. Sự chiến thắng vẻ vang của phong trào Thơ mới.
Câu 6. Cái khát vọng được thành thực của Thơ mới được hiểu như thế nào?
A. Mong muốn được nói lên sự thật
B. Mong muốn nhận được sự đồng tình chấp nhận
C. Mong muốn thay đổi cách thức bộc lộ cảm xúc
D. Mong muốn được giãi bày cảm xúc nội tâm
Câu 7. Đâu là nhận xét không đúng về hiệu quả lập luận của nhà phê bình Hoài Thanh trong văn bản?
A. Chỉ ra quá trình đổi mới của phong trào thơ Mới
B. Giúp người đọc nhận thấy nguyên nhân ra đời của phong trào Thơ mới
C. Cho thấy sự mới mẻ của thơ mới so với thơ cũ
D. Khẳng định Thơ mới là phong trào thơ ca nghiêm túc, tích cực
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8: Nêu giá trị biểu đạt của biện pháp tu từ tương phản trong đoạn văn in đậm?
Câu 9: Nhận xét về nghệ thuật lập luận trong văn bản nghị luận trên của Hoài Thanh?
Câu 10: Có ý kiến cho rằng đổi mới cần làm khác đi so với trước đó. Anh/chị có đồng ý với quan điểm nói trên không? Vì sao?
II. VIẾT (4,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
C |
C |
D |
B |
D |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định phương thức biểu đạt chính được sử dụng trong văn bản: A. Phương thức thuyết minh B. Phương thức nghị luận C. Phương thức miêu tả D. Phương thức biểu cảm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định phương thức biểu đạt chính.
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính: Nghị luận
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Trong văn bản, tác giả chỉ ra nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự ra đời của phong trào thơ mới 1930 – 1945 là gì? A. Do sở thích của người đời xưa khác người đời nay B. Do mong muốn làm nên chuyện khác lạ của một số nhà thơ C. Do sự xâm nhập của văn hóa phương Tây vào đời sống xã hội lúc bấy giờ. D. Do người phương Tây mang theo rất nhiều hàng hóa vào xứ ta. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chỉ ra nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự ra đời của phong trào thơ mới.
Lời giải chi tiết:
Trong văn bản, tác giả chỉ ra nguyên nhân chính yếu dẫn đến sự ra đời của phong trào thơ mới 1930 – 1945 là: Do sự xâm nhập của văn hóa phương Tây vào đời sống xã hội lúc bấy giờ.
→ Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Xác định chức năng của lời dẫn trong ngoặc kép (phần in đậm): A. Luận đề B. Luận điểm C. Lý lẽ D. Dẫn chứng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định chức năng của lời dẫn trong ngoặc kép.
Lời giải chi tiết:
Chức năng của lời dẫn trong ngoặc kép: Lý lẽ
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Bài viết sử dụng phương thức biểu đạt nào để hỗ trợ việc trình bày quan điểm của tác giả? A. Thuyết minh B. Miêu tả C. Tự sự D. Biểu cảm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định các phương thức biểu đạt.
Lời giải chi tiết:
Bài viết sử dụng phương thức biểu đạt biểu cảm để hỗ trợ việc trình bày quan điểm của tác giả.
→ Đáp án D
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Hàm ý của câu văn “nó (thơ mới) là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại” là gì? A. Sự ra đời mang tính ngẫu nhiên của phong trào Thơ mới B. Sự ra đời mang tính tất yếu của phong trào Thơ mới C. Sự nhường chỗ của thơ cũ đối với Thơ mới D. Sự chiến thắng vẻ vang của phong trào Thơ mới. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Hàm ý của câu văn “nó (thơ mới) là kết quả không thể không có của một cuộc biến thiên vĩ đại” là: Sự ra đời mang tính tất yếu của phong trào Thơ mới
→ Đáp án B
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Cái khát vọng được thành thực của Thơ mới được hiểu như thế nào? A. Mong muốn được nói lên sự thật B. Mong muốn nhận được sự đồng tình chấp nhận C. Mong muốn thay đổi cách thức bộc lộ cảm xúc D. Mong muốn được giãi bày cảm xúc nội tâm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Cái khát vọng được thành thực của Thơ mới được hiểu là: Mong muốn được giãi bày cảm xúc nội tâm.
→ Đáp án D
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Đâu là nhận xét không đúng về hiệu quả lập luận của nhà phê bình Hoài Thanh trong văn bản? A. Chỉ ra quá trình đổi mới của phong trào thơ Mới B. Giúp người đọc nhận thấy nguyên nhân ra đời của phong trào Thơ mới C. Cho thấy sự mới mẻ của thơ mới so với thơ cũ D. Khẳng định Thơ mới là phong trào thơ ca nghiêm túc, tích cực |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Nhận xét không đúng về hiệu quả lập luận của nhà phê bình Hoài Thanh trong văn bản: Chỉ ra quá trình đổi mới của phong trào thơ Mới.
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Nêu giá trị biểu đạt của biện pháp tu từ tương phản trong đoạn văn in đậm? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: Tương phản: các cụ ưa >< ta ưa
- Tác dụng:
+ nhấn mạnh sự khác biệt trong quan niệm, lối sống, cảm xúc giữa thời xưa và thời nay
+ Tăng sức thuyết phục cho lập luận về sự thay đổi của thời đại dẫn đến sự ra đời của thơ mới
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Nhận xét về nghệ thuật lập luận trong văn bản nghị luận trên của Hoài Thanh? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Bài viết có nghệ thuật lập luận chặt chẽ; lí lẽ rành mạch; có sự kết hợp các phương thức biểu đạt, giữa tính lý luận và cảm xúc, tạo nên sức thuyết phục cho văn bản.
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Có ý kiến cho rằng đổi mới cần làm khác đi so với trước đó. Anh/chị có đồng ý với quan điểm nói trên không? Vì sao? |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Thí sinh có thể tự do bày tỏ quan điểm của bản thân, miễn là có kiến giải hợp lý. Có thể tham khảo theo hướng sau:
- Nếu đồng tình: Vì bản chất của sự đổi mới là phải thay thế cái cũ nên cần phải làm khác đi so với cái cũ.
- Nếu phản đối: Bất cứ sự đổi mới nào cũng cần có sự kế thừa những gì đã có thì mới có hiệu quả, nên đổi mới không thể phủ nhận triệt để những gì đã có.
- Có thể vừa đồng tình vừa phản đối.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. a. Giải thích: - Tôn trọng là thái độ đánh giá cao, không vi phạm hay xúc phạm người khác. - Sự khác biệt không chỉ là về ngôn ngữ, màu da, tôn giáo mà còn là sự khác nhau trong tính cách, nhận thức, ước mơ, cá tính ở mỗi con người, rộng hơn là sự khác biệt trong phong tục, tập quán, văn hóa của mỗi vùng miền, quốc gia, dân tộc. b. Bàn luận sự cần thiết phải tôn trọng sự khác biệt: - Mỗi người là một cá thể riêng biệt, có suy nghĩ, cách đánh giá, có cá tính riêng. Mỗi vùng miền, mỗi quốc gia, dân tộc có nét đặc sắc riêng về văn hóa. Sự khác biệt có thể làm cho cuộc sống phong phú, ý nghĩa hơn. Tôn trọng sự khác biệt là văn hóa ứng xử cần có của mỗi người, đặc biệt trong xã hội hiện đại ngày nay. - Tôn trọng sự khác biệt giúp con người hòa nhập với cuộc sống, gắn kết những mối quan hệ tốt đẹp. - Tôn trọng sự khác biệt giúp chúng ta có cái nhìn khách quan hơn về cuộc sống, học được cách lắng nghe, đồng cảm, từ đó hoàn thiện bản thân mình hơn. Người biết tôn trọng người khác sẽ được mọi người yêu quý và tôn trọng. - Tôn trọng sự khác biệt sẽ góp phần tạo ra một môi trường sống lành mạnh, tích cực, văn minh, thúc đẩy sự phát triển của mỗi cá nhân, xã hội. - Phê phán thái độ kì thị, phân biệt đối xử, thái độ và hành vi không đúng trước những sự khác biệt. Mặt khác cần thấy rằng sự khác biệt cần hướng đến phát huy giá trị của bản thân và đóng góp cho cộng đồng. c. Liên hệ bản thân, rút ra bài học: - Tôn trọng sự khác biệt, trân trọng sự sáng tạo - Phấn đấu vươn lên ghi dấu ấn của bản thân, cống hiến cho cộng đồng. Lưu ý: Học sinh lấy dẫn chứng làm sáng tỏ vấn đề nghị luận. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 4
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc văn bản sau:
Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng Giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.
Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in ngần và tôi cũng xây mộng ước mơ, nhưng yêu nhất mùa xuân không phải là vì thế.
Mùa xuân của tôi – mùa xuân Bắc Việt, mùa xuân của Hà Nội – là mùa xuân có mưa riêu riêu, gió lành lạnh, có tiếng nhạn kêu trong đêm xanh, có tiếng trống chèo vọng lại từ những thôn xóm xa xa, có câu hát huê tình của cô gái đẹp như thơ mộng...
Người yêu cảnh, vào những lúc trời đất mang mang như vậy, khoác một cái áo lông, ngậm một ống điếu mở cửa đi ra ngoài tự nhiên thấy một cái thú giang hồ êm ái như nhung và không cần uống rượu mạnh cũng như lòng mình say sưa một cái gì đó – có lẽ là sự sống!
Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi làm cho người ta muốn phát điên lên như thế ấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ li ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh.
Cùng với mùa xuân trở lại, tim người ta dường như cũng trẻ hơn ra, và đập mạnh hơn trong những ngày đông tháng giá. Lúc ấy, đường sá không còn lầy lội nữa mà là cái rét ngọt ngào, chớ không còn tê buốt căm căm nữa.
Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thực sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa.
Nhang trầm, đèn nến, và nhất là bầu không khí gia đình đoàn tụ êm đềm, trên kính dưới nhường, trước những bàn thờ Phật, bàn thờ Thánh, bàn thờ tổ tiên làm cho lòng anh ấm lạ ấm lùng, tuy miệng chẳng nói ra nhưng trong lòng thì cảm như có không biết bao nhiêu là hoa mới nở, bướm ra ràng mở hội liên hoan.
Đẹp quá đi, mùa xuân ơi - mùa xuân của Hà Nội thân yêu, của Bắc Việt thương mến. Nhưng tôi yêu mùa xuân nhất là vào khoảng sau ngày rằm tháng giêng, Tết hết mà chưa hết hẳn, đào hơi phai nhưng nhuỵ vẫn còn phong, cỏ không mướt xanh như cuối đông, đầu giêng, nhưng trái lại, lại nức một mùi hương man mác.
Thường thường, vào khoảng đó trời đã hết nồm, mưa xuân bắt đầu thay thế cho mưa phùn, không còn làm cho nền trời đùng đục như màu pha lê mờ. Sáng dậy, nằm dài nhìn ra cửa sổ thấy những vệt xanh tươi hiện ra ở trên trời, mình cảm thấy rạo rực một niềm vui sáng sủa. Trên giàn hoa lí, vài con ong siêng năng đã bay đi kiếm nhị hoa. Chỉ độ tám chín giờ sáng, trên nền trời trong trong có những làn sáng hồng hồng rung động như cánh con ve mới lột.
Ấy là lúc thịt mỡ dưa hành đã hết, người ta bắt đầu trở về bữa cơm giản dị có cà om với thịt thăn điểm những lá tía tô thái nhỏ hay bát canh trứng cua vắt chanh ăn mát như quạt vào lòng. Cánh màn điều treo ở đầu bàn thờ ông vải đã hạ xuống từ hôm “hoá vàng” và các trò vui ngày Tết cũng tạm thời kết thúc để nhường chỗ cho cuộc sống êm đềm thường nhật.
Vũ Bằng, Thương nhớ mười hai, NXB Văn học, Hà Nội, 1993
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Văn bản trên thuộc thể loại gì?
A. Tản văn
B. Tùy bút
C. Kí
D. Truyện kí
Câu 2. Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt nào khác?
A. Tự sự và miêu tả
B. Miêu tả và nghị luận
C. Miêu tả và thuyết minh
D. Tự sự và thuyết minh
Câu 3. Nội dung chính của đoạn văn trên là gì?
A. Bày tỏ cảm xúc yêu mến với mùa xuân của Hà Nội, mùa xuân của Bắc Việt
B. Thuật lại kỉ niệm khó quên về tết Hà Nội
C. Bày tỏ nỗi nhớ Hà Nội
D. Miêu tả không khí mùa xuân Hà Nội
Câu 4. Biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong câu sau là gì?
Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thực sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa.
A. So sánh và nhân hóa
B. So sánh và điệp từ
C. So sánh và ẩn dụ
D. So sánh và liệt kê
Câu 5. Biện pháp lặp cấu trúc được sử dụng trong đoạn sau có tác dụng gì?
Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng Giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân.
A. Khẳng định vẻ đẹp của mùa xuân
B. Khẳng định mùa xuân là mùa của yêu thương và tình yêu
C. Khẳng định ai cũng chuộng mùa xuân, những sự việc hiển nhiên không bao giờ dừng lại cũng như việc không bao giờ có người hết yêu mùa xuân
D. Khẳng định tình cảm của nhà văn với mùa xuân đất trời
Câu 6. Đọc văn bản và chỉ ra khoảng thời gian mà tác giả cảm thấy “yêu mùa xuân nhất”
A. Đầu xuân
B. Tết nguyên Đán
C. Sau rằm tháng giêng
D. Cuối mùa xuân
Câu 7. Cảm xúc chủ đạo của văn bản trên là:
A. Niềm hoài niệm trước những vẻ đẹp truyền thống xưa cũ
B. Tình yêu và nỗi nhớ với tết Hà Nội
C. Tình yêu và nỗi nhớ với Hà Nội mùa xuân
D. Tình yêu và nỗi nhớ với những điều bình dị nhất của mùa xuân của Bắc Việt
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Lựa chọn một biện pháp tu từ trong văn bản trên và phân tích
Câu 9. Chỉ ra những đặc điểm của tản văn xuất hiện trong văn bản
Câu 10. Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) chia sẻ cảm nhận của em về mùa xuân (hoặc Tết) ở địa phương mà em sinh sống
II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết bài văn nghị luận về hình ảnh dưới đây:

Chú thích: Anh hùng Nguyễn Thị Suốt, sinh năm 1906 tại Bảo Ninh, Quảng Bình. Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt, mẹ Nguyễn Thị Suốt đã xung phong làm nhiệm vụ kết nối đường dây liên lạc giữa Đồng Hới với Bảo Ninh. Một mình mẹ đã chèo đò giúp bộ đội qua sông, vận chuyển đạn mặc kệ máy bay càn quét, bắn phá trên đầu. Tượng đài Mẹ Suốt được nhà điêu khắc Phan Đình Tiến thiết kế với chiều cao 7 mét, bao gồm cả bệ. Tượng được tập trung đặc tả hình ảnh người mẹ tay cầm chắc mái chèo, đầu hiên ngang ngẩng cao, vai khoác tấm vải dù bay phấp phới. Một bên dưới chân tượng khắc họa hình ảnh sóng gió bom đạn, một bên là hình ảnh bộ đội, thương binh, thanh niên xung phong, dân công mà Mẹ Suốt đã đưa sang sông. Tượng đài Mẹ Suốt được đặt bên dòng sông Nhật Lệ.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
A |
C |
A |
B |
C |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Văn bản trên thuộc thể loại gì? A. Tản văn B. Tùy bút C. Kí D. Truyện kí |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định thể loại.
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên thuộc thể loại: Tản văn.
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt nào khác? A. Tự sự và miêu tả B. Miêu tả và nghị luận C. Miêu tả và thuyết minh D. Tự sự và thuyết minh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Xác định phương thức biểu đạt.
Lời giải chi tiết:
Bên cạnh yếu tố trữ tình (biểu cảm), văn bản trên có sử dụng thêm phương thức biểu đạt: Miêu tả và thuyết minh
→ Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Nội dung chính của đoạn văn trên là gì? A. Bày tỏ cảm xúc yêu mến với mùa xuân của Hà Nội, mùa xuân của Bắc Việt B. Thuật lại kỉ niệm khó quên về tết Hà Nội C. Bày tỏ nỗi nhớ Hà Nội D. Miêu tả không khí mùa xuân Hà Nội |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính của đoạn văn trên là: Bày tỏ cảm xúc yêu mến với mùa xuân của Hà Nội, mùa xuân của Bắc Việt.
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Biện pháp tu từ được nhà văn sử dụng trong câu sau là gì? Y như những con vật nằm thu hình một nơi trốn rét thấy nắng ấm trở về thì lại bò ra để nhảy nhót kiếm ăn, anh cũng “sống” lại và thèm khát yêu thương thực sự. Ra ngoài trời, thấy ai cũng muốn yêu thương, về đến nhà lại cũng thấy yêu thương nữa. A. So sánh và nhân hóa B. So sánh và điệp từ C. So sánh và ẩn dụ D. So sánh và liệt kê |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định biện pháp tu từ.
Lời giải chi tiết:
Biện pháp tu từ không được nhà văn sử dụng trong câu trên là: So sánh và điệp từ
→ Đáp án: B
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Biện pháp lặp cấu trúc được sử dụng trong đoạn sau có tác dụng gì? Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng Giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân. A. Khẳng định vẻ đẹp của mùa xuân B. Khẳng định mùa xuân là mùa của yêu thương và tình yêu C. Khẳng định ai cũng chuộng mùa xuân, những sự việc hiển nhiên không bao giờ dừng lại cũng như việc không bao giờ có người hết yêu mùa xuân D. Khẳng định tình cảm của nhà văn với mùa xuân đất trời |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định tác dụng của biện pháp lặp cấu trúc.
Lời giải chi tiết:
Tác dụng của biện pháp lặp cấu trúc: Khẳng định ai cũng chuộng mùa xuân, những sự việc hiển nhiên không bao giờ dừng lại cũng như việc không bao giờ có người hết yêu mùa xuân.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Đọc văn bản và chỉ ra khoảng thời gian mà tác giả cảm thấy “yêu mùa xuân nhất” A. Đầu xuân B. Tết nguyên Đán C. Sau rằm tháng giêng D. Cuối mùa xuân |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chỉ ra khoảng thời gian mà tác giả cảm thấy “yêu mùa xuân nhất”
Lời giải chi tiết:
Khoảng thời gian mà tác giả cảm thấy “yêu mùa xuân nhất”: Sau rằm tháng giêng
→ Đáp án C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Cảm xúc chủ đạo của văn bản trên là: A. Niềm hoài niệm trước những vẻ đẹp truyền thống xưa cũ B. Tình yêu và nỗi nhớ với tết Hà Nội C. Tình yêu và nỗi nhớ với Hà Nội mùa xuân D. Tình yêu và nỗi nhớ với những điều bình dị nhất của mùa xuân của Bắc Việt |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định cảm xúc chủ đạo được thể hiện trong văn bản.
Lời giải chi tiết:
Cảm xúc chủ đạo của văn bản trên là: Tình yêu và nỗi nhớ với những điều bình dị nhất của mùa xuân của Bắc Việt .
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Lựa chọn một biện pháp tu từ trong văn bản trên và phân tích |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS có thể lựa chọn các biện pháp sau hoặc có thể có những biện pháp khác miễn sau HS chỉ đúng và có kiến giải phù hợp.
- Điệp cấu trúc: Tự nhiên như thế: ai cũng chuộng mùa xuân. Mà tháng Giêng là tháng đầu của mùa xuân, người ta càng trìu mến, không có gì lạ hết. Ai bảo được non đừng thương nước, bướm đừng thương hoa, trăng đừng thương gió; ai cấm được trai thương gái, ai cấm được mẹ yêu con; ai cấm được cô gái còn son nhớ chồng thì mới hết được người mê luyến mùa xuân. (Ai – cấm/đừng – động từ chỉ cảm xúc yêu, nhớ)
- So sánh: Ấy đấy, cái mùa xuân thần thánh của tôi làm cho người ta muốn phát điên lên như thế ấy. Ngồi yên không chịu được. Nhựa sống ở trong người căng lên như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non của cây cối, nằm im mãi không chịu được, phải trồi ra thành những cái lá nhỏ li ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương đứng cạnh. (Những xúc cảm mạnh mẽ trong tâm hồn khi đón nhận mùa xuân)
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Chỉ ra những đặc điểm của tản văn xuất hiện trong văn bản |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm tản văn trong văn bản:
- Về yếu tố trữ tình: Cảm xúc của nhà văn về mùa xuân Hà Nội và Bắc Việt, bày tỏ niềm yêu thương, nhớ nhung về những điều bình dị nhất. (Cảm xúc yêu, mến được nhắc lại nhiều lần trong văn bản)
- Đan xen yếu tố miêu tả và thuyết minh: Miêu tả những đặc điểm của mùa xuân, thuyết minh thêm về những món ăn, những nét văn hóa đẹp của mùa xuân Bắc Việt (Các đoạn văn miêu tả về không khí, về các món ăn ngon sau rằm tháng giêng, các nghi lễ khác của mùa xuân Bắc Việt)
Lưu ý: Mỗi luận điểm HS đưa thêm các dẫn chứng thuyết phục.
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, hãy viết một đoạn văn (khoảng 5 - 7 câu) chia sẻ cảm nhận của em về mùa xuân (hoặc Tết) ở địa phương mà em sinh sống |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về vấn đề: Mùa xuân (hoặc Tết) ở địa phương mà em sinh sống.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
Học sinh đưa ra suy nghĩ của mình về vấn đề theo dòng cảm xúc của cá nhân đảm bảo yêu cầu:
- Mùa xuân hoặc Tết ở địa phương nào?
- Một số nét đặc sắc: Các lễ hội, phong tục, thú vui ngày tết…
- Cảm nhận chung của em.
Mùa xuân ở Tây Bắc với làn sương khói mờ ảo, ẩn hiện sau đó là ánh hồng của rừng hoa anh đào thơm ngát, màu trắng tinh khiết của hoa mơ, hoa ban, hoa mận. Tất cả hòa quyện với nhau tạo nên cảnh sắc đẹp tuyệt vời, khung cảnh bình yên, giản dị, nên thơ. Đồng bào các dân tộc tại Tây Bắc vô cùng đa dạng, mỗi dân tộc sẽ có một phong tục tập quán riêng biệt tạo nên một bức tranh văn hóa vô cùng đa dạng màu sắc. Không những thế, Tết tại Tây Bắc luôn có những điệu múa, trò chơi dân gian đặc sắc như nhảy sạp, chơi cù, ném pao, bắn nỏ, đua ngựa, chọi trâu, đánh cỏ…Mùa xuân Tây Bắc sẽ mang đến cho bạn khoảng thời gian được trải nghiệm, hòa mình và hiểu hơn về lối sống, tập quán của các dân tộc anh em. Là khoảng thời gian giúp bạn nghỉ ngơi, thư giãn sau những tháng ngày vất vả bon chen vì cuộc sống.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Viết bài văn nghị luận về bức tượng đài Mẹ Suốt. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận về bức tượng đài Mẹ Suốt. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. a. Giới thiệu bức tượng đài Mẹ Suốt: Anh hùng Nguyễn Thị Suốt, sinh năm 1906 tại Bảo Ninh, Quảng Bình. Trong những năm tháng kháng chiến chống Mỹ ác liệt, mẹ Nguyễn Thị Suốt đã xung phong làm nhiệm vụ kết nối đường dây liên lạc giữa Đồng Hới với Bảo Ninh. Một mình mẹ đã chèo đò giúp bộ đội qua sông, vận chuyển đạn mặc kệ máy bay càn quét, bắn phá trên đầu. Tượng đài Mẹ Suốt được nhà điêu khắc Phan Đình Tiến thiết kế với chiều cao 7 mét, bao gồm cả bệ. Tượng được tập trung đặc tả hình ảnh người mẹ tay cầm chắc mái chèo, đầu hiên ngang ngẩng cao, vai khoác tấm vải dù bay phấp phới. Một bên dưới chân tượng khắc họa hình ảnh sóng gió bom đạn, một bên là hình ảnh bộ đội, thương binh, thanh niên xung phong, dân công mà Mẹ Suốt đã đưa sang sông. Tượng đài Mẹ Suốt được đặt bên dòng sông Nhật Lệ. b. Cấu trúc bức tượng: đế tượng đài vững chãi, mô phỏng những luồng sóng nước đang cuộn trào; thân tượng là hình tượng người mẹ già đang chở thuyền, cán chèo làm điểm nhấn; mặt tượng hướng về phía trước thể hiện tâm thế chủ động, phối hợp với thân tượng và đế tượng thể hiện tư thế vững chãi, hieenn ngang. c. Ý nghĩa của tượng đài: tôn vinh Mẹ Suốt – biểu tượng cao đẹp nhất vể Mẹ Việt Nam anh hùng; tưởng nhớ, tri ân thể hệ cha ông có công với đất nước; niểm tự hào dân tộc. d. Đánh giá giá trị của bức tượng đài: Bức tượng đài Mẹ Suốt có giá trị lịch sử, giá trị văn hóa và giá trị nghệ thuật. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
“Sứ giả” đưa cây bèo, cây cói Việt Nam ra thế giới
Đến thăm xã Hùng Tiến, huyện Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, nhiều người không khỏi ngạc nhiên khi được tận mắt chứng kiến sự sáng tạo của những người nghệ nhân, những người phụ nữ làng nghề nơi đây. Từ những vật liệu dân dã, mộc mạc của làng quê như cói, bèo tây (lục bình), mây, tre… qua bàn tay của các bà, các chị đã trở thành những món đồ dùng có tính ứng dụng cao, những sản phẩm thủ công mỹ nghệ được người tiêu dùng yêu thích. Không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước, những mặt hàng mỹ nghệ từ cây bèo, cây cói của vùng bãi ngang ven biển do người dân Kim Sơn làm ra đã chinh phục được nhiều thị trường khó tính như châu Âu, Nhật Bản… vì có tính thẩm mỹ và độ bề cao và thân thiện với môi trường. Nghề đan lát thủ công mỹ nghệ bèo tây đã gải quyết nhu cầu việc làm cho người dân, không chỉ tăng thêm thu nhập, giúp bà con Kim Sơn giảm nghèo bền vững mà đời sống ngày càng khấm khá hơn. Dù nghề truyền thống đang thu hút chủ yếu là lao động nữ cao tuổi tại đại phương, nhưng những người nghệ nhân như bà Vũ Thị Mỹ vẫn luôn lạc quan, bởi bà tin tưởng vào sức sống của nghề quê hương. Bà tâm sự: “thế hệ trẻ, trong đó có con cháu chúng tôi ngày nay thích đi làm việc ở công ti hơn. Nhưng tôi tin rằng, khi đã bay nhảy thỏa sức, ở tuổi về hưu, thì các con, các cháu lại tiếp tục nối nghiệp chúng tôi, quay về làm nghề truyền thống. Chúng cũng như chúng tôi, nghề đã ngấm vào máu từ tấm bé thì sẽ không sợ bị mất nghề.”
Từ lũy tre làng, những món đồ thủ công mỹ nghệ này đã mở ra hướng đi mới cho làng nghề, giúp giữ nghề đan truyền thống của Kim Sơn, tạo công ăn việc làm, thu nhập cho lao động, đặc biệt là phụ nữ trung tuổi, cao tuổi tại địa phương. Họ chính là những “sứ giả” đưa hồn quê Việt vươn ra thế giới.
(Trích từ trang web Cơ quan trung ương của Hội Phụ nữ Việt Nam, ngày 17/5/2023, https://phunuvietnam.vn/su-gia-dua-cay-beo-cay-coi-viet-nam-ra-the gioi- 20230517115102771.htm
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Hãy xác định chủ đề của văn bản?
A. Văn bản nói đến một làng nghề truyền thống.
B. Văn bản đề cập đến ý nghĩa của nghề truyền thống thời hiện đại.
C. Văn bản đề cập đến bà bà Vũ Thị Mỹ - người đã phát triển nghề truyền thống.
D. Văn bản đề cập đến những người đã đưa cây bèo, cây cói ra thế giới và phát triển nghề truyền thống.
Câu 2. Theo lời của bà Mỹ nghề truyền thống ở Kim Sơn đang gặp phải khó khăn nào?
A. Chủ yếu là nông dân, không có tay nghề.
B. Tuổi đã cao nên không còn nhanh nhẹn.
C. Thế hệ trẻ thích đi làm việc ở công ty.
D. Nghề đan khó học, khó làm.
Câu 3. Nguyên nhân nào khiến các sản phẩm từ bèo, cói đã chinh phục được nhiều thị trường khó tính như châu Âu, Nhật Bản?
A. Vì đẹp, xinh xắn.
B. Vì có tính thẩm mỹ và độ bền cao và thân thiện với môi trường.
C. Vì phù hợp với thị hiếu của người bản địa.
D. Vì phù hợp với sở thích của người dân.
Câu 4. Theo tác giả ai là "sứ giả" đưa hồn quê Việt vươn ra thế giới?
A. Phụ nữ trung tuổi, cao tuổi tại Kim Sơn.
B. Những người nông dân tại Kim Sơn.
C. Bà Vũ Thị Mỹ.
D. Các lao động nữ tại địa phương.
Câu 5. Việc đặt nhan đề như văn bản có ý nghĩa gì?
A. Nhấn mạnh vai trò của việc phát triển nghề đan bèo, cói.
B. Nhấn mạnh vài trò của những người đã dùng nghề truyền thống làm kinh tế
C. Nhấn mạnh vài trò của những người đã yêu mến nghề truyền thống.
D. Nhấn mạnh vai trò của những người đã mở ra hướng đi mới cho làng nghề truyền thống.
Câu 6. Việc sử dụng trích dẫn trực tiếp lời của bà Mỹ trong văn bản có tác dụng gì?
A. Nhấn mạnh lời của nhân vật.
B. Tăng tính biểu cảm cho câu văn.
C. Tăng tính thuyết phục, khách quan cho luận điểm.
D. Nhấn mạnh ý nghĩa của việc giữ gì nghề truyền thống.
Câu 7. Ý nào KHÔNG phải là thông điệp của văn bản?
A. Phải có tinh thần sáng tạo, bản lĩnh, tự tin.
B. Phải có tinh thần bất khuất, không chịu cúi đầu.
C. Tinh thần dũng cảm, dám đương đầu với thử thách.
D. Phải yêu và trân trọng những giá trị truyền thống của dân tộc.
Câu 8. Nêu tác dụng của việc kết hợp các yếu tố biểu cảm, miêu tả trong văn bản?
Câu 9. Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả thể hiện trong văn bản?
Câu 10. Em có đồng ý với quan điểm của tác giả khi cho rằng “Họ chính là những"sứ giả" đưa hồn quê Việt vươn ra thế giới” không ? Vì sao ?
II. VIẾT (4.0 điểm)
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được gửi gắm trong những dòng thơ sau:
Đời sống là bờ
Những giấc mơ là biển
Bờ không còn nếu chẳng có khơi xa …
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
A |
C |
B |
A |
D |
C |
B |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Hãy xác định chủ đề của văn bản? A. Văn bản nói đến một làng nghề truyền thống. B. Văn bản đề cập đến ý nghĩa của nghề truyền thống thời hiện đại. C. Văn bản đề cập đến bà bà Vũ Thị Mỹ - người đã phát triển nghề truyền thống. D. Văn bản đề cập đến những người đã đưa cây bèo, cây cói ra thế giới và phát triển nghề truyền thống. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định chủ đề.
Lời giải chi tiết:
Chủ đề của văn bản: Văn bản nói đến một làng nghề truyền thống.
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Theo lời của bà Mỹ nghề truyền thống ở Kim Sơn đang gặp phải khó khăn nào? A. Chủ yếu là nông dân, không có tay nghề. B. Tuổi đã cao nên không còn nhanh nhẹn. C. Thế hệ trẻ thích đi làm việc ở công ty. D. Nghề đan khó học, khó làm. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Xác định những khó khăn ở làng nghề truyền thống.
Lời giải chi tiết:
Theo lời của bà Mỹ nghề truyền thống ở Kim Sơn đang gặp phải khó khăn: . Thế hệ trẻ thích đi làm việc ở công ty.
→ Đáp án: C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Nguyên nhân nào khiến các sản phẩm từ bèo, cói đã chinh phục được nhiều thị trường khó tính như châu Âu, Nhật Bản? A. Vì đẹp, xinh xắn. B. Vì có tính thẩm mỹ và độ bền cao và thân thiện với môi trường. C. Vì phù hợp với thị hiếu của người bản địa. D. Vì phù hợp với sở thích của người dân. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Lời giải chi tiết:
Nguyên nhân khiến các sản phẩm từ bèo, cói đã chinh phục được nhiều thị trường khó tính như châu Âu, Nhật Bản: Vì có tính thẩm mỹ và độ bền cao và thân thiện với môi trường
→ Đáp án B
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Theo tác giả ai là "sứ giả" đưa hồn quê Việt vươn ra thế giới? A. Phụ nữ trung tuổi, cao tuổi tại Kim Sơn. B. Những người nông dân tại Kim Sơn. C. Bà Vũ Thị Mỹ. D. Các lao động nữ tại địa phương. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định “sứ giả" đưa hồn quê Việt vươn ra thế giới.
Lời giải chi tiết:
Theo tác giả "sứ giả" đưa hồn quê Việt vươn ra thế giới là: Phụ nữ trung tuổi, cao tuổi tại Kim Sơn.
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Việc đặt nhan đề như văn bản có ý nghĩa gì? A. Nhấn mạnh vai trò của việc phát triển nghề đan bèo, cói. B. Nhấn mạnh vài trò của những người đã dùng nghề truyền thống làm kinh tế C. Nhấn mạnh vài trò của những người đã yêu mến nghề truyền thống. D. Nhấn mạnh vai trò của những người đã mở ra hướng đi mới cho làng nghề truyền thống. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Việc đặt nhan đề như văn bản có ý nghĩa: Nhấn mạnh vai trò của những người đã mở ra hướng đi mới cho làng nghề truyền thống.
→ Đáp án D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Việc sử dụng trích dẫn trực tiếp lời của bà Mỹ trong văn bản có tác dụng gì? A. Nhấn mạnh lời của nhân vật. B. Tăng tính biểu cảm cho câu văn. C. Tăng tính thuyết phục, khách quan cho luận điểm. D. Nhấn mạnh ý nghĩa của việc giữ gì nghề truyền thống. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định lời dẫn trực tiếp
Từ đó chỉ ra tác dụng.
Lời giải chi tiết:
Việc sử dụng trích dẫn trực tiếp lời của bà Mỹ trong văn bản có tác dụng: Tăng tính thuyết phục, khách quan cho luận điểm.
→ Đáp án C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Ý nào KHÔNG phải là thông điệp của văn bản? A. Phải có tinh thần sáng tạo, bản lĩnh, tự tin. B. Phải có tinh thần bất khuất, không chịu cúi đầu. C. Tinh thần dũng cảm, dám đương đầu với thử thách. D. Phải yêu và trân trọng những giá trị truyền thống của dân tộc. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định thông điệp.
Lời giải chi tiết:
Ý KHÔNG phải là thông điệp của văn bản: Phải có tinh thần bất khuất, không chịu cúi đầu.
→ Đáp án B
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Nêu tác dụng của việc kết hợp các yếu tố biểu cảm, miêu tả trong văn bản? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Tác dụng của việc kết hợp các yếu tố biểu cảm, miêu tả trong văn bản:
- Làm tăng tính hấp dẫn, lôi cuốn cho văn bản.
- Góp phần thể hiện tình cảm, thái độ của tác giả.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Nhận xét về thái độ, tình cảm của tác giả thể hiện trong văn bản? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
-Thái độ, tình cảm: Đồng tình, trân trọng, tự hào, tin tưởng trước những sáng tạo của những người nghệ nhân, phụ nữ ở Kim Sơn
Câu 10: (1.0 điểm)
|
Em có đồng ý với quan điểm của tác giả khi cho rằng “Họ chính là những"sứ giả" đưa hồn quê Việt vươn ra thế giới” không ? Vì sao ? |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS trình bày quan điểm: đồng tình/không đồng tình/đồng tình một phần.
- Lí giải:
+ Theo hướng đồng tình: Chính họ là người khôi phục và phát triển làng nghề truyền thống, từ những vật dụng của quê hương. Sản phẩm của họ được người tiêu dùng nhiều nước biết đến và sử dụng.
+ Theo hướng không đồng tình: “sứ giả” phải là những người nổi tiếng, làm những công việc lớn lao, sản phẩm mang giá trị kinh tế cao…
II. VIẾT (4 điểm)
|
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được gửi gắm trong những dòng thơ sau: Đời sống là bờ Những giấc mơ là biển Bờ không còn nếu chẳng có khơi xa …
|
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được gửi gắm trong những dòng thơ. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
* Giải thích ngắn gọn 3 câu thơ để rút ra thông điệp được gửi gắm: - Bờ luôn là cái nhỏ bé, trong khi biển luôn là cái rộng lớn, bao la. Cũng như vậy, đời sống luôn là cái hạn hẹp, nghèo nàn; trong khi đó giấc mơ- biểu tượng của khát vọng luôn mở ra một thế giới vô cùng rộng lớn và phong phú, hứa hẹn những bí ẩn, những mới lạ, những phiêu lưu kì thú. - Nếu cuộc đời thực là “bờ”, tức là nơi đặt chân an toàn thì giấc mơ là “biển”, là không gian bao la. Nếu không có biển, bờ sẽ không còn lí do để tồn tại. Cũng như vậy, nếu không có những ước mơ, những khát vọng để hướng về những điều tốt đẹp; cuộc đời của con người sẽ trở nên vô vị, mất hết ý nghĩa. => Ba câu thơ khẳng định giá trị, ý nghĩa của ước mơ, khát vọng đối với cuộc sống của con người. * Bàn luận về ý nghĩa của những ước mơ, khát vọng trong cuộc sống: - Ước mơ, khát vọng là biểu hiện tích cực của tâm lý, thể hiện những giá trị tinh thần cao đẹp, thúc đẩy con người nỗ lực phấn đấu, sống lạc quan, luôn hướng đến những điều lớn lao, tốt đẹp cho bản thân và cho cộng đồng. - Con người sống phải có ước mơ, khát vọng thì cuộc sống mới thực sự ý nghĩa. Ước mơ làm cho đời sống tâm hồn con người trở nên phong phú, giúp họ sống tích cực khi có mục tiêu để phấn đấu, là động lực thôi thúc con người hành động, tiếp cho họ sức mạnh vượt qua mọi gian nan, thử thách để đi đến đích cuối cùng. - Ngược lại, sống không có ước mơ, cuộc sống sẽ trở nên tẻ nhạt, nhàm chán, vô vị và vô nghĩa… * Mở rộng, nâng cao: - Có ước mơ là đáng quý, nhưng làm thế nào để biến ước mơ thành hiện thực mới quan trọng. Nó đòi hỏi ở con người không chỉ lòng dũng cảm, dám dấn thân trải nghiệm mà còn cả sự nỗ lực, kiên trì theo đuổi đến cùng. - Cần phân biệt giữa ước mơ cao đẹp và những ảo vọng, tham vọng mù quáng, dục vọng tầm thường; ước mơ phải gắn với khả năng thực hiện, tránh hão huyền, viển vông. - Phê phán những người sống không có ước mơ, hoài bão, đặc biệt ở một bộ phận giới trẻ hiện nay. - Rút ra bài học cho bản thân. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NẠN BUÔN NGƯỜI: TỪ BẪY VIỆC NHẸ LƯƠNG CAO ĐẾN NỘP MÌNH CHO TỘI PHẠM
Ban Thời sự - Thứ bảy, ngày 30/07/2022 11:46 GMT+7
Khoảng 1 triệu người bị mua bán trên thế giới mỗi năm
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhất là các nước Tiểu vùng sông Mekong (trong đó có Việt Nam), tình hình tội phạm mua bán người ngày phức tạp, tinh vi. Tiếp cận, rủ rê, lôi kéo đi du lịch, đi làm thuê thu nhập cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp... nhưng để lừa bán, ép buộc, cưỡng bức lao động. Nhiều đường dây buôn bán người bất hợp pháp liên tục bị triệt phá nhờ sự phối hợp chặt chẽ của cơ quan chức năng của Việt Nam với các cơ quan nước ngoài trong việc giải cứu, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân.
Đây là một nhiệm vụ khó khăn phức tạp, đặc biệt là trong xu thế tình hình tội phạm trên thế giới và khu vực ngày càng gia tăng. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc (LHQ), mỗi năm trên thế giới có khoảng 800.000 đến 1 triệu người bị mua bán. Như vậy có khoảng 3.000 người bị mua bán mỗi ngày. Song số vụ việc được đưa ra “ánh sáng” vẫn ở mức thấp so với thực tế và những đối tượng này vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

Khách quan mà nói, rõ ràng đây là thách thức với bất kỳ quốc gia nào. Cơ quan Cảnh sát châu Âu ước tính rằng hơn 90% người di cư, trên hành trình đi tìm “miền đất hứa”, đã ít nhất một lần sử dụng “dịch vụ” của những kẻ buôn người.
Hơn 150 quốc gia ở tất cả các châu lục đang phải đối mặt với loại hình tội phạm mua bán người. Theo thống kê của LHQ, có khoảng gần 25 triệu nạn nhân của nạn mua bán người trên khắp thế giới, trong đó có lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc…
Tuy nhiên, chỉ có khoảng 50.000 nạn nhân mua bán người được phát hiện, trong khi số tội phạm bị xử lý chỉ ở mức 3.500 trong số khoảng 510 đường dây buôn người trên toàn cầu. Trong số nạn nhân này, gần một nửa là phụ nữ, và 20% là trẻ em gái.
Đại dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm và tạo ra các lỗ hổng cho nạn mua bán người như tạo thêm bất ổn, nghèo đói, khiến các nhóm dễ bị tổn thương dễ trở thành các con mồi của các tổ chức tội phạm. Đại dịch khiến các nạn nhân giảm 73% khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, 70% khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, 63% khả năng tiếp cận các trợ giúp pháp lý. Báo cáo của UNODC trích dẫn thống kê từ 1 tổ chức nhân quyền, số vụ mua bán người tại Mỹ trong giai đoạn dịch COVID-19 đã tăng 185% so với trước đó.
Những năm gần đây, khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhất là các nước Tiểu vùng sông Mekong (trong đó có Việt Nam), tình hình tội phạm mua bán người rất phức tạp. Số nạn nhân bị mua bán khoảng là 11,7 triệu người, trong đó 55% là phụ nữ và trẻ em gái; 45% là nam giới.
Do siêu lợi nhuận thu được từ hoạt động mua bán người; tình trạng mất cân bằng về giới và các tác động khác, các hoạt động mua bán người ở Việt Nam cũng vì thế mà gia tăng về số vụ và tính chất phức tạp. Gần 85% số vụ mua bán người ra nước ngoài, tập trung chủ yếu qua các tuyến biên giới giữa Việt Nam với Campuchia, Lào và Trung Quốc, trong đó, sang Trung Quốc chiếm 75%,

Gần 85% số vụ mua bán người ra nước ngoài, tập trung chủ yếu qua các tuyến biên giới giữa Việt Nam với Campuchia, Lào và Trung Quốc, trong đó, sang Trung Quốc chiếm 75%
Nhiều thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo tinh vi của các đường dây tội phạm
Kể từ năm 2011, Việt Nam đã có Luật phòng chống mua bán người, các quy định để xử lý loại tội phạm nguy hiểm và phi nhân tính này. Cơ quan chức năng cũng nỗ lực trong việc ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ việc mua bán người.
Tuy nhiên, việc đi lại giữa các quốc gia, các châu lục ngày càng mở rộng như hiện nay một mặt tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động giao thương, du lịch ngày càng thuận lợi; mặt khác nó cũng khiến cho hoạt động mua bán người ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp, khó đối phó.
Phần lớn nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia thời gian gần đây đều thông qua mạng xã hội. Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa gạt nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trái phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm.
Họ vừa là nạn nhân, vừa vi phạm pháp luật. Việc giải cứu họ khỏi những
“miệng hố tử thần” vì thế tùy thuộc rất nhiều vào sự phối hợp của lực lượng chức năng sở tại.
Ông Lương Thanh Quảng, Phó Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao cho biết thêm: “Việc triển khai công tác này là rất khó khăn do liên quan đến các đường dây tội phạm nguy hiểm, đồng thời cũng cần phải được tổ chức nhanh chóng. Nhưng với sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng trong nước và sự hợp tác tích cực của phía bạn, cuối cùng ta đã kịp thời hoàn tất việc giải cứu công dân”
Việc điều tra, xử lý các đối tượng theo đúng tội danh mua bán người cũng không đơn giản. Bởi các đối tượng sử dụng những thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo, tổ chức mua bán tinh vi, lại diễn ra trên nước khác.
[...]
(https://bom.so/OtblZC)
Câu hỏi:
Câu 1: Văn bản Nạn buôn bán người: Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? (0,5đ)
Câu 2: Biểu đồ, bản đồ ở phần một có tác dụng gì trong việc truyền tải thông tin? (0,5đ)
Câu 3: Nhận xét cách đặt nhan đề văn bản và thái độ, quan điểm của người viết đối với nạn buôn người (0,5đ)
Câu 4: Văn bản trên cung cấp cho em những thông tin, nhận thức bổ ích gì? Hãy chia sẻ ngắn gọn điều đó (1đ)
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trái phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm không? Vì sao? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Quan sát 2 bức hình sau và thực hiện yêu cầu kế tiếp


a. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa tố cáo của từng bức hình
b. Có thể dùng 2 bức hình trên minh họa cho nội dung nào cho văn bản Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm
Câu 2. (4,0 điểm)
Hãy lựa chọn thể loại (văn bản thông tin/ văn bản nghị luận) để tạo lập văn bản về nạn buôn người nhằm mục đích cảnh báo cho các nạn nhân ham việc nhẹ lương cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp tại Việt Nam.
Yêu cầu: đặt tiêu đề cho văn bản, phối hợp sử dụng yếu tố biểu cảm, miêu tả, thuyết minh và yếu tố phi ngôn ngữ trong văn bản
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1: Văn bản Nạn buôn bán người: Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc lại kiến thức về hình thức truyền tải trong văn bản thông tin
Lời giải chi tiết:
Yếu tố để người đọc dễ nắm bắt thông tin trong văn bản: Số liệu, hình ảnh, tiêu đề đoạn in đậm
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2: Biểu đồ, bản đồ ở phần một có tác dụng gì trong việc truyền tải thông tin? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Quan sát, chú ý tên và nội dung của biểu đồ
Lời giải chi tiết:
Tác dụng của biểu đồ, bản đồ: Cụ thể hóa số liệu nạn buôn người trên thế giới và Việt Nam
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Nhận xét cách đặt nhan đề văn bản và thái độ, quan điểm của người viết đối với nạn buôn người (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Nhận xét nhan đề hướng tới đối tượng nào, mục đích là gì?
Chú ý những từ ngữ bày tỏ thái độ, quan điểm của người viết
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề: Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm là lời cảnh báo cho nhiều người nhẹ dạ, ham làm giàu nhanh; gợi ra hành trình dẫn mình vào hang cọp của nhiều người
- Quan điểm: Kiên quyết chống nạn buôn người; cảnh báo cho cả xã hội nguy cơ tiềm ẩn trong đời sống
- Thái độ: Tố cáo tội ác, lên án kẻ phạm tội (để lừa bán, ép buộc, cưỡng bức lao động; lao động cưỡng bước, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc…)
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4: Văn bản trên cung cấp cho em những thông tin, nhận thức bổ ích gì? Hãy chia sẻ ngắn gọn điều đó (1đ) |
Phương pháp giải
Học sinh dựa vào kiến thức nền, vốn sống của bản thân
Tóm tắt những thông tin bản thân tiếp nhận được sau khi đọc văn bản
Lời giải chi tiết:
Tham khảo gợi ý: văn bản cung cấp thông tin về:
+ Về thực trạng đáng báo động của nạn buôn người trên thế giới, Việt Nam
+ Mức độ tinh vi của kẻ phạm tội
+ Khó khăn trong phòng chống…
Câu 5: (1đ)
|
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trái phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm không? Vì sao? (1đ) |
Phương pháp giải:
Học sinh dựa vào kiến thức nền, vốn sống của bản thân
Liên hệ với thực tế để đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Em đồng ý/ không đồng ý với nhận định của tác giả
- HS chú ý tìm thêm dữ liệu để bảo vệ ý kiến cá nhân
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. a. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa tố cáo của từng bức hình b. Có thể dùng 2 bức hình trên minh họa cho nội dung nào cho văn bản Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm |
Phương pháp giải:
a. Rút ra nội dung chính của từng bức hình
Từ đó đưa ra đánh giá về mức độ cảnh cáo của từng bức hình
b. Xem lại câu 4 phần đọc hiểu
Từ đó đưa ra kết luận về việc có thể sử dụng 2 bức hình để minh họa không
Lời giải chi tiết:
a. Bức hình 1: tính cảnh cáo cao (mặt nạn nhân: nhẹ dạ, hí hửng, hớn hở; âm mưu từ cần câu, ẩn dưới mặt nước là con cá mập với hàm răng sắc nhọn…)
Bức 2: ám ảnh người xem vì tính bất nhân. Hình ảnh em nhỏ ngây thơ trước âm mưu của kẻ bất nhân: chúng bắt tay nhau vì tiền
b. Có thể dùng 2 bức hình trên minh họa cho nội dung: hành vi buôn bán người ngày càng tinh vi, xảo quyệt,…
Câu 2.
|
Câu 2. (4,0 điểm) Hãy lựa chọn thể loại (văn bản thông tin/ văn bản nghị luận) để tạo lập văn bản về nạn buôn người nhằm mục đích cảnh báo cho các nạn nhân ham việc nhẹ lương cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp tại Việt Nam. Yêu cầu: đặt tiêu đề cho văn bản, phối hợp sử dụng yếu tố biểu cảm, miêu tả, thuyết minh và yếu tố phi ngôn ngữ trong văn bản |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài văn (thông tin hoặc nghị luận)
Lời giải chi tiết:
|
Hãy lựa chọn thể loại (văn bản thông tin/ văn bản nghị luận) để tạo lập văn bản về nạn buôn người nhằm mục đích cảnh báo cho các nạn nhân ham việc nhẹ lương cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp tại Việt Nam. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
Đặt tiêu đề ngắn gọn khớp với nội dung, mục đích văn bản |
|
Thân bài |
2,5 |
Gồm các nội dung chính: - Thực trạng buôn người tại Việt Nam (sử dụng số liệu) - Phân tích các nguyên nhân - Cảnh báo qua nhận diện kẻ buôn người và “mồi nhử” - Đề xuất một số giải pháp khả thi Lưu ý: - Văn bản nghị luận: cần có lí lẽ, dẫn chứng… - Văn bản thông tin cần đảo bảo tính chính xác của số liệu thông tin; bộc lộ quan điểm, đảm bảo tính khách quan. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thể hiện quan điểm cá nhân - Lên án hành động vô nhân đạo |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (thông tin/ nghị luận) - Vận dụng linh hoạt các yếu tố hỗ trợ: biểu cảm, miêu tả… |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
“NGHE LÉN” MUÔNG THÚ TRÒ CHUYỆN
(Lê My)
11/03/2023 05:34 GMT + 7
TTCT - Tất nhiên các nhà khoa học không phải nghe cá voi rù rì hay ong mật thủ thỉ để cho vui, họ còn muốn hiểu “tiếng nói” của chúng. Những khám phá mới có thể sẽ buộc con người xem xét lại mối quan hệ giữa mình với những loài khác.
Suốt hàng thế kỷ, loài người thậm chí chẳng hề biết đến sự tồn tại của những âm thanh mà tai người không nghe được - dơi líu ríu trong sóng siêu âm (nằm dưới ngưỡng nghe). Nhưng khả năng nghe của chúng ta đã cải thiện cùng với sự trên ngưỡng nghe của người) hay voi rỉ tai nhau những bí mật ở mức hạ âm (nằm phát triển vượt bậc của công nghệ. Ngày nay, thiết bị ghi âm được lắp đặt ở khắp mọi nơi từ Bắc Cực đến Amazon, biển dữ liệu thu được sẽ được được trí tuệ nhân tạo (AI) xử lý, đưa con người tiến gần hơn với mong ước muôn đời: nói chuyện với động vật.
Nâng trình “nghe lén”
Loài chuột dũi trụi lông (Heterocephalus glaber) tuy không có gì để nhìn, nhưng chúng có nhiều điều để nói. Loài gặm nhấm nhăn nhúm màu hồng này sống thành từng đàn lớn dưới lòng đất, đứng đầu là nữ hoàng, giống như nhiều loài kiến hay mối. Và chúng tương tác với nhau bằng những âm thanh phức tạp: huýt sáo, réo rắt và líu lo, gừ gừ, nấc và rít.
Khi hai chú chuột gặp nhau trong một đường hầm tối, chúng lịch sự chào nhau. “Chúng sẽ tạo ra một tiếng chít khe khẽ, và kế đến là tiếng chít chít lặp đi lặp lại”, theo Alison Barker, nhà thần kinh học tại Viện Nghiên cứu não bộ Max Planck (Đức). Đan cài trong những cuộc đàm thoại hằng ngày là vô số mẩu thông tin xã hội.
“Tiếng chào hỏi, mà tôi ngỡ rằng khá là cơ bản, hóa ra lại phức tạp vô cùng - Barker nói với The New York Times. Mỗi cá thể chuột sở hữu “giọng nói riêng. Chưa hết, mỗi đàn chuột còn có “phương ngữ” để phân biệt với đàn khác - một kiểu “di sản văn hóa” gắn với mỗi triều đại chuột chúa...
Ghi âm thôi thì chưa đủ, bởi muốn giải mã ý nghĩa của mỗi tiếng kêu, người ta cần biết được bối cảnh của nó. Ví dụ, để tìm hiểu âm thanh của loài dơi ăn quả Ai Cập, nhóm của Yossi Yovel đã sử dụng cả máy quay và micro. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã dùng thuật toán để liên kết những âm thanh cụ thể (khoảng 15.000 tiếng kêu!) với các tương tác xã hội cụ thể đã được camera quay lại. Hóa ra, dơi tranh cãi vì thức ăn; chúng có sự phân biệt giới tính trong khi giao tiếp; chúng có tên riêng - hay đúng hơn là “tiếng gọi đặc trưng”. Như các mẹ bỉm sữa, dơi mẹ cũng đổi giọng khi nói chuyện với “em bé” của chúng.
Năm 2019, nhóm nghiên cứu tại Đại học Washington (Mỹ) đã ra mắt phần mềm DeepSqueak, sử dụng học máy để phân biệt giữa tiếng kêu trầm bổng khi các loài gặm nhấm cảm thấy dễ chịu với tiếng kêu dài và phẳng khi chúng đang bất ổn.
Những đội ngũ khác thì phát triển các hệ thống tự động nhận biết gà hoặc heo bị khó ở thông qua tiếng kêu. Còn có dự án tham vọng hơn: tìm hiểu cú pháp trong tiếng kêu của cá nhà táng và thậm chí tạo ra loại công nghệ cho phép con người… đáp lời
Minh họa _ Phillip Lay, Observer Design

Giao tiếp khác loài
Nếu việc giao tiếp người - thú thực sự xảy ra, hẳn nó sẽ không giống cách mà chàng Dar - “Chúa tể muông thú” của truyền hình thập niên 2000, ra lệnh cho động vật bằng thần giao cách cảm - mà gần hơn với bác sĩ Dolittle: chịu khó học ngôn ngữ của các loài vật.
“Chúng ta chưa có trong tay cuốn từ điển Tiếng cá nhà táng, nhưng giờ đây chúng ta đã có những nguyên liệu thô để tạo ra một thứ như thể” – Karen Bakker viết trong quyển The Sounds of Life (Âm thanh Cuộc sống), xuất bản tháng 10-2022.
Một dự án có tên viết tắt là CETI đang tập hợp các chuyên gia lớn trong lĩnh vực học máy, sinh học biển, robot, ngôn ngữ học, mật mã học... để giải mã tiếng kêu của cá nhà táng. Loài thú có vú khổng lồ sống dưới biển này phát ra các chuỗi âm thanh “click” được sắp xếp một cách có chủ ý (giống như mã Morse). Mục tiêu của CETI là giao tiếp với một con cá voi đến mức có thể trao đổi ý tưởng và kinh nghiệm vào năm 2026.
CETI, do nhà sinh vật học biển David Gruber dẫn dắt, đang đổ mọi nỗ lực xuống vùng biển ngoài khơi đảo quốc Dominica, nơi có một quần thể cá nhà táng đã được khoa học nghiên cứu kỹ lưỡng. Dự án sử dụng các trạm nghe dưới nước, máy bay không người lái, những con cá - máy mềm dẻo bơi lội giữa đàn cá voi để thu thập âm thanh và video...
“Đây sẽ là bộ dữ liệu về hành vi động vật lớn nhất từng được ghi lại” – Tom Mustill, một nhà làm phim về thiên nhiên, nói với The Guardian. Mustill từng suýt bị đè nát - hoặc được tha mạng - bởi một con cá voi lưng gù hồi năm 2015. Tháng 9-2022, ông xuất bản cuốn How to Speak Whale (Cách nói tiếng cá voi).
CETI sẽ xây dựng một mô hình mô phỏng hệ thống liên lạc của cá nhà táng, Mustill lý giải trong sách. Để kiểm tra hệ thống này, họ sẽ xây dựng các chatbot. Để đánh giá độ chính xác của mô hình, họ sẽ dự đoán lời-sắp-nói của một con cá voi đã xác định. Họ cũng phát đi những tiếng kêu để xem liệu cá voi có phản ứng như mong đợi hay không. Và bằng cách nghe lén cá voi con học nói, máy móc và cả con người sẽ có thể tự “dạy” bản thân tiếng cá voi.
Nghiên cứu về tiếng ong (bao gồm các vị trí và rung động khác nhau) cũng được giới thiệu trong cuốn sách của Bakker. Một nhóm nghiên cứu ở Đức đã tạo ra con ong-máy, tên RoboBee, và “cấy” nó vào một tổ ong. Robot có khả năng thực hiện vũ điệu lắc lư của ong mật để yêu cầu chúng ngừng di chuyển. Nó đã có thể chỉ cho lũ ong biết đường bay đến nguồn mật hoa do nhóm nghiên cứu sắp đặt (mặc dù kết quả tuyệt đỉnh này chỉ xảy ra một lần duy nhất, và họ không chắc lý do thành công hay làm thế nào để thành công lần nữa). Nhìn về tương lai, con người có thể sẽ kiểm soát loài ong ở một mức độ chưa từng có.
Vì vậy, chẳng bất ngờ khi những nghiên cứu dạng này đặt ra rất nhiều câu hỏi về triết học và đạo đức.
Loài người sẽ nói gì với động vật?
Có thể sẽ có một hệ thống “phát thanh” nhằm cảnh báo ong mật tránh xa những nguồn hoa bị ô nhiễm thuốc trừ sâu. Nhưng cũng có thể sẽ có một hệ thống ra lệnh cho chim bồ câu mang dịch bệnh đến chỗ kẻ thù.
Động vật, khi được thừa nhận khả năng ngôn ngữ phong phú - một biểu hiện của trí năng, có thể trở nên đồng đẳng với loài người, thậm chí có thể chữa lành những thương tổn lâu nay. Tuy nhiên cũng tồn tại rủi ro rằng con người sẽ tăng cường sự thống trị của mình trên Trái đất.
Nhưng Mustill có lý do để lạc quan, vì những dự án như CETI được vận hành trên các nguyên tắc open source (nguồn mở) - bất cứ ai cũng có thể sử dụng dữ liệu và công cụ của họ. “Đó là một cách vừa thúc đẩy sự hợp tác vừa cho phép sự giám sát, bởi vì một trong những biện pháp bảo vệ duy nhất chống lại sự trục lợi là tính công khai.
Mặt khác, Mustill ví von việc trò chuyện với cá voi sẽ giông giống việc các nhà truyền giáo gặp gỡ người dân bản địa. “Bên cạnh những rung cảm tốt đẹp, chúng ta vô tình chuyển giao những thứ khác nữa khi ta tiếp xúc với những thế giới từng sống tách biệt. Nếu cá nhà táng biết nói chuyện với nhau và truyền đạt những thông tin vốn định hình văn hóa và hành động của chúng, và chúng ta sẵn sàng nói chuyện với chúng, liệu chúng có sẵn sàng để được nói chuyện không?”.
Cũng với ngần ấy nỗi lo về động vật bị ngược đãi, việc chúng ta học cách giao tiếp với các loài khác dường như là một điều tốt. Khi Roger Payne ghi âm tiếng kêu của cá voi và phát hành album Songs of the Humpback Whale (Bài hát của cá voi lưng gù) năm 1970, phong trào chấm dứt ngành săn bắt cá voi thương mại đã nhận sự ủng hộ mạnh mẽ khắp thế giới.
Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, người ta gắn phụ đề cho những cảnh quay trong lò mổ. Giống như cách mạng nhân quyền, động vật có thể đấu tranh cho mình bằng cách lên tiếng. Chiếc áo bằng da có lẽ sẽ không còn sành điệu nữa, nếu những con bò có thể nói lời cuối cùng trước khi vào lò. Nhưng chúng ta liệu sẽ lắng nghe?
(https://bom.so/hxXxbS)
Câu hỏi:
Câu 1: Văn bản “Nghe lén” muông thú trò chuyện sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? (0,5đ)
Câu 2: Vì sao các nhà khoa học khao khát nghe và hiểu tiếng của muông thú (0,5đ)
Câu 3: Tác giả muốn nói điều gì với độc giả qua đoạn sau đây? Câu hỏi cuối đoạn có tác dụng gì? (0,5đ)
Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, người ta gắn phụ đề cho những cảnh quay trong lò mổ. Giống như cách mạng nhân quyền, động vật có thể đấu tranh cho mình bằng cách lên tiếng. Chiếc áo bằng da có lẽ sẽ không còn sành điệu nữa, nếu những con bò có thể nói lời cuối cùng trước khi vào lò. Nhưng chúng ta liệu sẽ lắng nghe?
Câu 4: Văn bản trên cung cấp cho em những thông tin, nhận thức bổ ích gì? Hãy chia sẻ ngắn gọn điều đó (1đ)
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Tất nhiên các nhà khoa học không phải nghe cá voi rù rì hay ong mật thủ thỉ để cho vui, họ còn muốn hiểu “tiếng nói” của chúng. Những khám phá mới có thể sẽ buộc con người xem xét lại mối quan hệ giữa mình với những loài khác không? Vì sao? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Đọc ngữ liệu sau và ghi lại ngắn gọn nội dung, cảm xúc thể hiện trong bài thơ (2đ)
Tiếng kêu cứu (Thế Thành)
Tôi đã nghe rừng đổ máu
Những gốc cây trơ màu xương, cốt
Diệp lục kia dẫu thốt kêu lên
Còn ai nghe, còn ai đến cứu rừng
Tôi đã nghe lời đại dương
Trong sâu thẳm tận cùng tuyệt vọng
Ôi loài cá chỉ còn tăm
Trong sách đỏ ngàn năm ai biết
Tôi đã nghe… những tiếng chim
Trên bầu trời xáo xác tìm nơi đậu
Cánh mòn mỏi biết về đâu
Hệ sinh thái ngày ngày đang hủy hoại
Tôi đã nghe con người nói
Vì môi trường, vì nòi giống trần gian
Những ai nghe cuộc sống, môi sinh
Tất cả đang bình chân như vại
(https://born.so/JAaQ5S)
Câu 2. (4,0 điểm)
Tự đặt tiêu đề và viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về cách ứng xử hợp lý nhất của con người với tự nhiên
Yêu cầu: sử dụng một số thông tin ở văn bản đọc và bài thơ trong bài viết của mình
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1: Văn bản “Nghe lén” muông thú trò chuyện sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc lại kiến thức về các yếu tố bổ trợ trong văn bản thông tin
Lời giải chi tiết:
Văn bản sử dụng nhiều số liệu, hình ảnh, tiêu đề đoạn in đậm để người đọc dễ nắm bắt thông tin
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2: Vì sao các nhà khoa học khao khát nghe và hiểu tiếng của muông thú (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và tìm kiếm thông tin
Lời giải chi tiết:
Các nhà khoa học khao khát nghe và hiểu tiếng của muông thú vì mong muốn hiểu chúng, để con người có ứng xử hợp lí
Câu 3 (0,5 điểm)
|
Câu 3: Tác giả muốn nói điều gì với độc giả qua đoạn sau đây? Câu hỏi cuối đoạn có tác dụng gì? (0,5đ) Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, người ta gắn phụ đề cho những cảnh quay trong lò mổ. Giống như cách mạng nhân quyền, động vật có thể đấu tranh cho mình bằng cách lên tiếng. Chiếc áo bằng da có lẽ sẽ không còn sành điệu nữa, nếu những con bò có thể nói lời cuối cùng trước khi vào lò. Nhưng chúng ta liệu sẽ lắng nghe? |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đọc hiểu
Dựa vào nội dung toàn đoạn nói riêng và nội dung toàn văn bản, phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ
Lời giải chi tiết:
- Khi nghe và hiểu âm thanh của loài vật bị giết thịt. Chắc chắn con người sẽ thay đổi nhiều ham muốn và sở thích của mình
- Câu hỏi: Nhưng chúng ta liệu sẽ lắng nghe? Tác động vào nhận thức của người đọc, tạo nên cuộc đối thoại ngầm… khiến mỗi độc giả sẽ tự đối thoại với mình về vấn đề tác giả nêu ra trong đoạn
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4: Văn bản trên cung cấp cho em những thông tin, nhận thức bổ ích gì? Hãy chia sẻ ngắn gọn điều đó (1đ) |
Phương pháp giải
Dựa vào các luận điểm của văn bản
Dựa vào kiến thức và trải nghiệm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tham khảo gợi ý:
+ Các nhà khoa học đã nghiên cứu về âm thanh của muông thú như thế nào?
+ AI góp phần vào công trình nghiên cứu nghe tiếng muôn loài vật
+ Lợi ích khi có cuộc giao tiếp khác loài…
Câu 5: (1đ)
|
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Tất nhiên các nhà khoa học không phải nghe cá voi rù rì hay ong mật thủ thỉ để cho vui, họ còn muốn hiểu “tiếng nói” của chúng. Những khám phá mới có thể sẽ buộc con người xem xét lại mối quan hệ giữa mình với những loài khác không? Vì sao? (1đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào lập luận của tác giả và trải nghiệm của cá nhân
Lời giải chi tiết:
- HS trả lời theo trải nghiệm cá nhân
- Chú ý tìm thêm dữ liệu để bảo vệ ý kiến cá nhân
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Đọc ngữ liệu sau và ghi lại ngắn gọn nội dung, cảm xúc thể hiện trong bài thơ (2đ) |
Phương pháp giải:
Đọc bài thơ, chú ý nhan đề bài thơ
Chú ý các chi tiết miêu tả nỗi đau của thiên nhiên và của chính tác giả
Rút ra thông điệp tác giả muốn gửi gắm
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Tiếng kêu cứu của tác giả Thế Thành miêu tả nỗi đau, tiếng kêu khóc tuyệt vọng của những cánh rừng, của chính tác giả trước hiện trạng thiên nhiên bị tàn phá. Qua đó, tác giả mong muốn mọi người cùng chung tay bảo vệ môi trường
Câu 2.
|
Câu 2. (4,0 điểm) Tự đặt tiêu đề và viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về cách ứng xử hợp lý nhất của con người với tự nhiên Yêu cầu: sử dụng một số thông tin ở văn bản đọc và bài thơ trong bài viết của mình |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài nghị luận
Lời giải chi tiết:
|
Tự đặt tiêu đề và viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về cách ứng xử hợp lý nhất của con người với tự nhiên Yêu cầu: sử dụng một số thông tin ở văn bản đọc và bài thơ trong bài viết của mình |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
Đặt tiêu đề ngắn gọn: hướng vào việc hiểu, bảo vệ thiên nhiên |
|
Thân bài |
2,5 |
Gồm các nội dung chính” - Vai trò của thiên nhiên đối với sự sống của con người - Nêu, phân tích hiện trạng của thiên nhiên - Đề xuất ứng xử phù hợp Lưu ý: - Văn bản nghị luận: cần có lí lẽ, dẫn chứng… - Văn bản thông tin cần đảm bảo tính chính xác của số liệu thông tin; bộc lộ quan điểm, đảm bảo tính khách quan |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thể hiện quan điểm cá nhân - Lên án hành động vô nhân đạo |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể (thông tin/ nghị luận) - Vận dụng linh hoạt các yếu tố hỗ trợ: biểu cảm, miêu tả… |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (3,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
Có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình chỉ vì họ sợ bị thất bại. Họ không muốn thử sức mình với các kỳ thi quốc gia vì họ không tin rằng họ sẽ chiến thắng. Họ sợ phải nhận những bức thư từ chối, nên họ không nộp đơn xin việc ở nước ngoài. Họ ngại tham gia khóa học để cải thiện một kỹ năng còn yếu vì lo sợ phải đối mặt với những sự chế giễu. Nhưng nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang.
“Có chắc không?” là câu hỏi khiến chúng ta cảm thấy bất ổn khi có ý muốn thoát ra khỏi vùng an toàn. “Chắc hẳn mà” là câu trả lời mà chúng ta luôn muốn nghe. Chúng ta muốn chắc chắn sẽ nhận được học bổng khi đăng ký, chúng ta muốn chắc chắn sẽ không bị hổ vồ khi đi thám hiểm Safari, chúng ta muốn chắc chắn rằng người mà chúng ta chọn là vợ hay chồng sẽ ở với chúng ta mãi mãi. Nhưng có gì trên thế giới này mà không có độ rủi ro nhất định? Sự rủi ro có thể đến với từng người trong chúng ta bất kỳ lúc nào. Rủi ro có thể đến với bạn ngay trong khi bạn chấp nhận làm bất cứ việc gì. Để chắc chắn rằng rủi ro không đến với mình, việc duy nhất bạn có thể làm là không làm gì cả, nằm trên giường và… mơ về những thứ mà bạn không dám làm trong thế giới thật. Nhưng bạn có dám chắc là trong cơn mơ, bạn sẽ không bị giật mình và ngã xuống đất? Nếu rủi ro có thể ập đến với bạn cả khi bạn đang mơ, vậy tại sao bạn lại không dám ra ngoài và dám biến những ước mơ của bạn trở thành hiện thực?
(Trích Hộ chiếu xanh đi quanh thế giới; Hồ Thu Hương, Nguyễn Phan Linh, Phạm Anh Đức, NXB Thế giới; 2016; trang 147 – 148)
Câu hỏi:
Câu 1 (1.0 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại nào? Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên?
Câu 2 (0.5 điểm): Theo tác giả, vì sao có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình?
Câu 3 (0.5 điểm): Anh/chị có đồng tình với quan niệm: nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang? Vì sao?
Câu 4 (1.0 điểm): Qua đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào là vùng an toàn? Với những người đang ở trong vùng an toàn, theo anh/chị cách nào có thể giúp họ bước ra khỏi vùng an toàn đó? Nêu ít nhất 02 cách
PHẦN VIẾT (7,0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm): Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) thuyết phục các bạn trẻ rằng: có những lúc cần phải thoát ra khỏi vùng an toàn do mình tự tạo ra.
Câu 2 (5.0 điểm): Viết bài văn nghị luận trình bày quan điểm suy nghĩ của em về biến đổi khí hậu.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1 (1.0 điểm): Văn bản trên thuộc thể loại nào? Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, rút ra những đặc điểm của thể loại trong văn bản
Dựa vào kết luận về thể loại để trả lời về phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Văn bản thuộc thể loại văn bản nghị luận
Phương thức biểu đạt chính: Phương thức biểu đạt chính: nghị luận.
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2 (0.5 điểm): Theo tác giả, vì sao có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình? |
Phương pháp giải:
Đọc văn bản và tìm kiếm thông tin
Lời giải chi tiết:
Theo tác giả, có rất nhiều người trên thế giới này không chịu vượt ra khỏi vùng an toàn của mình vì: họ sợ thất bại
Câu 3 (0,5 điểm)
|
Câu 3 (0.5 điểm): Anh/chị có đồng tình với quan niệm: nhiều thách thức, rủi ro hoặc tình huống khó chịu chính là những cơ hội đã được ngụy trang? Vì sao? |
Phương pháp giải:
Đọc văn bản và tìm kiếm thông tin
Dựa vào trải nghiệm và kiến thức của bản thân để đưa ra quan điểm và lý giải hợp lý
Lời giải chi tiết:
- HS nêu quan điểm của bản thân. Có thể đồng tình hoặc không đồng tình, nêu lý giải hợp lý
- Gợi ý: Đồng tình với quan điểm.
- Vì:
+ Cuộc sống vốn không hề bằng phẳng mà luôn chứa đựng những khó khăn thách thức, cuộc đời mỗi người là hành trình vượt qua những thử thách đó.
+ Những rủi ro, thách thức chính là những khó khăn mà chúng ta phải trải qua để tích lũy tri thức, kinh nghiệm sẵn sàng khi cơ hội đến.
+ Không đương đầu với khó khăn thử thách, luôn cố thủ trong vùng an toàn chúng ta mãi không thể thấy cơ hội và nắm bắt được cơ hội để vươn đến thành công.
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4 (1.0 điểm): Qua đoạn trích, anh/chị hiểu thế nào là vùng an toàn? Với những người đang ở trong vùng an toàn, theo anh/chị cách nào có thể giúp họ bước ra khỏi vùng an toàn đó? Nêu ít nhất 02 cách |
Phương pháp giải
Tìm kiếm thông tin liên quan đến vùng an toàn trong văn bản
Dựa vào tri thức tiếp nhận được và kiến thức của bản thân, đưa ra 2 cách
Lời giải chi tiết:
- “Vùng an toàn” là: môi trường thân thuộc với mỗi con người, nơi chúng ta luôn cảm thấy tự do, thoải mái, tự tin nhất để thể hiện bản thân.
- Những cách thức giúp mọi người bước ra khỏi “vùng an toàn”:
+ Can đảm đối mặt với sự sợ hãi để tìm cách vượt qua và chiến thắng những nỗi lo lắng, sợ hãi đó.
+ Tự đặt cho mình những thử thách để cố gắng vượt qua.
+ Bắt tay vào làm những dự án nhỏ, để trải nghiệm và tích lũy tri thức cho bản thân.
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1 (2.0 điểm): Viết 01 đoạn văn (khoảng 200 chữ) thuyết phục các bạn trẻ rằng: có những lúc cần phải thoát ra khỏi vùng an toàn do mình tự tạo ra. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung đoạn văn
Vận dụng kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn nghị luận về một hiện tượng đời sống
Lời giải chi tiết:
* Giải thích vấn đề.
- Vùng an toàn: môi trường thân thuộc với mỗi con người, nơi chúng ta luôn cảm thấy tự do, thoải mái, tự tin nhất để thể hiện bản thân.
* Bàn luận vấn đề:
- Tại sao phải bước ra khỏi vùng an toàn?
+ Thế giới liên tục biến đổi, khiến cho những điều ta đã biết trở nên lỗi thời, bởi vậy nếu không bước ra khỏi vùng an toàn để trải nghiệm, nâng cao hiểu biết của bản thân ta sẽ tụt lại phía sau.
+ Vùng an toàn khiến bạn nhàm chán, cũ kĩ bước chân ra khỏi nó là cách thức làm mới bản thân, phát hiện những khả năng ẩn kín và đem đến thành công.
- Cần làm gì để bước ra khỏi vùng an toàn?
+ Bước ra khỏi vùng an toàn bạn cần sự dũng cảm, để đối mặt với những khó khăn, thách thức ở phía trước, đối mặt với môi trường mới, đồng nghiệp mới. Bởi vậy dũng cảm trải nghiệm là điều kiện quan trọng nhất để bạn vượt ra khỏi vùng an toàn của mình.
+ Vượt qua nỗi sợ hãi thất bại, tự tin với chính mình, không bỏ cuộc trước những khó khăn, thử thách.
- Bạn sẽ được gì khi bước khỏi vùng an toàn:
+ Ra khỏi vùng an toàn sẽ đem lại cho bạn kĩ năng ra quyết định và giải quyết vấn đề một cách nhanh chóng, sáng tạo.
+ Mở rộng mối quan hệ xã hội, tăng cường kĩ năng giao tiếp.
+ Ra khỏi vùng an toàn đem đến cho bạn những trải nghiệm mới mẻ, khám phá, phát hiện ra những năng lực mới của bản thân.
+ Cơ hội để bạn đạt đến thành công.
- Chứng minh: học sinh lấy dẫn chứng phù hợp, có phân tích ngắn gọn.
* Tổng kết vấn đề: thay đổi môi trường sống, bước ra khỏi vùng an toàn sẽ mang đến những trải nghiệm tuyệt vời, tạo cơ hội thành công cho mỗi con người.
Câu 2.
|
Câu 2 (5.0 điểm): Viết bài văn nghị luận trình bày quan điểm suy nghĩ của em về biến đổi khí hậu. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài nghị luận về một vấn đề trong đời sống
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
Dẫn dắt, nêu sơ lược những hiểu biết của em về biến đổi khí hậu. Khái quát ý kiến, nhận định của em về vấn đề này ( nghiêm trọng, cần có biện pháp giải quyết hữu hiệu, ảnh hưởng rộng khắp,...)
2. Thân bài
- Trình bày cụ thể hơn nhận định, hiểu biết của em về hiện trạng biến đổi khí hậu trên thế giới hiện nay:
- Nêu khái niệm biến đổi khí hậu (theo cách em hiểu)
- Những biểu hiện cụ thể:
+ Thời tiết thay đổi thất thường: nhiệt độ tăng cao, mưa trái mùa, tuyết rơi sớm,...
+ Sự biến đổi của khí quyển: tầng ozon ngày càng mỏng, một số nơi mất lớp bảo vệ khiến các tia phóng xạ có hại lọt vào bầu khí quyển,...
+ Động thực vật biến đổi để thích nghi (động di chuyển sang môi trường sống mới; thực vật biến đổi bề ngoài như: hệ rễ, cấu tạo, chức năng bộ phận,...)
* Ảnh hưởng đến con người
- Nguyên nhân: (phần lớn do tác động của con người)
+ Khai thác khoáng sản quá mức( các loại quặng mỏ quý hiếm, các loại thường dùng trong công nghiệp,...) sinh ra lượng bụi và nước thải lớn, các nguyên tố phóng xạ.
+ Chặt phá rừng phòng hộ, săn giết động vật trái phép ( nêu một số ví dụ cụ thể nếu biết)
+ Lãng phí nguồn nước ( nước ngọt trong sinh hoạt, sản xuất,...dẫn chứng)
+ Không kiểm soát chặt chẽ rác thải sinh hoạt và chất thải công nghiệp ( cho ví dụ cụ thể: các bãi rác tự phát, các nhà máy xả chất thải chưa qua xử lý,...) dẫn đến ô nhiễm nghiêm trọng(môi trường sinh hoạt, nguồn nước, đất,...)
+ Ý thức cá nhân và cộng đồng chưa cao (xem nhẹ hậu quả biến đổi khí hậu, xem việc gìn giữ môi trường sống là việc của riêng một cá nhân hay đoàn thể nào đó, vì lợi ích nhất thời nên cố ý bỏ qua,...)
+ Các nguyên nhân khác ( rủi ro trong công nghiệp hạt nhân, công nghiệp vũ trụ, quốc phòng,...)
- Hậu quả:
+ Mất cân bằng sinh thái
+ Thảm thực vật xói mòn, động vật diệt tuyệt nhiều loài : môi trường sống thay đổi đột ngột khiến nhiều loài không thích ứng được dẫn đến suy thoái, tuyệt diệt ( dẫn chứng cụ thể một vài loài mà em biết. ví dụ: chim cánh cụt ở Nam Cực, các loài bướm ở Tây Ban Nha, các loài san hô, cây Lobelia, chuột Bramble Cay…)
+ Ô nhiễm nguồn nước dẫn đến thiếu nước sinh hoạt, sản xuất.
+ Thiên tai thường xảy ra ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống con người(lũ quét, sạt lở, các cơn bão lớn,...)
+ Môi trường sống con người ngày càng thu hẹp và khắc nghiệt( hiện tượng băng tan ở 2 cực, sa mạc hóa do biến đổi khí hậu,...)
+ Bệnh tật phát sinh và lây lan nhanh chóng, sức khỏe con người ngày càng kém (môi trường ô nhiễm mang theo nhiều mầm bệnh)
+ Các hậu quả khác
- Biện pháp:
+ Cơ quan chức năng kiểm soát chặt chẽ, nghiêm cấm phá rừng, cấm săn giết động vật bừa bãi.
+ Khai thác hợp lý các nguồn khoáng sản
+ Mỗi cá nhân xây dựng ý thức bảo vệ môi trường (tham gia trồng cây, trồng rừng phòng hộ, bỏ rác đúng nơi quy định, xử lý chất thải hợp lý,...)
+ Các biện pháp khác
3. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề đã khái quát ở phần mở bài ( cái nhìn, mức độ nghiêm trọng của biến đổi khí hậu đối với môi trường sống của cá nhân, công đồng, xã hội,...). Đưa ra ý kiến, phương hướng, lời khuyên.
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 9
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
HỘI GIÓNG Ở ĐỀN PHÙ ĐỔNG VÀ ĐỀN SÓC
Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc gắn với truyền thuyết về một cậu bé được mẹ sinh ra một cách kỳ lạ ở làng Phù Đổng. Khôi ngô, tuấn tú nhưng lên 3 mà vẫn chưa biết nói, biết cười, suốt ngày cậu chỉ nằm trong thúng treo trên gióng tre, vì thế được đặt tên là Gióng. Vậy mà khi nghe thấy lời kêu gọi của nhà Vua tìm người tài giỏi đánh giặc ngoại xâm, Gióng bỗng lớn nhanh như thổi, rồi xung phong ra trận cứu nước, cứu dân. Sau khi dẹp tan quân giặc, ngài về núi Sóc rồi cưỡi ngựa bay lên trời.
Từ đó, ngài Gióng được thiêng hóa thành một vị Thánh bất tử bảo hộ mùa màng, hòa bình cho đất nước, thịnh vượng cho muôn dân. Để tưởng nhớ công ơn của ngài, người dân lập đền, thờ phụng và mở hội hằng năm với tên gọi là Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc. Đó là một trong những lễ hội lớn nhất vùng châu thổ Bắc Bộ, tổ chức theo một nghi thức được quy định chặt chẽ, chuẩn bị hết sức công phu, với sự tham gia đông đảo của dân làng quanh khu vực hai đền. Hội Gióng ở đền Phù Đổng, xã Phù Đổng, huyện Gia Lâm - nơi sinh Thánh Gióng diễn ra từ ngày 7 đến ngày 9 tháng 4 Âm lịch, và Hội Gióng ở đền Sóc ở xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn (nay thuộc Hà Nội) - nơi Thánh hóa diễn ra từ ngày 6 đến ngày 8 tháng giêng.
Để tổ chức Hội Gióng ở đền Phù Đổng, những gia đình có vinh dự được chọn người đóng những vai quan trọng như các vai Ông Hiệu (Hiệu cờ, Hiệu trống, Hiệu chiêng, Hiệu Trung quân, Hiệu Tiểu cổ), vai cô Tướng hay các phường Áo đen, phường Áo đỏ... Tùy theo vai vế, khả năng kinh tế mà chuẩn bị những điều kiện vật chất và người được chọn vai sinh hoạt kiêng cữ từ hàng tháng trước ngày Lễ hội. Vào chính hội, trước tiên dân làng tổ chức các nghi thức tế Thánh, sau đó là lễ rước nước lau rửa tự khí từ giếng đền Mẫu (đền Hạ) với ý nguyện được mưa thuận, gió hòa, lễ rước cờ “lệnh” từ đền Mẫu lên đền Thượng, tiếp đến là lễ khám đường, lễ duyệt tướng… Ngày chính hội mùng 9 tháng 4, Hội Gióng diễn ra trang trọng, linh thiêng và náo nhiệt nhất là hai trận đánh. Trận thứ nhất: đánh cờ ở Đống Đàm và trận thứ hai: đánh cờ ở Soi Bia,... Cuối cùng là lễ rước cờ báo tin thắng trận với trời đất và lễ khao quân trong rộn rã tiếng cười, lời ca, điệu múa của phường Ải Lao, chiếu chèo và các trò chơi dân gian. Tướng, quân bên giặc cũng được tha bổng và cho tham dự lễ mừng chiến thắng. Cách hành xử này thể hiện truyền thống hiếu nghĩa đối với tổ tiên, những vị anh hùng dân tộc và tinh thần khoan dung, nhân đạo của dân tộc Việt Nam.
Hội Gióng ở đền Sóc diễn ra trong 03 ngày từ mùng 6 đến mùng 8 tháng giêng hằng năm. Việc chuẩn bị vật tế lễ cũng hết sức công phu, nhất là việc đan voi (theo truyền thuyết thì đoàn quân tham gia đánh giặc cùng Thánh Gióng có cả đàn voi chở lương thực đi theo) và làm giò hoa tre (tượng trưng cho gậy tre của Thánh Gióng sau khi đánh giặc), nên phải tiến hành từ nhiều tuần lễ trước Lễ hội. Từ xa xưa, việc rước đã được phân công cụ thể cho từng thôn chuyên trách và đi theo theo thứ tự: Trước hết là thôn Vệ Linh rước giò hoa tre, tiếp theo là các thôn Dược Thượng rước voi, Đan Tảo rước trầu cau, Đức Hậu rước ngà voi, Yên Sào rước cỏ voi (thân cây chuối), Yên Tàng rước tướng và mấy năm gần đây có thêm thôn Xuân Dục rước "Cầu Húc" (quả cầu tượng trưng cho mặt trời theo tín ngưỡng thờ thần mặt trời có từ xa xưa của cư dân nơi đây). Sau phần nghi thức tắm tượng Thánh Gióng và cung tiến lễ vật trang trọng, linh thiêng, là hai hoạt động gây náo động nhất của Lễ hội Gióng ở đền Sóc. Đó là tục “cướp hoa tre” cầu may và tục chém “tướng” (giặc) được diễn xướng một cách tượng trưng bằng hiệu lệnh múa cờ.
Là một hội trận được trình diễn bằng một hệ thống biểu tượng độc đáo, mang đậm bản sắc văn hóa Việt, được cộng đồng bảo tồn nguyên giá trị cho tới ngày nay, Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 11 năm 2010.
(Theo Hồng Vân,https://tttt.ninhbinh.gov.vn/festival-ninh-binh-2022-trang-an-ket-noi-di-san/hoi-giong-oden-phu-dong-va-den-soc-3343.html)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Xác định nội dung thông tin của văn bản trên?
Câu 2. Theo tác giả, hoạt động nào tại Hội Gióng đền Phù Đổng thể hiện truyền thống hiếu nghĩa đối với tổ tiên, những vị anh hùng dân tộc và tinh thần khoan dung, nhân đạo của dân tộc Việt Nam?
Câu 3. Nêu mục đích và thái độ của người viết được thể hiện qua văn bản.
Câu 4. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trình tự nào? Nêu hiệu quả của việc triển khai thông tin theo trình tự đó?
Câu 5. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc duy trì những lễ hội như Hội Gióng có còn cần thiết không? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT
Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật (bài thơ, bộ phim, bài hát, bức tranh, pho tượng) mà anh/ chị yêu thích.
----HẾT----
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định đối tượng được cung cấp thông tin
Cách giải:
Nội dung thông tin của văn bản: Nguồn gốc, lịch sử ra đời và các nghi lễ tổ chức lễ hội của Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra chi tiết phù hợp
Cách giải:
Hoạt động tại Hội Gióng đền Phù Đổng thể hiện truyền thống hiếu nghĩa đối với tổ tiên, những vị anh hùng dân tộc và tinh thần khoan dung, nhân đạo của dân tộc Việt Nam: Lễ rước cờ và lễ khao quân/ Tướng, quân bên giặc cũng được tha bổng và cho tham dự lễ mừng chiến thắng.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung (cung cấp thông tin chi tiết, khách quan về lễ hội) và đối tượng hướng đến (người đọc muốn tìm hiểu).
Cách giải:
- Mục đích: Cung cấp cho người đọc những thông tin về trình tự các nghi lễ của Hội Gióng được tổ chức ở đền Phù Đổng và đền Sóc.
- Thái độ của người viết:
+ Tưởng nhớ công lao người anh hùng đã có công chống giặc ngoại xâm.
+ Trân trọng, tự hào những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc thông qua lễ Hội Gióng.
Câu 4
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các cách triển khai thông tin trong văn bản thông tin để xác định
Cách giải:
- Thông tin được triển khai theo trình tự thời gian: thời gian diễn ra Hội Gióng cho đến các nghi lễ cụ thể ở lễ Hội Gióng ở đền Phù Đổng và đền Sóc.
- Thông tin được trình bày đầy đủ, ngắn gọn, sinh động, chân thực giúp người đọc hình dung dễ dàng và cụ thể về các sự kiện diễn ra trong Hội Gióng được tổ chức tại đền Phù Đổng và đền Sóc.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Khẳng định việc duy trì những lễ hội như Hội Gióng là cần thiết.
- Lý giải:
+ Giúp các thế hệ sau tưởng nhớ đến công lao các vị anh hùng đã có công dựng nước và giữ nước.
+ Từ đó có ý thức trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm, cố gắng học tập, lao động xây dựng phát triển đất nước.
+ Góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu truyền từ xưa đến nay thông qua các lễ hội, tạo nên bản sắc, tinh hoa văn hóa dân tộc.
+ Duy trì các lễ hội truyền thống cũng là thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xu hướng hội nhập “hòa nhập chứ không hòa tan”.
Cách giải:
Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu hiện nay, việc duy trì và phát huy những lễ hội truyền thống như Hội Gióng là vô cùng cần thiết. Trước hết, đây chính là cách để chúng ta bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, tạo nên một "lá chắn" tinh thần vững chắc trước nguy cơ bị hòa tan bởi các luồng văn hóa ngoại lai. Thứ hai, lễ hội là cầu nối sống động giữa quá khứ và hiện tại, giúp thế hệ trẻ hiểu và tự hào về lịch sử, truyền thống yêu nước, lòng nhân ái của cha ông. Cuối cùng, việc bảo tồn các di sản như Hội Gióng không chỉ có ý nghĩa về mặt văn hóa mà còn góp phần phát triển kinh tế du lịch, quảng bá hình ảnh đất nước Việt Nam ra thế giới. Vì vậy, duy trì Hội Gióng chính là chúng ta đang thực hiện đúng chủ trương "hòa nhập chứ không hòa tan", vừa tiếp thu tinh hoa nhân loại vừa giữ gìn cốt cách riêng của dân tộc.
II. PHẦN VIẾT
Phương pháp:
* Nêu được các thông tin cơ bản về tác phẩm (tác giả, tên tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác, sự đón nhận của công chúng...)
* Triển khai vấn đề nghị luận:
- Khái quát về tác phẩm:
+ Với tác phẩm văn học, cần nêu được đề tài, chủ đề và ấn tượng ban đầu về tác phẩm.
+ Với tác phẩm điện ảnh (bộ phim) cần tóm tắt được cốt truyện theo kịch bản;
+ Với ca khúc, cần nêu được đề tài, chủ đề và ấn tượng ban đầu về tiết tấu, giai điệu, ca từ của ca khúc;
+ Với tác phẩm thuộc nghệ thuật tạo hình (hội họa, điêu khắc) diễn tả bằng lời văn về hình tượng đã được thể hiện bằng chất liệu riêng của tác phẩm tạo hình (bức tranh, pho tượng ).
- Phân tích từng khía cạnh nổi bật của tác phẩm (Điểm đặc sắc của tác phẩm về nội dung và hình thức) với lí lẽ và bằng chứng rõ ràng, đầy đủ.
- Rút ra được thông điệp và ý nghĩa của thông điệp toát ra từ tác phẩm nghệ thuật)
* Đánh giá chung về tác phẩm:
- Thành công và những hạn chế của tác phẩm nghệ thuật theo quan điểm nhìn nhận của người viết.
- Nêu hướng tiếp cận phù hợp đối với tác phẩm.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong dòng chảy âm nhạc Việt Nam đương đại, hiếm có tác phẩm nào vừa mang tính giải trí cao lại vừa chứa đựng những thông điệp nhân văn sâu sắc như "Để Mị Nói Cho Mà Nghe" của ca sĩ kiêm nhạc sĩ Hoàng Thùy Linh. Ra mắt năm 2020, bài hát không chỉ tạo nên một cơn sốt về mặt âm nhạc mà còn khơi dậy những suy ngẫm mạnh mẽ về thân phận người phụ nữ trong xã hội hiện đại, thông qua lăng kính của văn hóa dân gian.
Thành công của "Để Mị Nói Cho Mà Nghe" trước hết đến từ sự kết hợp tài tình giữa chất liệu dân gian và âm nhạc đương đại. Bài hát lấy cảm hứng từ nhân vật Mị trong truyện ngắn "Vợ chồng A Phủ" của Tô Hoài, một cô gái dân tộc xinh đẹp, tài hoa nhưng bị đày đọa trong kiếp sống nô lệ. Thông minh thay, Hoàng Thùy Linh không tái hiện nguyên bản câu chuyện mà "hồi sinh" Mị, để Mị tự cất lên tiếng nói của chính mình. Giai điệu bài hát là sự pha trộn khéo léo giữa âm hưởng dân ca Tây Bắc với nhịp điện tử hiện đại, tạo nên một không gian âm nhạc vừa quen thuộc vừa mới mẻ. Hình ảnh Mị trong ca khúc hiện lên không còn là cô gái cam chịu, "lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa" mà là một người phụ nữ mạnh mẽ, tự do "nhảy giữa đám trẻ con chơi đùa", "uống rượu cùng bè bạn" và dám "cắt dây trói" cứu A Phủ.
Bài hát thành công không chỉ ở giai điệu mà còn ở những thông điệp nhân văn sâu sắc. Thông qua lời ca, tác giả gửi gắm nhiều triết lý về cuộc sống. "Đời không như là mơ, đời đẹp đẽ gì mấy ai biết trước được ngày mai" đó là sự thấu hiểu những bất trắc, biến cố trong đời người. Nhưng quan trọng hơn, bài hát truyền tải thông điệp về sự tự do và quyền được làm chủ số phận: "Tự do như áng mây trời, ai ngăn được mây trời bay ngang qua". Mị trong ca khúc đã vượt lên trên định kiến, trên những ràng buộc khắt khe của xã hội phong kiến để tìm lại chính mình. Đây cũng chính là thông điệp mang tính thời sự, khích lệ người phụ nữ hiện đại dám sống thật, dám yêu, dám đấu tranh cho hạnh phúc của bản thân.
Yếu tố nghệ thuật đặc sắc góp phần tạo nên thành công của ca khúc chính là phần hình ảnh trong MV. Mỗi phân cảnh như một bức tranh sống động về văn hóa vùng cao, từ trang phục thổ cẩm tinh xảo, đến những điệu xòe hoa rực rỡ, từ cảnh thiên nhiên hùng vĩ đến không gian sinh hoạt đậm chất miền núi. Tất cả được dàn dựng công phu, cho thấy sự trân trọng của người nghệ sĩ với di sản văn hóa dân tộc. Giọng hát của Hoàng Thùy Linh vừa trong trẻo, vừa day dứt, truyền tải trọn vẹn những cung bậc cảm xúc của nhân vật, khi thì u buồn tê tái, lúc lại mạnh mẽ quyết liệt.
"Để Mị Nói Cho Mà Nghe" không đơn thuần là một bài hát giải trí, mà đã trở thành một hiện tượng văn hóa. Tác phẩm khơi dậy trong công chúng, đặc biệt là giới trẻ, sự quan tâm đến văn học dân tộc và những giá trị văn hóa truyền thống. Qua đó, bài hát gửi gắm thông điệp về sự đồng cảm, về việc lắng nghe những số phận, những tiếng nói bị lãng quên trong xã hội.
Có thể nói, "Để Mị Nói Cho Mà Nghe" là một tác phẩm nghệ thuật đa diện, kết hợp hoàn hảo giữa tính dân tộc và hiện đại. Bài hát không chỉ chinh phục người nghe bằng giai điệu cuốn hút mà còn khiến ta suy ngẫm về những giá trị nhân văn sâu sắc. Thành công của ca khúc một lần nữa khẳng định tài năng và tâm huyết của Hoàng Thùy Linh trong hành trình sáng tạo nghệ thuật, đồng thời mở ra hướng đi mới cho âm nhạc Việt, nơi những giá trị truyền thống được tái hiện sinh động và có sức sống mạnh mẽ trong lòng công chúng đương đại.
Đề thi học kì 1 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 10
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
GIỖ TỔ HÙNG VƯƠNG – LỄ HỘI ĐỀN HÙNG
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng bắt nguồn từ thời đại Hùng Vương dựng nước và được tổ chức hàng năm từ ngày mùng 6 đến ngày mùng 10 tháng 3 âm lịch tại Khu Di tích Đền Hùng. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã trở thành lễ hội mang tính văn hóa tâm linh lớn nhất nước ta; hàng năm đến ngày Giỗ Tổ và tổ chức Lễ Hội, con cháu trên mọi miền tổ quốc hành hương về với tấm lòng thành kính dâng lên tổ tiên, tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng và các bậc tiền nhân của dân tộc. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã trở thành động lực tinh thần của dân tộc Việt Nam.
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng chủ yếu gồm hai phần: Phần Lễ và phần Hội. Phần Lễ được tiến hành với nghi thức trang nghiêm, trọng thể tại đền thượng; Phần Hội được diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa phong phú mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc dưới chân núi Hùng.
Trong phần Lễ: Nghi thức dâng hoa của các đoàn đại biểu Đảng, Chính phủ, các tỉnh thành được tổ chức long trọng trên đền Thượng. Từ chiều mồng 9, các làng rước kiệu dâng lễ bánh giày, bánh chưng đã tập trung đông đủ dưới cổng Công Quán. Sáng sớm hôm sau, các đoàn đại biểu xếp hàng chỉnh tề đi sau cỗ kiệu rước lễ vật lần lượt đi lên đền trong tiếng nhạc của phường bát âm và đội múa sinh tiền. Tới trước cửa đền Thượng (Kính thiên lĩnh điện), đoàn đại biểu dừng lại kính cẩn dâng lễ vào Thượng cung. Đồng chí lãnh đạo Tỉnh thay mặt cho nhân dân cả nước kính cẩn đọc diễn văn Lễ Tổ. Toàn bộ nội dung hành lễ được truyền tải trên hệ thống phát thanh, truyền hình để đồng bào cả nước theo dõi lễ hội. Trong thời gian tiến hành nghi lễ, toàn bộ diễn trường tạm ngừng các hoạt động để đảm bảo tính linh thiêng và nghiêm trang của Lễ Hội.
Phần Hội: Diễn ra tưng bừng náo nhiệt xung quanh khu vực núi Hùng. Hội Đền Hùng ngày nay có thêm nhiều hình thức sinh hoạt văn hóa phong phú hấp dẫn. Trong khu vực Hội, nhiều cửa hàng bán đồ lưu niệm, văn hóa phẩm, các quán bán hàng dịch vụ ăn uống, các trại văn hóa của 13 huyện, thành, thị, các hoạt động biểu diễn văn nghệ, thi thể thao,... tạo ra nhiều màu sắc sinh động, náo nhiệt cho bức tranh ngày hội. Các hoạt động văn hóa truyền thống, các trò chơi dân gian được tổ chức tại lễ hội như đấu vật, bắn nỏ, rước kiệu, hội thi gói, nấu bánh chưng, giã bánh giày, thi kéo lửa thổi cơm, trò diễn “Bách nghệ khôi hài” và Trò Trám của làng Tứ Xã, rước lúa thần... Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp như Chèo, kịch nói, hát quan họ, hát Xoan hội diễn văn nghệ quần chúng... phục vụ đồng bào về dự hội. Trên khu vực Công quán luôn âm vang tiếng trống đồng, tiếng giã đuống rộn ràng của các nghệ nhân dân gian người dân tộc Mường ở Thanh Sơn ra phục vụ Lễ hội.
Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng đã hình thành từ rất sớm và sự tồn tại của nó luôn gắn chặt với quá trình phát triển của lịch sử dân tộc. Với truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lý “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, các Vua Hùng cùng các vợ, con, các tướng lĩnh, các nhân vật liên quan thời kỳ Hùng Vương luôn được nhân dân ở các làng, xã trên phạm vi cả nước tôn thờ. Giỗ Tổ Hùng Vương – Lễ hội Đền Hùng hàng năm là hành hương mang ý nghĩa tâm linh đã trở thành nếp nghĩ, nét văn hóa truyền thống không thể thiếu của người Việt; đó là truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc Việt Nam.
( Theo https://www.dulichphutho.gov.vn/MTE5dg.html)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Xác định nội dung thông tin của văn bản trên?
Câu 2. Theo tác giả, Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng thể hiện truyền thống và đạo lý gì của dân tộc?
Câu 3. Nêu mục đích và thái độ của người viết được thể hiện qua văn bản.
Câu 4. Thông tin trong văn bản được triển khai theo trình tự nào? Nêu hiệu quả của việc triển khai thông tin theo trình tự đó?
Câu 5. Trong bối cảnh hội nhập toàn cầu, việc duy trì những lễ hội như Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng có còn cần thiết không? Vì sao?
II. PHẦN VIẾT
Anh/ chị hãy viết bài văn thuyết minh về một hiện tượng trong tự nhiên, trong đó có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định đối tượng được cung cấp thông tin
Cách giải:
Nội dung thông tin của văn bản: Nguồn gốc, lịch sử ra đời và các nghi lễ, các hoạt động biểu diễn trong Lễ hội Đền Hùng.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra chi tiết phù hợp
Cách giải:
Theo tác giả, Giỗ Tổ Hùng Vương –Lễ hội Đền Hùng thể hiện truyền thống “Uống nước nhớ nguồn” và đạo lí “ Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc.
Câu 3:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung (cung cấp thông tin chi tiết, khách quan) và đối tượng hướng đến (người đọc muốn tìm hiểu).
Cách giải:
- Mục đích: Cung cấp cho người đọc những thông tin về trình tự các nghi lễ của ngày Giỗ Tổ Hùng Vương –lễ hội đền Hùng.
- Thái độ của người viết:
+ Tưởng nhớ công lao dựng nước của các vua Hùng.
+ Trân trọng, tự hào những giá trị văn hóa tốt đẹp, truyền thống “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc thông qua lễ Lễ hội Đền Hùng.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các cách triển khai thông tin trong văn bản thông tin để xác định
Cách giải:
- Thông tin được triển khai theo trình tự thời gian: từ nguồn gốc lịch sử, thời gian, địa điểm cho đến các nghi lễ, các hoạt động diễn ra trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng.
- Thông tin được trình bày đầy đủ, ngắn gọn, sinh động, chân thực giúp người đọc hình dung dễ dàng và cụ thể về các sự kiện diễn ra trong ngày Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Khẳng định việc duy trì những lễ hội như Giỗ Tổ Hùng Vương- Lễ hội Đền Hùng là rất cần thiết.
- Lý giải:
+ Giúp các thế hệ sau tưởng nhớ và bày tỏ lòng biết ơn công lao dựng nước của các vua Hùng
+ Từ đó có ý thức trân trọng cuộc sống hiện tại, sống có trách nhiệm, cố gắng học tập, lao động xây dựng phát triển đất nước.
+ Góp phần gìn giữ và phát huy những giá trị tinh thần tốt đẹp đã được hình thành và lưu truyền từ xưa đến nay thông qua các lễ hội, tạo nên bản sắc, tinh hoa văn hóa dân tộc.
+ Duy trì các lễ hội truyền thống cũng là thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xu hướng hội nhập “hòa nhập chứ không hòa tan”.
Cách giải:
Trong dòng chảy hội nhập quốc tế, khi những giá trị văn hóa đan xen và giao thoa mạnh mẽ, việc gìn giữ các lễ hội cổ truyền mang ý nghĩa then chốt trong việc bảo tồn di sản văn hóa dân tộc. Giỗ Tổ Hùng Vương Lễ hội Đền Hùng chính là một minh chứng tiêu biểu cho sự cần thiết đó. Lễ hội này không chỉ là biểu tượng cho truyền thống "Uống nước nhớ nguồn" mà còn giúp thế hệ trẻ hiểu sâu sắc về cội nguồn, từ đó bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc. Hơn thế, trong bối cảnh toàn cầu hóa, lễ hội trở thành cầu nối quan trọng để bảo vệ bản sắc văn hóa Việt, thực hiện phương châm "hòa nhập chứ không hòa tan". Sức mạnh cộng đồng được thể hiện rõ qua việc lễ hội quy tụ hàng triệu người con đất Việt, tạo nên khối đại đoàn kết dân tộc vững chắc. Đồng thời, với giá trị văn hóa đặc sắc, lễ hội còn góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, thu hút du khách quốc tế và thúc đẩy phát triển kinh tế du lịch. Có thể khẳng định, Giỗ Tổ Hùng Vương Lễ hội Đền Hùng mãi mãi giữ vị trí không thể thay thế trong đời sống tinh thần của người dân Việt Nam.
II. PHẦN VIẾT
Phương pháp:
*Giới thiệu sự vật, hiện tượng trong tự nhiên được thuyết minh.
- Nêu thông tin khái quát về sự vật, hiện tượng đó.
*Triển khai vấn đề nghị luận:
- Chọn lọc, sắp xếp và triển khai các ý đã tìm được theo một trình tự sau:
+ Làm rõ hiện tượng tự nhiên được thuyết minh là hiện tượng gì?
+ Cung cấp thông tin về hiện tượng được thuyết minh theo trình tự phù hợp với đối tượng thuyết minh.
(Trình tự không gian, cấu trúc nguyên nhân – hệ quả - giải pháp, theo diễn biến trong thời gian)
+ Việc nhận thức đầy đủ về hiện tượng được thuyết minh có ý nghĩa như thế nào với mỗi người?
- Cần xác định yếu tố tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận nào có thể đưa vào vị trí thích hợp để làm tăng hiệu quả biểu đạt và sức hấp dẫn của bài viết.
*Khái quát ý nghĩa của sự vật, hiện tượng được thuyết minh; gợi mở những ý tưởng có thể tiếp nối.
Cách giải:
Trong vô vàn hiện tượng kỳ diệu của tự nhiên, cực quang được xem như một trong những kiệt tác ngoạn mục nhất của bầu trời đêm. Những dải sáng rực rỡ chuyển động uyển chuyển trên nền trời đen thẫm tạo nên một khung cảnh huyền ảo, thu hút sự quan tâm của giới khoa học và những người yêu thiên nhiên khắp thế giới.
Về bản chất khoa học, cực quang là hiện tượng quang học sinh ra do sự tương tác giữa các hạt mang điện tích từ gió Mặt Trời với từ trường Trái Đất. Khi các hạt electron và proton di chuyển với tốc độ cao vào bầu khí quyển, chúng va chạm với các phân tử khí như oxy và nitơ, giải phóng năng lượng dưới dạng những dải sáng đầy màu sắc. Hiện tượng này chủ yếu xuất hiện ở các vùng cực, nên được phân thành Bắc Cực quang và Nam Cực quang.
Vẻ đẹp của cực quang thực sự là một màn trình diễn ánh sáng ngoạn mục của tự nhiên. Những dải sáng màu xanh lục, tím, hồng và đỏ nhảy múa trên bầu trời đêm như những tấm rèm the mềm mại đang đung đưa trong gió. Đôi khi, chúng xuất hiện như những vòng cung lộng lẫy trải dài từ chân trời này sang chân trời khác. Có lúc, cực quang lại biến hóa thành những tia sáng dài màu tím huyền bí vươn thẳng lên trời cao như những cây đàn organ khổng lồ. Khi đạt đến cường độ mạnh nhất, toàn bộ bầu trời như bừng sáng trong một vũ hội ánh sáng với những dải màu chuyển động không ngừng, tạo ra cảnh tượng choáng ngợp và đẹp đến nghẹt thở.
Màu sắc của cực quang phụ thuộc vào loại khí mà chúng tương tác và độ cao của hiện tượng. Ánh sáng xanh lục phổ biến nhất được tạo ra bởi oxy ở độ cao từ 100 đến 300 km. Màu đỏ hiếm gặp hơn xuất hiện khi oxy ở độ cao trên 300 km bị kích thích. Nitơ tạo ra màu xanh lam và tím, trong khi sự kết hợp của các khí có thể tạo ra màu vàng và hồng. Sự pha trộn màu sắc này tạo nên một bức tranh thiên nhiên sống động, khiến người xem có cảm giác như đang lạc vào thế giới thần tiên.
Trong lịch sử văn hóa nhân loại, cực quang luôn gắn liền với những truyền thuyết và tín ngưỡng độc đáo. Người Sami ở Bắc Âu tin rằng đó là linh hồn của những con cáo tuyết vẫy đuôi trên trời cao. Người Viking cổ đại quan niệm cực quang là cây cầu lửa do các thần linh tạo ra. Ở Nhật Bản, tồn tại quan niệm cho rằng trẻ em sinh ra dưới ánh cực quang sẽ có một cuộc đời hạnh phúc và may mắn.
Đối với giới khoa học, nghiên cứu cực quang mang ý nghĩa quan trọng trong việc tìm hiểu mối quan hệ giữa Trái Đất và Mặt Trời. Hiện tượng này cung cấp thông tin quý giá về hoạt động của từ trường Trái Đất và ảnh hưởng của gió Mặt Trời. Những nghiên cứu này không chỉ có giá trị học thuật mà còn giúp dự báo các cơn bão từ có thể ảnh hưởng đến hệ thống viễn thông và lưới điện.
Ngày nay, ngắm cực quang đã trở thành một loại hình du lịch đặc biệt thu hút đông đảo du khách. Các điểm đến lý tưởng như Na Uy, Iceland, Canada, Phần Lan và Alaska trở thành những địa điểm được săn đón vào mùa đông. Để quan sát được hiện tượng này một cách rõ nét, cần những điều kiện thời tiết lý tưởng như bầu trời quang đãng, ít ô nhiễm ánh sáng và hoạt động của Mặt Trời đủ mạnh.
Hiện tượng cực quang không chỉ là một kỳ quan thiên nhiên mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về mặt sinh thái. Nó nhắc nhở con người về sự mong manh của bầu khí quyển và tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường Trái Đất. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu, việc nghiên cứu và bảo tồn những hiện tượng tự nhiên độc đáo như cực quang càng trở nên cấp thiết.
Cực quang mãi mãi là một trong những bí ẩn đẹp đẽ và hấp dẫn nhất của tự nhiên. Hiện tượng này không chỉ thể hiện sự kỳ diệu của vũ trụ mà còn khơi dậy trong lòng con người niềm đam mê khám phá và trân trọng những giá trị tự nhiên. Sự tồn tại của cực quang như lời nhắc nhở về mối liên hệ sâu sắc giữa Trái Đất và vũ trụ bao la, đồng thời khẳng định vẻ đẹp vĩnh hằng của thiên nhiên.
Công cụ tra cứu bỏ túi cho ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11
Tra cứu nhanh công thức, bảng biểu và phương pháp giải miễn phí 24/7
Tổng hợp công thức trọng tâm từ lớp 6 đến 12 chuẩn SGK mới GDPT 2018.
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, cuối kỳ các môn có lời giải chi tiết.
Công thức chuẩn, dấu hiệu nhận biết (Signal words) & chia động từ tự động.
Đánh giá độ hữu ích của lời giải
Ý kiến của em giúp Tri Thức Hub nâng cao chất lượng bài giảng
Lời giải bài Đề thi học kì 1 Văn 11 có giúp em hiểu rõ phương pháp và tự làm được bài tập không?
Luyện trắc nghiệm ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Bài học cùng chuyên đề: Đề thi học kì 1 lớp 11 - Chân trời sáng tạo
Đề ôn luyện trắc nghiệm liên quan
Trắc nghiệm củng cố: Đề thi học kì 1 Văn 11
Bộ câu hỏi trắc nghiệm rèn luyện tư duy và ghi nhớ kiến thức cốt lõi.
Kho đề thi & Kiểm tra định kỳ Lớp 11
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, học kỳ và đề ôn luyện trắc nghiệm trực tuyến miễn phí.
Luyện đề thi Giữa kì & Học kì ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Sau khi học xong "Đề thi học kì 1 Văn 11- Chân trời sáng tạo", bạn có thể thử sức ngay với kho đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết và đề thi học kì chuẩn phân phối chương trình Kết Nối Tri Thức. Hỗ trợ tải trọn bộ PDF đề bài kèm Lời giải chi tiết trên App Tri Thức Hub!
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
