
Đề thi học kì 2 Văn 11
Flashcard 60s: Kiến thức cốt lõi
Lật thẻ nhớ nhanhChỉ 1 phút nắm trọn định nghĩa, dạng bài và bí quyết làm bài trước khi đọc giải
Ghi nhớ & Mẹo giải nhanh: Đề thi học kì 2 Văn 11
Đề cương ôn tập học kì 2 Văn 11 - Chân trời sáng tạo
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Truyện ngắn
- Là thể loại tự sự hư cấu có dung lượng nhỏ, thường phù hợp để đọc hết trong một lần. Với quy mô hạn chế, số lượng nhân vật và sự kiện ít, truyện ngắn chỉ tập trung miêu tả một khía cạnh hoặc trạng thái cụ thể của đời sống xã hội
- Cốt truyện của truyện ngắn hiện đại thường đơn giản, cô đúc; tập trung xoay quanh một tình huống. Trong đó, các sự kiện trong câu chuyện được sắp xếp theo hướng tập trung vào một vài biến cố chính, dồn nén mâu thuẫn trong một khoảng thời gian ngắn
- Nhân vật trong truyện ngắn: Truyện ngắn hiện đại thường chỉ có 1-2 nhân vật chính- tức nhân vật hiện lên như một chủ thể độc lập, giữ vai trò chủ đạo trong việc thể hiện chủ đề và tư tưởng của tác phẩm – được khắc họa qua ngoại hình, hành động, đối thoại, độc thoại nội tâm và qua đánh giá của các nhân vật khác cũng như của người kể chuyện
b. Truyện thơ Nôm
- Là loại hình tác phẩm tự sự độc đáo của văn học trung đại Việt Nam, kết hợp phương thức tự sự và trữ tình, được viết bằng chữ Nôm, trong đó, tiêu chí đặc điểm nội dung và nghệ thuật được sử dụng độc đáo
- Có thể chia thành 2 nhóm: truyện thơ Nôm bình dân và truyện thơ Nôm bác học
- Đề tài, chủ đề của truyện thơ Nôm rất rộng mở, từ tôn giáo, lịch sử, xã hội đến cuộc sống đời thường; đặt ra nhiều vấn đề bức thiết của thời đại
- Trong truyện thơ Nôm, các câu chuyện thường được kể theo trình tự thời gian với nhiều yếu tố ngẫu nhiên, kì ảo và thường được tổ chức theo mô hình: Gặp gỡ - Chia li- Đoàn tụ
- Nhân vật của truyện thơ Nôm khá phong phú, đa dạng về thành phần
c. Thơ
- Tượng trưng là loại hình ảnh mang tính trực quan, sinh động nhưng hàm nghĩa biểu đạt những tư tưởng, quan niệm, khái niệm trừu tượng.
- Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình: Thông thường, thơ trữ tình diễn tả thế giới nội tâm của chủ thể trữ tình thông qua những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi cảm. Tuy nhiên, một số tác phẩm thơ trữ tình còn đi sâu vào những vấn đề triết học, thông qua những chi tiết có tính tượng trưng cao. Yếu tố tượng trưng trong thơ trữ tình là những chi tiết, hình ảnh cụ thể, gợi cảm gợi lên những ý niệm trừu tượng và giàu tính triết lí, đánh thức suy ngẫm của người đọc về bản chất sâu xa của con người và thế giới.
- Hình thức trong thơ trữ tình là tổng hoà của thể thơ, câu thơ, lời thơ, giọng điệu, nhịp, vần, hình ảnh,... trong thơ trữ tình. Tất cả được lựa chọn, liên kết để thể hiện chủ đề, tư tưởng chung của tác phẩm.
- Cấu tứ là cách thức triển khai mạch cảm xúc và tổ chức hình tượng trong tác phẩm thơ trữ tình.
d. Kí
- Truyện kí là thể loại trung gian giữa truyện và kí. Truyện kí rất gần với kí ở yêu cầu về tính xác thực dựa trên việc ghi chép người thật, việc thật; nhưng cũng gần với truyện ở chỗ thường có cốt truyện hoàn chỉnh hoặc tương đối hoàn chỉnh.
- Tuy được xem là thể loại phi hư cấu nhưng do yêu cầu dung hoà yếu tố truyện với yếu tố kí, yêu cầu thể hiện tính xác thực theo cách riêng của thể loại, người viết truyện kí cũng được phép hư cấu ở một mức độ nhất định.
- Sự kết hợp giữa phi hư cấu và hư cấu trong truyện kí
+Phi hư cấu là cách phản ánh hiện thực theo nguyên tắc đề cao tính xác thực bằng cách “gọi thẳng tên và miêu tả càng chính xác càng tốt những con người và sự kiện có thực”, đặc biệt là đối với các chi tiết, sự kiện mang thông tin xác định, có thể kiểm chứng (gọi là “thành phần xác định”) như: tên tuổi, lai lịch, ngoại hình, nguồn gốc gia đình, ngọn nguồn văn hoá, quan hệ gia đình – xã hội,... của nhân vật; thời gian, không gian, địa điểm,... thuộc bối cảnh của câu chuyện hay diễn biến của sự việc,...
+Hư cấu là dùng trí tưởng tượng sáng tạo ra cái mới, những điều khác lạ không có hoặc chưa có trong thế giới thực nhằm mục đích nghệ thuật. Trong truyện kí, có không ít loại chi tiết, yếu tố không xác định, không cần và không thể kiểm chứng.
2. Phần tiếng Việt
a. Một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường
b. Biện pháp tu từ đối
c. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
d. Lỗi về thành phần câu
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm nghệ thuật hoặc tác phẩm văn học
b. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học (bài thơ) hoặc tác phẩm nghệ thuật (bức tranh, pho tượng)
c. Viết văn bản thuyết minh (về một đối tượng) có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
*Đề bài
Văn bản Chiều sương
Câu 1: Cảnh vật làng chài vào chiều xuân hiện lên như thế nào qua cảm nhận của nhân vật chính?
Đọc kĩ đoạn đầu văn bản
Cảnh vật làng chài vào chiều xuân hiện lên với hình ảnh sương bay mù mịt từng luồng, thê lương ảm đạm
Câu 2: Theo quan điểm của nhân vật Chàng thì mối quan hệ giữa cõi âm và cõi dương là gì?
Đọc kĩ văn bản
Theo quan điểm của nhân vật Chàng thì mối quan hệ giữa cõi âm và cõi dương là nương nhau vấn vít
“Trong ý nghĩ lão chài, chàng đoán, âm dương không phân ranh giới rõ ràng, cõi sống và cõi chết nương nhau vấn vít”
Văn bản Muối của rừng
Câu 3: Khi rừng kết muối là điềm báo cho điều gì?
Đọc kĩ văn bản
Khi rừng kết muối là điềm báo cho một năm yên bình, mùa màng phong túc
Câu 4: Trong quan niệm của người kể chuyện, “muối của rừng” kết tinh từ đâu?
Tập trung khai thác đoạn cuối văn bản, từ đó cho biết trong quan niệm của người kể chuyện, “muối của rừng” kết tinh từ đâu
Trong quan niệm của người kể chuyện, “muối của rừng” kết tinh của lòng trắc ẩn, lương thiện, khát khao hướng thiện. Khi con người có lòng trắc ẩn, biết làm việc thiện việc tốt thì sẽ gặp được may mắn.
Văn bản Trao duyên
Câu 5: Thúy Kiều dùng những từ như “cậy”, “thưa” cùng hành động “lạy” là muốn thể hiện điều gì?
Đọc kĩ 2 câu đầu và phân tích lời nói, hành động của Thúy Kiều
Lời nhờ cậy chứng tỏ:
+ Việc Kiều nhờ em rất thiêng liêng.
+ Kiều đặt Vân vào hoàn cảnh không thể từ chối.
+ Kiều đang trong một hoàn cảnh đặc biệt khác thường, nài ép Vân phải nhận.
Câu 6: Hình ảnh: “lò hương”, “ngọn cỏ lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”,… gợi đến điều gì?
Hình ảnh: “lò hương”, “ngọn cỏ lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”, “đền nghì trúc mai”, “dạ đài”, “giọt nước”, “người thác oan”… → nhắc nhiều đến cái chết.
→ Kiều coi mình như đã chết. Kiều vẫn đang nuối tiếc, xót xa những kỉ niệm hạnh phúc, vẫn hi vọng mong manh về sự sum họp.
→ Tình cảm của Kiều dành cho Kim Trọng rất sâu sắc và mãnh liệt.
Văn bản Độc Tiểu Thanh Kí
Câu 7: "Son phấn", "văn chương" là để nói về điều gì ở Tiểu Thanh?
Đọc chú thích để biết được nghĩa.
"Son phấn", "văn chương" là để nói Tiểu Thanh là một cô gái xinh đẹp, có tài hoa
Câu 8: Việc sử dụng phép đối trong các câu thơ thực và luận thể hiện điều gì?
Nhận biết phép đối được sử dụng trong hai câu thơ thực và luận và phân tích tác dụng
“Son phấn” – “văn chương”
“vẫn hận” – “còn vương”
“Nỗi hờn” – “cái án”
→ Việc sử dụng phép đối trong các câu thơ thực và luận thể hiện cái tài, cái sắc đi kèm với số phận bi thảm, đau khổ.
Văn bản Kính gửi cụ Nguyễn Du
Câu 9: Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là gì?
Đọc kĩ bài thơ và phân tích cảm xúc chủ đạo
Thể hiện sự tôn kính và kính trọng của Tố Hữu đối với Nguyễn Du. Đồng thời thể hiện sự trân trọng, ca ngợi của Tố Hữu đối với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam
Câu 10: “Giữa dòng trong đục, bánh bèo lênh đênh”
Hình ảnh thơ ẩn dụ cho điều gì?
Đọc kĩ câu thơ, nhớ lại kiến thức về biện pháp ẩn dụ và phân tích
Hình ảnh thơ ẩn dụ cho sự gian truân, sóng gió, lênh đênh chìm nổi trong cuộc đời Kiều: cuộc đời của người phụ nữ “tài hoa mà bạc mệnh”
Văn bản Nguyệt cầm
Câu 11: Tại sao khi nhìn bóng sáng “lung linh”, người ta lại thấy “rùng mình”?
Đọc kĩ hai câu thơ tiếp theo và phân tích
Nguyên nhân của sự rung mình đó cũng được nhà thơ lí giải, đó là sự tích về cái chết của người phụ nữ, khi người phụ nữ ấy cất tiếng hát rồi đắm mình trong dòng chảy của dòng nước xanh, vào đúng thời khắc đêm rằm, khi ánh trăng cũng đẹp, cũng lung linh như vậy.
Câu 12: Ý nghĩa của đoạn thơ:
“Lung linh bóng sáng bỗng rùng mình
Vì nghe nương tử trong câu hát
Đã chết đem rằm theo nước xanh”
Đọc kĩ đoạn thơ
Chú ý các hình ảnh đặc sắc
Đoạn thơ diễn tả nỗi niềm hoài cảm, tiếc thương kiếp người tài hoa nhưng bạc mệnh. Diễn tả nỗi sợ hãi chuyển đổi từ thính giác sang xúc giác
Văn bản Thời gian
Câu 13: Hình ảnh “thời gian qua kẽ tay” gợi liên tưởng đến điều gì?
Đọc câu thơ đầu tiên và phân tích
Hình ảnh thơ gợi liên tưởng đến sự tương phản giữa cái hữu hình và vô hình, cái hữu hạn và vô hạn. Như một tất yếu, sự hiện hữu của thời gian trong cuộc đời mỗi người là hữu hạn, bởi thời gian ấy so với cái “vô thủy vô chung” của vũ trụ thì hư ảo, mong manh, ngắn ngủi vô cùng.
Như một quy luật hiện sinh, thời gian qua đi là miên viễn không bao giờ trở lại. Sự nghiệt ngã ấy chính là bi kịch của phận người, con người không thể nào nắm giữ, níu kéo được thời gian.
Câu 14: Hình ảnh “khô những chiếc lá” và “rơi những kỉ niệm” gợi liên tưởng về điều gì?
Đọc hai câu thơ và phân tích
“Khô những chiếc lá”, “Rơi những kỷ niệm” → gợi lên liên tưởng về sự lụi tàn, mờ nhạt của sự vật theo thời gian như lá rơi vào mùa thu, kỷ niệm quá lâu dần bị con người lãng quên.
Hai câu thơ đã thức nhận cho chúng ta cái ý nghĩa nhân sinh tưởng như bình thường mà không phải ai cũng nhận biết được khi con người luôn đắm chìm trong quá nhiều tham vọng của cuộc sống
Văn bản Ngôi nhà tranh của cụ Phan Bội Châu ở Bến Ngự
Câu 15: Qua lời của nhân vật Tuấn, cụ Phan Bội Châu hiện lên như thế nào?
Khai thác nội dung đoạn để tìm ra những chi tiết, hình ảnh miêu tả cụ Phan Bội Châu qua lời kể của Tuấn
Hình ảnh cụ Phan Bội Châu qua lời kể của Tuấn:
- “chòm râu phong phú, mắt đeo kính trắng, vòm trán cao vút tận đỉnh đầu”
- “bước đi thư thả, tay mặt chống ba toong….- tay trái hơi cong, bàn tay lấp dưới tà áo nâu dài”
- “trông cụ không khác nào một vị tiên lão da mặt hồng hào, đang bước thung dung ở dưới bóng cây”
→ Qua lời kể của Tuấn, cụ Phan Bội Châu hiện lên là một người hiền tài với phong thái ung dung, từ tốn. Hơn nữa, ở cụ còn toát lên vẻ đẹp lạ kỳ, đó là vẻ đẹp của một vị tiên lão.
Câu 16: Nội dung chính của văn bản là gì?
Đọc kĩ văn bản, rút ra nội dung chính
Tác phẩm thể hiện niềm kính trọng của tác giả nói riêng và của toàn dân tộc nói riêng đối với Phan Bội Châu – một nhà yêu nước lỗi lạc
Văn bản Tôi đã học tập như thế nào?
Câu 17: Sự xuất hiện của Đức Giám mục và cuộc trò chuyện giữa ngài với Pê-xcốp cùng các học sinh trong lớp đã có tác động như thế nào đến Pê-xcốp?
Khai thác nội dung văn bản đoạn nhân vật Pê-xcốp cùng các bạn trò chuyện với Đức Giám mục để tìm ra những tác động đến Pê-xcốp sau buổi nói chuyện đó
Sự xuất hiện của Đức Giám mục và cuộc trò chuyện giữa ngài với Pê-xcốp cùng các học sinh trong lớp đã có tác động đến Pê-xcốp, sau buổi nói chuyện ấy, Pê-xcốp đã rất xúc động, cậu cảm nhận được một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực mình, dường như được lắng nghe và cảm thông, cho dù khi bị giữ lại bởi thầy giáo thì vẫn vui lòng, chăm chú nghe từ đầu tới cuối.
Câu 18: Theo tác giả, sách đem đến tác dụng gì?
Đọc kĩ văn bản
“…hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những mối quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa”
Văn bản Nhớ con sông quê hương
Câu 19: “Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ
Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ
Sông của miền Nam nước Việt thân yêu”
Những câu thơ trên thể hiện tình cảm gì của tác giả với con sông quê hương?
Đọc kĩ đoạn thơ và phân tích
Những câu thơ thể hiện sự gắn bó tha thiết của con sông đối với cuộc đời Tế Hanh. Đó là hình ảnh con sông “tắm cả đời tôi”. Tác giả dùng phép chuyển nghĩa và lối cường điệu để nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của dòng sông với cuộc đời mình.
Câu 20: “Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi!
Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ”
Câu thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
Đọc kĩ câu thơ, nhớ lại kiến thức nhận biết biện pháp nghệ thuật
Phép nhân hóa giữa dòng sông và con người, càng làm cho hình ảnh dòng sông thêm gần gũi và thân thiết hơn. Con sông “quê hương” “sông tuổi trẻ” thể hiện tình yêu quê hương tha thiết.
2. Phần tiếng Việt
a. Một số hiện tượng phá vỡ những quy tắc ngôn ngữ thông thường
Câu 1: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
(Tràng giang)
Câu thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường nào?
Câu 2:
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Đoạn thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc thông thường nào?
b. Biện pháp tu từ đối
Câu 3: Tác dụng của phép đối là?
c. Biện pháp tu từ lặp cấu trúc
Câu 4: Xác định câu văn KHÔNG sử dụng phép lặp cú pháp trong đoạn trích sau?
“ Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa”
(Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh)
Câu 5: Câu văn sau sử dụng phép liên kết gì?
Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người
d. Lỗi về thành phần câu
Câu 6: Có thể đặt những câu hỏi nào khi gặp một câu khó hiểu?
Nhớ lại kiến thức về cách phát hiện và sửa lỗi về thành phần câu
Đọc kĩ lại các câu trong bài. Nếu gặp một câu khó hiểu thì nên kiểm tra xem vì sao không hiểu được
+ Vì vấn đề khó quá, vượt hiểu biết của bản thân?
+ Vì câu đó sử dụng những từ ngữ khó hiểu?
+ Vì câu thiếu thành phần chính?
+ Vì câu thiếu lô - gíc?
Câu 7: Có thể sửa lỗi về thành phần câu bằng cách nào?
Nhớ lại kiến thức về cách phát hiện và sửa lỗi về thành phần câu
Có thể sửa lỗi về thành phần câu bằng cách:
+ Bổ xung từ ngữ để làm thành phần bị thiếu
+ Cắt bớt từ ngữ để từ ngữ còn lại đảm nhận được vai trò của thành phần bị thiếu
+ Thay đổi trật tự từ ngữ để một từ ngữ nhất định đảm nhận được vai trò của thành phần bị thiếu
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm nghệ thuật hoặc tác phẩm văn học
Đề 1: Nêu suy nghĩ của em về khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ trong tác phẩm Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
Đề 2: Nêu suy nghĩ của em về nạn săn bắn thú rừng hoang dã ở Việt Nam hiện nay qua truyện ngắn Muối của rừng
b. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học (bài thơ) hoặc tác phẩm nghệ thuật (bức tranh, pho tượng)
Đề 3: Viết bài văn phân tích bài thơ Nắng mới
Đề 4: Viết bài văn phân tích bài thơ Nhớ đồng
c. Viết văn bản thuyết minh (về một đối tượng) có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận
Đề 5: Thuyết minh về Bánh trôi nước
Đề 6: Thuyết minh về chiếc nón lá
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
Câu 1: Cảnh vật làng chài vào chiều xuân hiện lên như thế nào qua cảm nhận của nhân vật chính? |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn đầu văn bản
Lời giải chi tiết
Cảnh vật làng chài vào chiều xuân hiện lên với hình ảnh sương bay mù mịt từng luồng, thê lương ảm đạm
|
Câu 2: Theo quan điểm của nhân vật Chàng thì mối quan hệ giữa cõi âm và cõi dương là gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Theo quan điểm của nhân vật Chàng thì mối quan hệ giữa cõi âm và cõi dương là nương nhau vấn vít
“Trong ý nghĩ lão chài, chàng đoán, âm dương không phân ranh giới rõ ràng, cõi sống và cõi chết nương nhau vấn vít”
|
Câu 3: Khi rừng kết muối là điềm báo cho điều gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Khi rừng kết muối là điềm báo cho một năm yên bình, mùa màng sung túc
|
Câu 4: Trong quan niệm của người kể chuyện, “muối của rừng” kết tinh từ đâu? |
Phương pháp
Tập trung khai thác đoạn cuối văn bản, từ đó cho biết trong quan niệm của người kể chuyện, “muối của rừng” kết tinh từ đâu
Lời giải chi tiết
Trong quan niệm của người kể chuyện, “muối của rừng” kết tinh của lòng trắc ẩn, lương thiện, khát khao hướng thiện. Khi con người có lòng trắc ẩn, biết làm việc thiện việc tốt thì sẽ gặp được may mắn.
|
Câu 5: Thúy Kiều dùng những từ như “cậy”, “thưa” cùng hành động “lạy” là muốn thể hiện điều gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ 2 câu đầu và phân tích lời nói, hành động của Thúy Kiều
Lời giải chi tiết
Lời nhờ cậy chứng tỏ:
+ Việc Kiều nhờ em rất thiêng liêng.
+ Kiều đặt Vân vào hoàn cảnh không thể từ chối.
+ Kiều đang trong một hoàn cảnh đặc biệt khác thường, nài ép Vân phải nhận.
|
Câu 6: Hình ảnh: “lò hương”, “ngọn cỏ lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”,… gợi đến điều gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ các câu thơ
Lời giải chi tiết
Hình ảnh: “lò hương”, “ngọn cỏ lá cây”, “hiu hiu gió”, “hồn”, “thân bồ liễu”, “đền nghì trúc mai”, “dạ đài”, “giọt nước”, “người thác oan”… → nhắc nhiều đến cái chết.
→ Kiều coi mình như đã chết. Kiều vẫn đang nuối tiếc, xót xa những kỉ niệm hạnh phúc, vẫn hi vọng mong manh về sự sum họp.
→ Tình cảm của Kiều dành cho Kim Trọng rất sâu sắc và mãnh liệt.
|
Câu 7: "Son phấn", "văn chương" là để nói về điều gì ở Tiểu Thanh? |
Phương pháp
Đọc chú thích để biết được nghĩa.
Lời giải chi tiết
"Son phấn", "văn chương" là để nói Tiểu Thanh là một cô gái xinh đẹp, có tài hoa
|
Câu 8: Việc sử dụng phép đối trong các câu thơ thực và luận thể hiện điều gì? |
Phương pháp
Nhận biết phép đối được sử dụng trong hai câu thơ thực và luận và phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết
“Son phấn” – “văn chương”
“vẫn hận” – “còn vương”
“Nỗi hờn” – “cái án”
→ Việc sử dụng phép đối trong các câu thơ thực và luận thể hiện cái tài, cái sắc đi kèm với số phận bi thảm, đau khổ.
|
Câu 9: Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ bài thơ và phân tích cảm xúc chủ đạo
Lời giải chi tiết
Thể hiện sự tôn kính và kính trọng của Tố Hữu đối với Nguyễn Du. Đồng thời thể hiện sự trân trọng, ca ngợi của Tố Hữu đối với những giá trị văn hóa truyền thống của dân tộc Việt Nam
|
Câu 10: “Giữa dòng trong đục, bánh bèo lênh đênh” Hình ảnh thơ ẩn dụ cho điều gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ câu thơ, nhớ lại kiến thức về biện pháp ẩn dụ và phân tích
Lời giải chi tiết
Hình ảnh thơ ẩn dụ cho sự gian truân, sóng gió, lênh đênh chìm nổi trong cuộc đời Kiều: cuộc đời của người phụ nữ “tài hoa mà bạc mệnh”
|
Câu 11: Tại sao khi nhìn bóng sáng “lung linh”, người ta lại thấy “rùng mình”? |
Phương pháp
Đọc kĩ hai câu thơ tiếp theo và phân tích
Lời giải chi tiết
Nguyên nhân của sự rung mình đó cũng được nhà thơ lí giải, đó là sự tích về cái chết của người phụ nữ, khi người phụ nữ ấy cất tiếng hát rồi đắm mình trong dòng chảy của dòng nước xanh, vào đúng thời khắc đêm rằm, khi ánh trăng cũng đẹp, cũng lung linh như vậy.
|
Câu 12: Ý nghĩa của đoạn thơ: “Lung linh bóng sáng bỗng rùng mình Vì nghe nương tử trong câu hát Đã chết đem rằm theo nước xanh” |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn thơ
Chú ý các hình ảnh đặc sắc
Lời giải chi tiết
Đoạn thơ diễn tả nỗi niềm hoài cảm, tiếc thương kiếp người tài hoa nhưng bạc mệnh. Diễn tả nỗi sợ hãi chuyển đổi từ thính giác sang xúc giác
|
Câu 13: Hình ảnh “thời gian qua kẽ tay” gợi liên tưởng đến điều gì? |
Phương pháp
Đọc câu thơ đầu tiên và phân tích
Lời giải chi tiết
Hình ảnh thơ gợi liên tưởng đến sự tương phản giữa cái hữu hình và vô hình, cái hữu hạn và vô hạn. Như một tất yếu, sự hiện hữu của thời gian trong cuộc đời mỗi người là hữu hạn, bởi thời gian ấy so với cái “vô thủy vô chung” của vũ trụ thì hư ảo, mong manh, ngắn ngủi vô cùng.
Như một quy luật hiện sinh, thời gian qua đi là miên viễn không bao giờ trở lại. Sự nghiệt ngã ấy chính là bi kịch của phận người, con người không thể nào nắm giữ, níu kéo được thời gian.
|
Câu 14: Hình ảnh “khô những chiếc lá” và “rơi những kỉ niệm” gợi liên tưởng về điều gì? |
Phương pháp
Đọc hai câu thơ và phân tích
Lời giải chi tiết
“Khô những chiếc lá”, “Rơi những kỷ niệm” → gợi lên liên tưởng về sự lụi tàn, mờ nhạt của sự vật theo thời gian như lá rơi vào mùa thu, kỷ niệm quá lâu dần bị con người lãng quên.
Hai câu thơ đã thức nhận cho chúng ta cái ý nghĩa nhân sinh tưởng như bình thường mà không phải ai cũng nhận biết được khi con người luôn đắm chìm trong quá nhiều tham vọng của cuộc sống
|
Câu 15: Qua lời của nhân vật Tuấn, cụ Phan Bội Châu hiện lên như thế nào? |
Phương pháp
Khai thác nội dung đoạn để tìm ra những chi tiết, hình ảnh miêu tả cụ Phan Bội Châu qua lời kể của Tuấn
Lời giải chi tiết
Hình ảnh cụ Phan Bội Châu qua lời kể của Tuấn:
- “chòm râu phong phú, mắt đeo kính trắng, vòm trán cao vút tận đỉnh đầu”
- “bước đi thư thả, tay mặt chống ba toong….- tay trái hơi cong, bàn tay lấp dưới tà áo nâu dài”
- “trông cụ không khác nào một vị tiên lão da mặt hồng hào, đang bước thung dung ở dưới bóng cây”
→ Qua lời kể của Tuấn, cụ Phan Bội Châu hiện lên là một người hiền tài với phong thái ung dung, từ tốn. Hơn nữa, ở cụ còn toát lên vẻ đẹp lạ kỳ, đó là vẻ đẹp của một vị tiên lão.
|
Câu 16: Nội dung chính của văn bản là gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản, rút ra nội dung chính
Lời giải chi tiết
Tác phẩm thể hiện niềm kính trọng của tác giả nói riêng và của toàn dân tộc nói riêng đối với Phan Bội Châu – một nhà yêu nước lỗi lạc
|
Câu 17: Sự xuất hiện của Đức Giám mục và cuộc trò chuyện giữa ngài với Pê-xcốp cùng các học sinh trong lớp đã có tác động như thế nào đến Pê-xcốp? |
Phương pháp
Khai thác nội dung văn bản đoạn nhân vật Pê-xcốp cùng các bạn trò chuyện với Đức Giám mục để tìm ra những tác động đến Pê-xcốp sau buổi nói chuyện đó
Lời giải chi tiết
Sự xuất hiện của Đức Giám mục và cuộc trò chuyện giữa ngài với Pê-xcốp cùng các học sinh trong lớp đã có tác động đến Pê-xcốp, sau buổi nói chuyện ấy, Pê-xcốp đã rất xúc động, cậu cảm nhận được một tình cảm đặc biệt rộn rực trong ngực mình, dường như được lắng nghe và cảm thông, cho dù khi bị giữ lại bởi thầy giáo thì vẫn vui lòng, chăm chú nghe từ đầu tới cuối.
|
Câu 18: Theo tác giả, sách đem đến tác dụng gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
“…hầu như mỗi cuốn sách đều mở ra trước mắt tôi cánh cửa sổ nhìn vào một thế giới mới chưa từng biết, đều kể với tôi về những con người, những tình cảm, ý nghĩ và những mối quan hệ mà tôi chưa từng biết, chưa từng thấy. Thậm chí, tôi còn có cảm giác rằng cuộc đời xung quanh tôi, tất cả những khắc nghiệt, bẩn thỉu và tàn bạo hằng ngày diễn ra trước mắt tôi đều không phải là cái có thực, đều là thừa”
|
Câu 19: “Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi! Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ Sông của quê hương, sông của tuổi trẻ Sông của miền Nam nước Việt thân yêu” Những câu thơ trên thể hiện tình cảm gì của tác giả với con sông quê hương? |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn thơ và phân tích
Lời giải chi tiết
Những câu thơ thể hiện sự gắn bó tha thiết của con sông đối với cuộc đời Tế Hanh. Đó là hình ảnh con sông “tắm cả đời tôi”. Tác giả dùng phép chuyển nghĩa và lối cường điệu để nhấn mạnh ý nghĩa quan trọng của dòng sông với cuộc đời mình.
|
Câu 20: “Hỡi con sông đã tắm cả đời tôi! Tôi giữ mãi mối tình mới mẻ” Câu thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật gì? |
Phương pháp
Đọc kĩ câu thơ, nhớ lại kiến thức nhận biết biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết
Phép nhân hóa giữa dòng sông và con người, càng làm cho hình ảnh dòng sông thêm gần gũi và thân thiết hơn. Con sông “quê hương” “sông tuổi trẻ” thể hiện tình yêu quê hương tha thiết.
2. Phần tiếng Việt
|
Câu 1: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều (Tràng giang) Câu thơ trên sử dụng nào? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về các hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
Lời giải chi tiết
Hai câu thơ sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh một đặc điểm nào đó của đối tượng miêu tả thể hiện
|
Câu 2: Tôi muốn tắt nắng đi Cho màu đừng nhạt mất Tôi muốn buộc gió lại Cho hương đừng bay đi (Vội vàng, Xuân Diệu) Đoạn thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc thông thường nào? |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về các hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
Lời giải chi tiết
Hai câu thơ sử dụng hình thức tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới
|
Câu 3: Tác dụng của phép đối là |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về phép đối
Lời giải chi tiết
- Gợi sự phong phú về ý nghĩa (tương đồng và tương phản)
- Tạo ra sự hài hòa về thanh
- Nhấn mạnh ý
|
Câu 4: Xác định câu văn KHÔNG sử dụng phép lặp cú pháp trong đoạn trích sau? “ Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa” (Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh) |
Phương pháp
Đọc kĩ đoạn trích
Nhớ lại kiến thức về biện pháp lặp cú pháp
Lời giải chi tiết
Câu: Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị
|
Câu 5: Câu văn sau sử dụng phép liên kết gì? Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người |
Phương pháp
Nhớ lại kiến thức về các phép liên kết
Lời giải chi tiết
Phép lặp từ ngữ
3. Phần làm văn
a. Viết văn bản nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm nghệ thuật hoặc tác phẩm văn học
Đề 1: Nêu suy nghĩ của em về khát vọng sáng tạo của người nghệ sĩ trong tác phẩm Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài
1. Mở bài
- Giới thiệu chung tác giả tác phẩm: Nguyễn Huy Tưởng một trong những nhà viết kịch và tiểu thuyết xuất sắc. Các tác phẩm của ông thường đi khai thác các đề tài lịch sử và tác phẩm Vũ Như Tô là tác phẩm nổi bật nhất.
- Dẫn dắt vấn đề: Xung đột kịch được đẩy lên đến cao trào và được giải quyết ở hồi thứ 5 “Vĩnh biệt cửu trùng đài” qua đó thể hiện quan niệm sâu sắc của ông về cuộc đời và nghệ thuật.
2. Thân bài:
- Tóm tắt:
+ Vũ Như Tô là một nhà kiến trúc sư tài giỏi bị Lê Tương Dực ép xây dựng Cửu trùng đài để làm nơi hưởng lạc vui chơi với cung nữ. Ông vốn là người nghệ sĩ chân chính lại gắn bó gần gũi với nhân dân nên đã từ chối, quyết không nhận lời và ngang nhiên mắng chửi tên hôn quân bạo ngược.
+Mở đầu đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” là hình ảnh cung nữ Đan Thiềm hớt hơ hớt hải chạy, mặt cắt không còn hạt máu vào báo tin tình thế nguy kịch, thúc giục, cầu xin, van nài Vũ Như Tô chạy trốn với những lời lẽ tha thiết, chân thành
+Vũ Như Tô coi Cửu trùng đài quý hơn sinh mạng của bản thân, nó là cả phần xác lẫn phần hồn của ông và Đan Thiềm. Chính vì vậy mà ông mù quáng, u mê không thoát ra khỏi ảo vọng của mình được.
- Phân tích:
- Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài là biểu hiện cho tài năng của người nghệ sĩ, hiện thân cho sự khao khát và say mê sáng tạo cái đẹp đó là đúng đắn, là đáng trân trọng nhưng thực tế của đất nước dân cùng khốn khổ cái đẹp ấy lại trở nên thật phù phiếm, xa xỉ bởi đã thấm đẫm máu, nước mắt và được xây trên thân xác của nhân dân.
- Vũ Như Tô đã không hiểu được mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc sống. Nghệ thuật được sáng tạo và xây dựng lên cuối cùng cũng phải vì phục vụ cho đời sống nhân dân.
- Cái giá mà Vũ Như Tô phải trả là ông chỉ nghĩ mình là nghệ sĩ chân chính mà quên mất rằng mình cũng là một công dân của đất nước.
3. Kết bài:
- Tổng kết vấn đề: Như vậy qua đoạn trích “Vĩnh biệt cửu trùng đài” nhà văn đã tái hiện lại bi kịch của Vũ Như Tô và Đan Thiềm gặp phải phản ánh sâu sắc hai mâu thuẫn của thời đại.
Đề 2: Nêu suy nghĩ của em về nạn săn bắn thú rừng hoang dã ở Việt Nam hiện nay qua truyện ngắn Muối của rừng
1. Mở bài:
- Giới thiệu chung: Bảo vệ động vật hoang dã là một nhiệm vụ quan trọng để bảo vệ thiên nhiên, bảo vệ tính đa dạng sinh học và bảo vệ môi trường nói chung đang được thế giới và Việt Nam ta đặc biệt quan tâm.
- Dẫn dắt vấn đề: Thông qua truyện ngắn "Muối của rừng", tác giả Nguyễn Huy Thiệp đã gửi cho chúng ta thông điệp về tầm quan trọng của việc bảo vệ thiên nhiên và các loài động vật hoang dã.
2. Thân bài
- Tác hại: Vấn đề nạn săn bắt thú rừng hoang dã không chỉ ảnh hưởng đến sự tồn tại của các loài động vật quý hiếm, mà còn gây ra những hệ lụy nghiêm trọng đến môi trường và sinh thái tự nhiên. Sự mất cân bằng trong hệ sinh thái có thể dẫn đến sự suy giảm đa dạng sinh học, làm mất đi những giá trị văn hóa và kinh tế liên quan đến các loài động vật hoang dã.
- Biện pháp:
+Để giải quyết nạn săn bắt thú rừng hoang dã, chính phủ cần áp dụng các biện pháp kiểm soát chặt chẽ, tăng cường công tác tuần tra và kiểm tra để ngăn chặn hoạt động săn bắt trái phép. Đồng thời, việc tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức của công chúng về tầm quan trọng của bảo vệ thiên nhiên cũng là một yếu tố quan trọng.
+Tuy nhiên, để có thể giải quyết nạn săn bắt thú rừng hoang dã ở Việt Nam một cách triệt để, chúng ta cần có sự đồng lòng, đoàn kết, góp sức từ tất cả mọi người từ mọi lĩnh vực, vùng miền khác nhau.
3. Kết bài
- Tổng kết vấn đề: Kết luận lại, nạn săn bắt thú rừng hoang dã ở Việt Nam hiện nay là một vấn đề đáng lo ngại. Truyện ngắn "Muối của rừng" của Nguyễn Huy Thiệp đã góp phần khơi dậy nhận thức và kêu gọi con người bảo vệ thiên nhiên.
b. Viết văn bản nghị luận về một tác phẩm văn học (bài thơ) hoặc tác phẩm nghệ thuật (bức tranh, pho tượng)
Đề 3: Viết bài văn phân tích bài thơ Nắng mới
1. Mở bài:
- Giới thiệu tác giả
- Giới thiệu bài thơ Nắng mới
2. Thân bài:
2.1. Chủ đề, cảm xúc chủ đạo của tác phẩm:
- Chủ đề: tình cảm gia đình.
- Cảm xúc chủ đạo: nỗi nhớ thương mẹ trong kí ức tuổi thơ của tác giả.
2.2. Phân tích chủ đề:
a. Hình ảnh nắng mới khơi gợi nguồn cảm xúc về kí ức:
- Hình ảnh làng quê: "nắng mới", "gà trưa" → đây là những hình ảnh quen thuộc gắn liền với làng quê Việt Nam.
- Từ "hắt" diễn tả ánh sáng xuyên qua song cửa.
→ gợi không gian hiu hắt, vắng lặng.
- Từ láy "xao xác", "não nùng" diễn tả âm thanh xao động. Tiếng gà nhấn mạnh sự vắng lặng của không gian, lấy động để tả tĩnh. Cách ngắt nhịp 2/2/3 thể hiện cảm xúc trầm buồn, nhớ thương.
- Kết hợp từ thông thường là "buồn rười rượi" nhưng tác giả đảo từ "rượi" lên trước từ "buồn" nhằm nhấn mạnh nỗi buồn tê tái, khôn nguôi.
- Từ láy "chập chờn" thể hiện những hình ảnh trong quá khứ dần hiện lên trong tâm trí của nhân vật trữ tình.
b. Kí ức về mẹ trong tâm tưởng của nhân vật "tôi":
- "Tôi nhớ me tôi thuở thiếu thời/ Lúc người còn sống, tôi lên mười": nhân vật trữ tình trực tiếp bày tỏ nỗi nhớ về mẹ.
- Câu thơ "Mỗi lần nắng mới reo ngoài nội": khi nắng mới xuất hiện ngoài đồng nội, mẹ lại phơi áo → Kí ức về mẹ gắn liền với hình ảnh mẹ phơi áo trước giậu mỗi lần nắng mới.
→ Hình ảnh mẹ gắn liền với quê hương.
- "Hình dáng mẹ tôi chửa xoá mờ": khẳng định hình dáng mẹ vẫn luôn hằn sâu trong tâm trí.
- "Hãy còn mường tượng lúc vào ra": nhớ về bóng dáng mẹ đi lại trong nhà.
- Hai câu thơ "Nét cười đen nhánh sau tay áo,/ Trong ánh trưa hè, trước giậu thưa" : nhân vật trữ tình nhớ về mẹ với nụ cười đen nhánh. Hình ảnh mẹ gắn liền với nắng buổi trưa, gắn liền với căn nhà. Mẹ mang dấu ấn của người phụ nữ Việt Nam xưa với hàm răng đen nhánh, vừa lấp lánh tỏa sáng vừa kín đáo, nhẹ nhàng.
→ Mẹ hiện lên trong tâm tưởng của nhà thơ với đầy đủ nét duyên dáng, hiền từ.
2.3. Đánh giá:
a. Nội dung:
- Bài thơ thể hiện tình cảm thiêng liêng của tác giả đối với mẹ.
b. Nghệ thuật:
- Ngôn từ giản dị, mộc mạc, giàu sức gợi hình, gợi cảm.
- Giọng điệu nhẹ nhàng, tha thiết, tâm tình.
Đề 4: Viết bài văn phân tích bài thơ Nhớ đồng
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Tố Hữu
+Tố Hữu (1920 - 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, xuất thân trong một gia đình nhà Nho nghèo ở làng Phù Lai, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên - Huế.
+Thơ Tố Hữu quy tụ và kết tinh truyền thống nhân văn cùng sức mạnh tinh thần của dòng giống Lạc Hồng bất khuất.
+Ông là ngọn cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam.
- Dẫn dắt vào vấn đề cần phân tích
Bài thơ Nhớ đồng sáng tác trong hoàn cảnh tác giả bị thực dân Pháp bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ (Huế) tháng 7 năm 1939 vì “tội” tuyên truyền thanh niên, học sinh chống Pháp.
2. Thân bài
a. Nỗi nhớ của người tù cộng sản với cuộc sống bên ngoài nhà tù
- Cảm hứng của bài thơ được gợi lên từ tiếng hò.
Tiếng hò được lặp lại nhiều lần. Tiếng hò lẻ loi đơn độc giữa trời trưa → nhân vật trữ tình cảm nhận được sự hiu quạnh
Không gian đồng vắng
Thời gian trưa vắng
Hiu quạnh của đời buồn tủi nhọc nhằn
- Lòng người đang bị giam cầm trong tù ngục cách biệt với cuộc sống bên ngoài
- Tiếng hò đã đồng cảm, hòa điệu của nhiều nỗi hiu quạnh → Người chiến sĩ cách mạng thấy nhớ nhung da diết đồng quê, cuộc sống bên ngoài nhà tù.
Tiếng than khắc khoải, da diết → diễn tả cõi lòng hoang vắng vì bị cách biệt với thế giới bên ngoài → nỗi hiu quạnh của người tha thiết yêu đời.
Sự lặp lại → nhấn mạnh liền ý liên kết nhiều nội dung khác nhau, tô đậm cảm xúc, khắc sâu ý tưởng → triền miên vì nỗi nhớ da diết.
- Đồng quê thể hiện lên đậm đà nỗi nhớ của tác giả:
Cồn thơm, ruồng tre mát, ô mạ xanh mơn mởn, nương khoai ngọt sắn bùi, chiều sương phủ bãi đồng, xóm làng và con đường thân thuộc, xóm nhà tranh thấp, con đường quen. → Tất cả đều đơn sơ gần gũi quen thuộc, thân thương → bị ngăn cách.
- Con người gần gũi thân thuộc thân thương:
Những lưng cong xuống luống cày
Những bàn tay vãi giống
Một giọng hò đưa bố mẹ già xa đơn chiếc → linh hồn đã khuất.
- Nỗi nhớ chân thật đậm tình thương mến
- Nhớ đến bản thân mình:
Nhớ tới những ngày tháng tự do hoạt động cách mạng.
“Rồi một …ngát trời”
→ Say mê lý tưởng, khao khát tự do sôi nổi → càng cảm thấy cô đơn với thực tại cuộc sống bị giam cầm.
b. Diễn biến tâm trạng của Tố Hữu
- Nỗi nhớ biểu hiện tâm trạng nhà thơ:
Từ tiếng hò gợi nỗi nhớ đồng quê tha thiết: Hình ảnh đồng quê hiện lên đậm đà với: cồn thơm, ruộng tre mát, mạ xanh mơn mởn, khoai ngọt sắn bùi, chiều sương phủ bãi đồng, xóm làng, con đường thân thuộc → những hình ảnh gần gũi, quen thuộc, thân thương nay đã trở nên xa cách.
Nỗi nhớ bao con người thân thuộc: từ cảnh sắc bóng dáng con người → người mẹ già nua → nhớ chính mình
Nỗi nhớ trải dài từ hiện tại trở về quá khứ → hiện tại
→ nhớ, tràn ngập xót thương → không chỉ buồn đằng sau là nỗi phẫn uất, bất bình với thực tại → niềm da diết nhớ thương, yêu cuộc sống, khao khát tự do.
3. Kết bài
Đây là bài thơ hay, giàu cảm xúc và tâm trạng của một người chiến sĩ khao khát tự do và hành động. Nỗi nhớ đồng quê, con người, chính mình biểu hiện tình yêu da diết với cuộc sống bên ngoài nhà tù và bao trùm hơn hết là tình yêu Tổ quốc, khát vọng tự do.
Lựa chọn hình ảnh gần gũi, quen thuộc, giọng thơ da diết, khắc khoải trong nỗi nhớ
c. Viết văn bản thuyết minh (về một đối tượng) có lồng ghép một hay nhiều yếu tố như miêu tả, tự sự, biểu cảm, nghị luận
Đề 5: Thuyết minh về Bánh trôi nước
1. Mở bài: Giới thiệu chung: Bánh trôi nước là món bánh cổ truyền của người dân Việt Nam, là thức quà có ý nghĩa đặc biệt thường được sử dụng trong dịp lễ lạt, cúng kiếng.
2. Thân bài
- Lịch sử ra đời: Theo tài liệu từ quyển Ẩm thực Việt Nam và Thế giới của tiến sĩ Nguyễn Diệu Thảo, món ăn bánh trôi nước trong Tết Hàn thực được lấy cảm hứng từ tích Con Rồng Cháu Tiên của dân tộc Việt Nam.
- Nguyên liệu:
+Gạo nếp thơm: 400 gr
+Đậu xanh xát vỏ: 200 gr
+Đường hoa mai hoặc đường thốt nốt: 300 gr
+Gừng: 100 gr
+Dầu ăn: 4 muỗng.
+Vừng rang chín
+Muối sạch: 2 muỗng
+Đường cát trắng 2 muỗng
- Cách làm: 3 bước
- Yêu cầu thành phẩm:
+ Mỗi viên bánh đều nhau, trắng, bột mịn, nhân không bị vỡ. Vỏ bánh khi ăn có độ mềm dai vừa miệng. Đường trong nhân bánh phải tan hết để khi ăn có cảm giác mật chảy tràn trong miệng. Nhân bánh trôi chay phải thơm mùi đỗ xanh đã đồ chín. Đặt bánh trôi ra đĩa và chấm chút vừng lên từng viên bánh.
+ Nước để ăn cùng bánh trôi chay phải có độ sánh của bột sắn, ngọt thanh của đường phèn, hương thơm thoang thoảng của hoa bưởi và vị ấm nồng của gừng.
-Lưu ý
3. Kết bài: Kết luận về ý nghĩa của món ăn
Đề 6: Thuyết minh về chiếc nón lá
1. Mở bài
-Giới thiệu và dẫn dắt vào hình ảnh chiếc nón lá Việt Nam.
2. Thân bài
a. Khái quát chung
-Nón được dùng để che nắng mưa cho người nông dân.
-Chiếc nón có lịch sử lâu đời đã khắc trên trống đồng Ngọc Lũ, trên thạp đồng Đào Thịnh vào khoảng 2500 - 3000 năm.
-Nón lá gần với đời sống nông nghiệp, một nắng hai sương, trên đồng lúa, bờ tre lúc nghỉ ngơi dùng nón quạt cho mát mẻ ráo mồ hôi.
b. Phân loại
-Có rất nhiều loại nón: Nón dấu, nón gò găng hay nón ngựa, nón rơm, nón quai thao, nón cời, nón Gõ, nón lá Sen, nón thúng, nón khua, nón chảo, nón cạp, nón bài thơ,…
c. Quy trình đan nón
-Với cây mác sắc, người thợ nghề chuốt từng sợi tre thành 16 nan vành một cách công phu; sau đó uốn thành vòng thật tròn trịa và bóng bẩy.
-Để có được lá đẹp, họ thường chọn lá nón non vẫn giữ được màu xanh nhẹ, ủi lá nhiều lần cho phẳng và láng. Khi xây và lợp lá, người ta phải khéo léo sao cho khi chêm lá không bị chồng lên nhau nhiều lớp để nón có thể thanh và mỏng.
-Người ta chặt những bé lá còn búp, cành bé lá có hình nan quạt nhiều lá đơn chưa xoè ra hẳn phơi khô, cột lại thành từng bó nhỏ gánh bán cho những vùng quê có người chằm nón.
-Bẻ lá non lúc khô có màu trắng xanh, người mua phải phơi lá vào sương đêm cho lá bớt độ giòn vì khô, mở lá từ đầu tới cuồng lá, cắt bỏ phần cuối cùng, dùng lưỡi cày cũ hay một miếng gan, đặt trên nồi than lửa nóng đỏ, dùng cục vải nhỏ độn giống như củ hành tây, người ta đè và kéo lá nón thẳng như một tờ giấy dài màu trắng, có nổi lên những đường gân lá nhỏ, lựa những lá đẹp để làm phần ngoài của nón.
-Chằm xong nón tháo khỏi khung, cắt lá thừa nức miệng nón và làm quai, người ta phết phía ngoài lớp mỏng sơn dầu trong suốt nước mưa không thấm qua các lỗ kim vào bên trong.
d. Vai trò của nón lá
-Nón lá đã đi vào thi ca bình dân Việt Nam.
-Những chiếc nón bài thơ thường trở thành vật "trang sức" của biết bao thiếu nữ. Buổi tan trường, các con đường bên sông Hương như dịu lại trong nắng hè oi ả bởi những dáng mảnh mai với áo dài trắng, nón trắng và tóc thề.
-Nghề nón là thuộc thị trấn Gò Găng, gần đây nón Gò Găng còn được xuất khẩu sang các nước láng giềng như Trung Quốc, Lào, Cam-pu-chia dưới dạng cải biên cho hợp với xứ người.
3. Kết bài
-Khái quát lại vai trò, tầm quan trọng của cây lúa đối với đời sống con người.
Đề thi học kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 1
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
BỤI QUÝ
(K.G. Paustovsky)
(1) [...] “Gõ kiến” là biệt hiệu mà hàng xóm láng giềng đặt cho Samet, ta phải hình dung anh là một người gầy gò, mũi nhọn và dưới vành mũ bao giờ cũng lủng lẳng một mớ tóc giống như mào chim.
Trước kia, Samet đăng lính trong quân đội của “Tiểu Napôlêông” trong thời gian chiến tranh ở Mêhicô. Anh bị sốt rét nặng ở Vera-Krux, liền được gửi về nước. Viên chỉ huy trung đoàn nhân dịp bèn nhờ Samet đưa đứa con gái lên tám của ông tên là Xuyzan về Pháp. Viên chỉ huy góa vợ, vì thế đi đầu ông cũng phải đèo bòng con gái theo. Nhưng lần này ông quyết định tạm xa con và gửi nó về cho người chị ở Ruăng, bởi ở đây thiếu gì những nguy hiểm bất ngờ.
Trên đường về, con bé suốt ngày im lặng. Thậm chí nhìn những con cá bay vọt lên khỏi mặt nước, bóng nhẫy, nó cũng chẳng mỉm cười. Samet hết sức chăm sóc Xuyzan[...] Càng ngày anh càng hay bắt gặp cái nhìn băn khoăn của con bé. Cuối cùng anh đánh liều kể cho nó nghe về cuộc đời mình, anh ngạc nhiên thấy con bé nghe một cách háo hức và thậm chí còn bắt anh kể đi kể lại, đòi biết thêm những tình tiết mới... Anh kể về một bông hồng bằng vàng... bông hồng sáng lấp lánh như thế nào, mặc dù bên ngoài cửa sổ không có nắng và cơn bão buồn thảm đang gầm gào ngoài eo biển: Bà lão trong thôn có một bông hồng vàng, mọi người đều ngạc nhiên thấy bà lão dân chài không chịu bán vật quý của mình đi. Bán nó đi bà có thể thu được cả đống tiền. Chỉ một mình mẹ Samet biết rằng bán bông hồng ấy đi là có tội, bởi vì đó là quà chúc phúc của người tình bà lão tặng bà, khi bà còn là một cô gái tươi hơn hớn làm ở nhà máy đóng hộp cá ở tỉnh Ôđécnơ.
Trên thế gian này hiếm ai có được những bông hồng vàng, - mẹ Samet nói.
- Nhà nào có nó, nhà ấy sẽ được hạnh phúc. Mà không riêng gì họ, ai đụng tới bông hồng đó, người ấy cũng sẽ được hạnh phúc. Thằng bé Samet sốt ruột đợi mãi ngày bà lão dân chài được hưởng hạnh phúc. Nhưng đến cả bóng dáng của hạnh phúc cũng chẳng thấy đâu. Thế rồi Samet bỏ làng ra đi, không đợi được đến ngày cuộc đời bà lão thay đổi. Mãi một năm sau, một người quen ở Lơ Havrơ mới kể cho anh nghe rằng con trai bà lão bất thình lình từ Pari trở về, anh chàng họa sĩ đó râu xồm, vui nhộn và có tính khí kỳ quặc. Từ ngày ấy người ta không còn nhận ra túp lều kia nữa. Nó trở nên ồn ào và dư dật. Người ta kháo nhau rằng bọn họa sĩ vẽ lăng nhăng cũng kiếm được ối tiền.
Một hôm, ngồi trên boong tàu, Samet đang dùng chiếc lược sắt của mình chải mớ tóc rối tung trước gió cho Xuyzan thì con bé hỏi anh:
- Anh Giăng ơi, rồi cũng có người cho em một bông hồng vàng chứ?
- Rất có thể, - Samet trả lời. - Rồi cũng sẽ có một thằng nào đó cho em, Xuyzan a! [...]
Trước đó Samet đã nghe nhiều chuyện bịa đặt của lính tráng, nhưng riêng anh, anh chưa từng bịa chuyện bao giờ. Không phải anh không biết tưởng tượng, chẳng qua anh chưa bao giờ thấy cần phải làm như vậy. Còn giờ đây anh coi việc làm vui cho Xuyzan là một bổn phận thiêng liêng.
Samet đưa Xuyzan đến Ruăng và trao tận tay cho bác gái nó. Bà ta đeo hạt cườm đen khắp mình trông như một con rắn ở rạp xiếc. Con bé vừa trông thấy bà bác đã vội bám chặt lấy Samet và nép vào cái áo ca pốt bạc phếch của anh.
- Không sao! - Samet thì thầm và khẽ đẩy vào vai Xuyzan. - Bọn lính trơn bọn anh cũng chẳng được lựa chọn cho mình các ông đại đội trưởng đâu. Chịu khó vậy, cô lính ạ!
(2) Samet bỏ đi. Trong túi dết Samet còn giữ lại kỷ niệm của Xuyzan: một cái dịu đến thế, như thể nó được cất giữ trong một giành hoa tím. Năm tháng qua đi nơ buộc tóc đã nhàu nát màu xanh. Có trời mới biết vì sao cái băng đó lại thơm trong cảnh thiếu thốn đơn điệu. Samet nếm trải hết nghề cực nhọc này đến nghề khốn khổ khác và cuối cùng anh trở thành người hót rác thành Pari...
Ngày lại ngày quyện lấy nhau trong một màu vàng đục. Nhưng đôi khi trong cái màu vàng đục ấy, Samet lại thấy dấy lên trong lòng mình một áng mây hồng. Đó là bộ áo dài cũ của Xuyzan. Từ tấm áo ấy phảng phất hương xuân tươi mát như thể người ta cũng cất nó trong giành hoa tím.
Xuyzan giờ ở đâu? Em sống ra sao?... Đã nhiều lần Samet định đi Ruăng thăm Xuyzan. Anh hiểu rằng mình đã bỏ lỡ thời gian và chắc chắn Xuyzan đã quen anh rồi. Anh tự mắng mình là đồ bị thịt, khi nhớ đến cuộc chia tay với Xuyzan. Đáng lẽ phải hôn cô bé thì anh lại ấn vào lưng nó, đẩy nó tới chỗ con quạ già nọ và bảo “Chịu khó vậy, Xuzi, cô lính a!”[...]
(3) Một hôm, cũng vào một buổi bình minh mờ mịt hơi sương như thế, Samet đi trên cầu Phế Binh bắc ngang sông Xen và gặp một thiếu phụ mặc áo dài màu tím nhạt, đính đăng ten đen. Thiếu phụ đứng trên thành cầu và nhìn xuống dòng sông.
Samet dừng lại, cất bỏ chiếc mũ bụi bặm và nói:
Thưa tiểu thư, nước sống Xen lúc này lạnh lắm. Tiểu thư để tôi đưa về nhà thì hơn
- Giờ đây tôi cũng chẳng có nhà.Thiếu phụ trả lời rất nhanh và quay về phía Samet.
Samet để rơi chiếc mũ.
- Xuzi! – Anh kêu lên bằng một giọng tuyệt vọng và sung sướng đến cực độ
- Cô lính Xuzi! Cô bé của anh! Thế là cuối cùng anh cũng đã gặp em. Chắc là em quên anh rồi. Anh là Giăng Ecnet Samet đây, cái anh binh nhì ở Trung đoàn Thuộc địa số Hai Mươi Bảy đã đưa em về cho mụ bác gái tởm lợm ở Ruăng đây.
Em bây giờ xinh quá đi thôi! Tóc em chải mới khéo nữa chứ! Còn anh, cái thằng lính quèn này thì chẳng biết xoay xở với mái tóc em thế nào.
- Giăng! - Thiếu phụ kêu lên, đảm bổ tới ôm lấy cổ anh và khóc, - Giăng, anh vẫn tốt như xưa. Em còn nhớ hết mà!
- Ồ, rõ vớ vẩn! – Samet lầu bầu trong miệng. – Lòng tốt của anh thì lợi lộc gì cho ai. Có chuyện gì đã xảy ra với em vậy, em gái bé nhỏ của anh?
Samet kéo Xuyzan lại gần mình và làm cái việc anh không dám làm trước kia ở Ruăng: Vuốt ve và hôn lên mái tóc óng ả của nàng. Rồi anh vội lánh ra, sợ Xuyzan ngửi thấy mùi chuột cống trên áo ngoài của anh. Nhưng Xuyzan lại càng nép chặt vào vai anh hơn
- Có chuyện gì vậy, em bé nhỏ của anh? – Samet bối rối nhắc lại.
Xuyzan không trả lời. Nàng không nén được tiếng nức nở. Samet hiểu rằng lúc này chưa nên hỏi nàng chuyện gì hết.
- Anh có một cái hang chỗ tường thành. – Samet vội vã nói. – Hơi xa đây một chút. Tất nhiên ở nhà chẳng có gì hết, nhẵn như chùi. Nhưng được cái có thể hâm nước cho nóng và nằm ngủ trên giường. Ở đó em có thể tắm táp và nghỉ ngơi. Và nói chung em muốn ở bao lâu tùy thích.
Xuyzan ở nhà Samet năm ngày. Năm ngày ấy, một mặt trời kỳ lạ cất lên trên thành Pari. Hết thảy mọi ngôi nhà, kể cả những nhà cũ kỹ nhất, ám khói, tất cả những khu vườn, thậm chí cả cái hang của Samet nữa đều rực rỡ trong những tia sáng của vừng thái dương ấy, như là những báu vật.
Ai chưa từng được xúc động với hơi thở nhè nhẹ của thiếu nữ trong giấc ngủ, người đó chưa thể hiểu thế nào là dịu dàng. Mỗi nàng tươi hơn cả những cánh hoa ẩm ướt và đôi hàng mi nàng lấp lánh những giọt lệ đêm.
Phải, những gì đã xảy ra với Xuyzan quả đúng như Samet dự đoán. Người tình của nàng - một diễn viên trẻ - đã phụ nàng. Nhưng năm ngày Xuyzan sống bên Samet đã đủ để cặp tình nhân làm lành với nhau[...].
Khi đôi bạn trẻ lên đường, Xuyzan vội vã nhảy lên xe, nàng quên cả từ biệt Samet. Liền đó nàng sực nhớ ra, đỏ mặt và ngượng ngùng đưa tay cho anh.
Em đã chọn lấy cuộc sống theo ý em, anh chỉ còn biết chúc em hạnh phúc.
- Cuối cùng Samet mới nói.
- Em chưa biết rồi sẽ ra sao? – Xuyzan trả lời và mắt nàng ngấn lệ.
- Em băn khoăn như vậy thực là vô ích, em bé nhỏ của anh ạ! – Anh chàng diễn viên trẻ dài giọng và nhắc lại. – Em bé xinh đẹp của anh.
- Giá có ai đó tặng cho em một bông hồng vàng! – Xuyzan thở dài. – Cái đó chắc chắn sẽ mang lại cho em hạnh phúc. Em vẫn nhớ câu chuyện anh kể trên tàu, anh Giăng ạ!
- Biết đâu đấy! – Samet trả lời. – Nhưng dù sao thì người sẽ mang bông hồng vàng đến cho em cũng chẳng phải là cái anh chàng quý phái này đâu.
(4) Sau lần gặp Suzanne, anh thôi không đổ bụi quét ở những hiệu kim hoàn đi nữa. Anh giấu giếm bỏ chúng vào một cái túi rồi vác về lều. Xóm giềng cho rằng anh chàng quét rác nọ đã “lẩn thẩn”. Hiếm ai biết rằng trong số bụi anh mang về có chứa một ít bột vàng, bởi vì những người thợ bạc khi làm việc thể nào cũng để rơi rớt một chút xíu thứ kim loại quý đó. Samet quyết định sàng sẩy lấy vàng để đúc một thoi nhỏ. Anh sẽ dùng thoi vàng ấy để đánh bông hồng sẽ mang lại hạnh phúc cho Suzanne. Mà rất có thể, như mẹ anh đã nói, nó còn mang lại hạnh phúc cho nhiều người khác nữa. Biết đâu đấy! Anh quyết không gặp lại Suzanne nữa, chừng nào bông hồng chưa xong
[...] Samet làm một cái quạt gió nhỏ và đêm đêm, ở sân nhà, anh quạt bụi thu lượm được ở các cửa hiệu kim hoàn. Anh hồi hộp mãi cho đến lúc trông thấy mờ mờ một lớp mạt vàng lấp lánh trên ngăn gỗ. Đến lúc có đủ mạt để đánh được một thoi vàng thì đã mất nhiều thời gian lắm. Nhưng Samet chưa đưa cho thợ bạc đánh bông hồng vội. Không phải Samet thiếu tiền thuê thợ: bất cứ ông thợ bạc nào cũng sẵn sàng đánh bông hồng ấy để lấy tiền công bằng một phân ba thoi vàng, và như thế họ cũng đã hài lòng lắm. Nguyên do là ở chỗ khác. Mỗi ngày qua, giờ gặp gỡ với Suzanne càng gần lại. Nhưng không biết từ lúc nào, Samet bắt đầu sợ cái giờ ấy. Tất cả tình cảm trìu mến từ lâu được giữ kín trong lòng [...]
Cuối cùng, khi đã đánh xong bông hồng, Samet mới biết Suzanne đã rời Paris
đi sang Hoa Kỳ từ một năm trước và, người ta nói, nàng đi hẳn, không trở lại nữa. Không ai có thể cho Samet biết địa chỉ của nàng. Thoạt đầu, Samet thấy nhẹ hẳn người. Nhưng rồi không hiểu vì sao, tất cả nỗi chờ mong cuộc gặp gỡ đầm ấm và thanh thản với Suzanne đã biến thành một mảnh sắt rỉ. Mảnh sắt nhọn ấy mắc trong lồng ngực anh, ngay bên tim, và Samet cầu Trời cho nó mau mau đâm thẳng vào trái tim ốm yếu đi, cho nó vĩnh viễn ngừng đập.
Samet bỏ việc quét dọn các xưởng. Anh nằm bẹp trong túp lều của anh mấy ngày liền, quay mặt vào tường... Chỉ có một người chăm sóc Samet. Đó là ông thợ bạc đứng tuổi đã đánh từ thoi vàng ra một bông hồng rất mực tinh xảo. Cùng trên một cành, ngay bên cạnh bông hoa, ông ta đánh thêm một nụ hồng bé và nhọn...
Thực thế, Samet lặng lẽ qua đời... Ông thợ bạc, ông ta nâng đầu anh thợ quét rác lên, lật cái gối xám bẩn và lôi ra bông hồng vàng bọc trong một cái nơ nhầu nát màu xanh... Lúc đó vào cuối thu. Màn đêm rung động vì gió và vì những đốm lửa nhấp nháy. Ông thợ bạc nhớ đến nét đổi thay trên mặt Samet sau khi anh chết. Bộ mặt anh trở nên nghiêm nghị và trầm tĩnh. Ông ta thấy niềm cay đắng hiện trên mặt anh còn tuyệt đẹp nữa là khác. “Cuộc sống không cho người ta cái gì thì cái chết cho người ta cái ấy”.
(5) Ít lâu sau ông ta đem bông hồng vàng nọ bán cho một nhà văn già ăn vận lôi thôi lốc thốc, và theo ông thợ bạc nhận xét, thì nhà văn này cũng chẳng giàu có gì cho lắm để có thể bỏ tiền ra mua một vật đắt đến như thế. Hẳn câu chuyện về bông hồng vàng do ông thợ bạc kể lại cho nhà văn đã đóng vai trò quyết định trong việc mua bán nọ.
Chúng ta phải mang ơn nhà văn già, nhờ những ghi chép của ông mà sau này mới có người biết được câu chuyện cay đắng trong đời người cựu binh trung đoàn thuộc địa thứ Hai Mươi Bảy là Jean Samet.
Trong những ghi chép của ông, nhà văn viết:
“Mỗi phút, mỗi lời tình cờ được nói ra và mỗi cái nhìn vô tình ta bắt gặp, mỗi ý nghĩ sâu sắc hoặc bông đùa, mỗi rung động thầm lặng của con tim, thậm chí một bông tiêu huyền xốp đang bay lượn, hay lửa sao trong một vũng nước đêm - tất cả những cái đó đều là những hạt rất nhỏ của bụi vàng. Chúng ta, những nhà văn, chúng ta bòn đãi chúng trong hàng chục năm, hàng triệu những hạt cát đó, thu góp chúng lại cho mình, một cách thầm lặng mà chính mình cũng không nhận thấy, biến chúng thành một hợp kim và rồi từ hợp kim ấy ta đánh “bông hồng vàng” của ta - truyện, tiểu thuyết hay là thơ”.
Bông hồng vàng của Samet!
Đối với tôi, nó phần nào là hình tượng tương lai của hoạt động sáng tạo của chúng ta. Thật là lạ, chẳng có ai chịu khó nghiền ngẫm xem từ những hạt bụi quý ấy đã khởi sinh nguồn văn học sống động như thế nào.
Nhưng cũng giống như bông hồng vàng của người thợ quét rác kia được tạo ra vì hạnh phúc của Suzanne, sáng tác của chúng ta được tạo ra là để cho cái đẹp của đất đai, cho lời kêu gọi đấu tranh vì hạnh phúc, cho niềm vui và tự do, cho cái cao rộng của tâm hồn người, cho sức mạnh của trí tuệ sẽ chiến thắng bóng tối, để chúng vĩnh viễn rực rỡ như một mặt trời không bao giờ tắt”.
(KG Paustovsky, Bông Hồng Vàng Và Bình Minh Mưa. NXB Văn học 2009.)
............
Konstantin Georgiyevich Paustovsky (1892- 1968) là một nhà văn Liên Xô nổi tiếng với thể loại truyện ngắn. Ông được đề cử Giải Nobel Văn học năm 1965.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Bụi quý là gì?
Câu 2: Văn bản Bụi quý sử dụng chủ yếu những điểm nhìn trần thuật nào?
Câu 3: Nhận xét nghệ thuật kể chuyện, tác dụng của chúng trong đoạn văn sau:
Anh hồi hộp mãi cho đến lúc trông thấy mờ mờ một lớp mạt vàng lấp lánh trên ngăn gỗ. Đến lúc có đủ mạt để đánh được một thoi vàng thì đã mất nhiều thời gian lắm
Câu 4: Theo em, đoạn nào trong văn bản đọc toát lên “phong cách lãng mạn cao thượng với bút pháp phóng khoáng và tuôn tràn đầy lòng cảm thương, trân trọng những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người” của Paustovsky? Hãy phân tích đôi nét về nghệ thuật của đoạn ấy.
Câu 5: Paustovsky nói về điều gì, về ai? Ông muốn gửi gắm điều gì tới người đọc trong đoạn cuối của văn bản?
II. Viết (4đ)
Câu 1: Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ):
Sứ mệnh duy nhất của nhà văn, không gì khác đó là hướng đến những giá trị nhân văn. Thoạt nhìn đấy là một mệnh đề cũ kỹ. Điểm khác biệt là ở chỗ các nhà văn trước Nguyễn Huy Thiệp nói đến nó với sự hân hoan, với niềm tin về nhân văn như là một hằng số của tồn tại người - những hạt ngọc ẩn giấu trong cuộc đời mà nhà văn là kẻ kiếm tìm. Một cuộc kiếm tìm mà dù nhọc lòng đến đâu, lầm lạc đến đâu thì rồi cũng sẽ được đền đáp một cách xứng đáng. Nguyễn Huy Thiệp nói về sứ mệnh này một cách căng thẳng, bi phẫn: “Điều khốn nạn, trớ trêu và cũng là điểm yếu của một nhà văn là dù hiểu đời, lịch lãm đến đâu cuối cùng anh ta vẫn phải hành xử và biết trình bày tư tưởng nhân đạo một cách nghệ thuật. Giá trị nhân đạo là lý do duy nhất để cho văn học tồn tại”.
(Trần Văn Toàn - HTTPS://BOM.SO/1MLKI0)
a. Đoạn văn bản viết về vấn đề gì?
b. Những vấn đề đoạn ngữ liệu đề cập tới có thể hiện ở văn bản đọc Bụi quý không? Thể hiện như thế nào?
Câu 2: Viết bài luận: Hãy bàn luận về một giá trị mà em cho là đặc sắc của truyện Bụi quý (Paustovsky) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Cảm hứng chủ đạo của văn bản Bụi quý là gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra nội dung chính
Từ đó suy ra cảm hứng chủ đạo
Lời giải chi tiết:
Cảm hứng chủ đạo: Cảm thương, trân trọng khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Văn bản Bụi quý sử dụng chủ yếu những điểm nhìn trần thuật nào? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về điểm nhìn trần thuật
Lời giải chi tiết:
Văn bản sử dụng
- Điểm nhìn thời gian
- Điểm nhìn bên trong
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Nhận xét nghệ thuật kể chuyện, tác dụng của chúng trong đoạn văn sau: Anh hồi hộp mãi cho đến lúc trông thấy mờ mờ một lớp mạt vàng lấp lánh trên ngăn gỗ. Đến lúc có đủ mạt để đánh được một thoi vàng thì đã mất nhiều thời gian lắm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý cách sử dụng từ láy và các chi tiết tiêu biểu
Lời giải chi tiết:
Kết hợp kể, tả, từ điểm nhìn bên ngoài (của người kể chuyện) khiến đoạn văn trở nên hàm súc, giàu sức gợi:
- Diễn tả khát vọng, cảm xúc đặc biệt thường trực trong tâm hồn nhân vật Samet (hồi hộp mãi); thái độ cẩn trọng, sự kiên trì, nhẫn nại đến vô cùng của Samet trong suốt quá trình gom mạt vàng li ti
- Gợi được cả thời gian dài Samet dành để gom mạt vàng, để có được bông hồng vàng
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Theo em, đoạn nào trong văn bản đọc toát lên “phong cách lãng mạn cao thượng với bút pháp phóng khoáng và tuôn tràn đầy lòng cảm thương, trân trọng những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người” của Paustovsky? Hãy phân tích đôi nét về nghệ thuật của đoạn ấy. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản để chỉ ra được đoạn văn đề bài nhắc đến
Chú ý các biện pháp nghệ thuật được sử dụng trong đoạn để phân tích tác dụng
Lời giải chi tiết:
* Đoạn văn bản đọc
- Đó là ông thợ bạc đứng tuổi đã đánh từ thoi vàng ra một bông hồng rất tinh xảo. Cùng trên một cành, ngay bên cạnh bông hoa, ông ta đánh thêm một nụ hồng bé và nhọn... lật cái gối xám bẩn và lỗi ra bỗng hồng vàng bọc trong một cái nơ nhầu nát màu xanh Lúc đó vào cuối thu. Màn đêm rung động vì gió và vì
những đốm lửa nhấp nháy...niềm cay đắng hiện trên mặt anh còn tuyệt đẹp nữa là khác. “Cuộc sống không cho người ta cái gì thì cái chết cho người ta cái ấy”.
* Về nghệ thuật: tương phản đối lập của bút pháp lãng mạn.
+ Hình ảnh đẹp: nụ hồng bé; bông hồng rất mực tinh xảo; đốm lửa nhấp nháy
+ Tương phản: hiện thực nghèo nàn (cái gối xám bẩn; cái nơ nhầu nát; cái nơ nhầu nát >< với hình ảnh lung linh (nụ hồng bé; bông hồng rất mực tinh xảo...)
+ Hình ảnh đẹp thể hiện trân trọng những khát vọng cháy bỏng về hạnh phúc con người; hiện thực nghèo nàn thể hiện lòng cảm thương.
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Paustovsky nói về điều gì, về ai? Ông muốn gửi gắm điều gì tới người đọc trong đoạn cuối của văn bản? |
Phương pháp giải:
Dựa vào phần phân tích ở trên
Đọc kĩ đoạn cuối văn bản
Lời giải chi tiết:
- Nói về những người nghệ sĩ nghèo nhưng trân trọng, cái đẹp, yêu cái đẹp say đắm. Họ sẵn sàng hy sinh một điều gì đó ở bản thân để bòn đãi những tinh túy ở hiện thực biến chúng thành một hợp kim tạo những giá trị bất tử cho đời.
- Paustovsky qua thiên truyện này còn muốn ngầm ví công việc sáng tạo của mỗi nhà văn giống như quá trình chế tác một bông hồng vàng, phải lọc đi biết bao nhiều cát bụi mới thành được một chút gì đẹp đẽ dâng tặng cho đời.
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Đoạn văn bản viết về vấn đề gì? b. Những vấn đề đoạn ngữ liệu đề cập tới có thể hiện ở văn bản đọc Bụi quý không? Thể hiện như thế nào? |
Phương pháp giải:
a. Đọc kĩ văn bản
b. Chú ý những vấn đề đoạn ngữ liệu đề cập tới
Lời giải chi tiết:
a. Sứ mệnh của nhà văn: hướng đến giá trị nhân đạo (nhà văn phải kiếm tìm những hạt ngọc ẩn giấu trong cuộc đời; biết trình bày tư tưởng nhân đạo một cách nghệ thuật).
b. Thể hiện: Ngữ liệu đã kết nối với Bụi quý một cách hoàn hảo. Với Bụi quý, nhà văn Paustovsky đã hoàn thành sứ mệnh của mình một cách vinh quang nhất
+ Paustovsky đã viết về tình yêu, sự khát khao hạnh phúc của con người bằng sự hân hoan, với niềm tin về nhân văn mãnh liệt (qua hình tượng bông hồng vàng và quá trình làm nên nó).
+ Paustovsky đã trình bày tư tưởng nhân đạo một cách nghệ thuật qua áng văn lãng mạn, phóng khoáng, qua ngôn từ lấp lánh sắc màu của cảm xúc...
Câu 2 (3 điểm)
|
Câu 2: Viết bài luận: Hãy bàn luận về một giá trị mà em cho là đặc sắc của truyện Bụi quý (Paustovsky) (3đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Hãy bàn luận về một giá trị mà em cho là đặc sắc của truyện Bụi quý (Paustovsky) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu tác giả tác phẩm - Giới thiệu luận đề, vai trò của luận đề với tác phẩm |
|
Thân bài |
2,0 |
- Tóm tắt tác phẩm (ngắn gọn) - Hệ thống luận điểm làm sáng tỏ luận đề +Luận điểm 1 (lí lẽ + dẫn chứng) +Luận điểm 2 (lí lẽ+ dẫn chứng) Lưu ý: HS có thể chọn một vấn đề cụ thể có thể nghị luận về toàn tác phẩm - Nội dung, nghệ thuật, bức thông điệp - Nhân vật Jean Samet/ Nghệ thuật kể truyện/ Hình tượng bông hồng vàng, sứ mệnh nhà văn… |
|
Kết bài |
0,25 |
- Tác động của văn bản văn học tới tình cảm, cách nhìn và đánh giá con người, cuộc sống |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Thể hiện rõ nhận thức cá nhân - Dẫn chứng tiêu biểu, ngắn gọn, phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 2
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
XUÂN KHÔNG MÙA
(Xuân Diệu)
Một ít nắng, vài ba sương mỏng thắm,
Mấy cành xanh, năm bảy sắc yêu yêu
Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều.
Xuân đã sẵn trong lòng tôi lai láng.
Xuân không chỉ ở mùa xuân ba tháng;
Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
Xuân là lúc gió về không định trước.
Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi,
Như được nắm một bàn tay son trẻ...
Xuân ở giữa mùa đông khi nắng hé;
Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa
Lùa thanh sắc ngẫu nhiên trong áo rộng.
Nếu lá úa trên cành bàng không rụng,
Mà hoa thưa ửng máu quá ngày thường;
Nếu vườn nào cây nhãn bỗng ra hương,
Là xuân đó. Tôi đợi chờ chi nữa?
Bình minh quá, mỗi khi tình lại hứa,
Xuân ơi xuân vĩnh viễn giữa lòng ta
Khi những em gặp gỡ giữa đường qua
Ngừng mắt lại, để trao cười, bỡ ngỡ.
Ấy là máu báo tin lòng sắp nở
Thêm một phen, tuy đã mấy lần tàn.
Ấy là hồn giăng rộng khắp không gian
Để đánh lưới những duyên hờ mới mẻ?
Ấy những cánh chuyển trong lòng nhẹ nhẹ
Nghe xôn xao rờn rợn đến hay hay...
Ấy là thư hồi hộp đón trong tay;
Ấy dư âm giọng nói đã lâu ngày
Một sớm tim bỗng dịu dàng đồng vọng.
Miễn trời sáng, mà lòng ta dợn sóng,
Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?
Kể chi mùa, thời tiết, với niên hoa,
Tình không tuổi, và xuân không ngày tháng.
(Nguồn: Thơ Xuân Diệu. NXB Văn Học, 2019)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Tứ thơ của văn bản Xuân không mùa là gì?
Câu 2: Vai trò của những yếu tố tượng trưng trong Xuân không mùa là gì?
Câu 3: Đất trời, vạn vật biến đổi như thế nào trong tâm hồn Xuân Diệu? Phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình trước phút giây huyền diệu ấy
Câu 4: Tác giả dùng phép tu từ nào để diễn tả Xuân không mùa trong lòng mình? Hãy phân tích những câu thơ mà em cho là đặc sắc nhất
Câu 5: Xuân không mùa của Xuân Diệu khởi xuất từ đâu? Tác giả đã gửi đến chúng ta quan niệm nhân sinh nào trong thi phẩm thơ độc đáo này?
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Quan sát bức hình sau và trả lời câu hỏi a,b (1đ)


(Nguồn ảnh: Internet)
a. Mô tả ngắn gọn, nêu bức thông điệp được chuyển tải qua từng bức hình
b. Hai bức hình có thể gợi ra những vấn đề nào của cuộc sống? Em quan tâm tới vấn đề nào nhất, vì sao?
Câu 2: Viết bài nghị luận: Từ hiểu biết về văn bản đọc Xuân không mùa (Xuân Diệu) và ý nghĩa của 2 bức hình trên, em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm sống của bản thân
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Tứ thơ của văn bản Xuân không mùa là gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Nhớ lại kiến thức về tứ thơ
Lời giải chi tiết:
Tứ thơ của văn bản: Xuân của đất trời- Xuân ở lòng người – Xuân không ngày tháng
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Vai trò của những yếu tố tượng trưng trong Xuân không mùa là gì? |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về yếu tố tượng trưng
Lời giải chi tiết:
- Tạo nên một thế giới nghệ thuật thơ độc đáo cuốn hút
- Diễn tả niềm yêu đời say mê đến cuồng nhiệt của thi sĩ
- Diễn tả sự tương hợp kì diệu giữa vũ trụ và lòng người
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Đất trời, vạn vật biến đổi như thế nào trong tâm hồn Xuân Diệu? Phân tích cảm xúc của chủ thể trữ tình trước phút giây huyền diệu ấy |
Phương pháp giải:
Chú ý các chi tiết thể hiện sự biến đổi trong tâm hồn tác giả
Lời giải chi tiết:
*Đất trời, vạn vật biến đổi tinh vi, diệu kì
- Xuân là khi nắng rạng đến tình cờ,
Chim trên cành há mỏ hót ra thơ;
- Đông đang lạnh bỗng một hôm trở ngược,
Mây bay đi để hở một khung trời
- Giữa mùa hè khi trời biếc sau mưa;
Giữa mùa thu khi gió sáng bay vừa…
→Đất trời, vạn vật biến đổi bất ngờ tinh vi, diệu kì: nắng rạng, chim hót ra thơ, hở một khung trời, trời biếc sau mưa… tất thảy đẹp hơn, rạng rỡ hơn… đem mùa xuân đến với lòng người
* Thi sĩ giao hòa, đắm say ngắm nhìn, ghi lại từng vi mạch của sự sống, những khoảnh khắc trở mình bất chợt của tạo vật… để hân hoan sống, đón nhận sức sống đang bừng lên trong màu nắng, làn gió, áng mây,…
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Tác giả dùng phép tu từ nào để diễn tả Xuân không mùa trong lòng mình? Hãy phân tích những câu thơ mà em cho là đặc sắc nhất |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ
Lựa chọn câu thơ em cho là đặc sắc và phân tích
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ:
+ Điệp từ, điệp ngữ: Xuân là, ấy là, thế là;
+ Điệp cấu trúc câu: Thế là xuân. Tôi không hỏi chi nhiều; Thế là xuân. Ngày chỉ ấm hơi hơi; Thế là xuân. Hà tất đủ chim, hoa?
- Phân tích những câu thơ đặc sắc: HS tự lựa chọn theo cảm nhận của cá nhân (gợi ý cách phân tích: phân tích phép tu từ, từ ngữ đặc sắc… cảm xúc của thi sĩ… cảm nhận của cá nhân)
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Xuân không mùa của Xuân Diệu khởi xuất từ đâu? Tác giả đã gửi đến chúng ta quan niệm nhân sinh nào trong thi phẩm thơ độc đáo này? |
Phương pháp giải:
Phân tích mùa xuân của tác giả thể hiện trong văn bản (bắt nguồn từ thiên nhiên, cảnh vật hay từ lòng người)
Rút ra quan niệm nhân sinh tác giả muốn gửi gắm
Lời giải chi tiết:
- Xuân không mùa của Xuân Diệu khởi xuất từ lòng yêu đời của con người
- Quan niệm nhân sinh:
+ Sống lạc quan, yêu đời, sống hết mình và giao hòa cùng vũ trụ, thiên nhiên để cảm nhận những biến chuyển, những tín hiệu sống diệu kì
+ Sống tích cực lạc quan để cảm nhận mùa xuân lai láng trong đất trời vạn vật để có xuân không mùa, xuân lai láng trong lòng mình
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Mô tả ngắn gọn, nêu bức thông điệp được chuyển tải qua từng bức hình b. Hai bức hình có thể gợi ra những vấn đề nào của cuộc sống? Em quan tâm tới vấn đề nào nhất, vì sao? |
Phương pháp giải:
a. Quan sát kĩ 2 bức hình
b. Dựa vào nội dung thông điệp ở trên
Nêu quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
a. Bức 1: Con người tự giam hãm (nhốt) mình trong không gian hẹp
Bức 2: Con người giao hòa cùng đất trời
- Thông điệp: không nên tự giam hãm bản thân trong không gian chật hẹp tù túng; hãy mở lòng giao lưu cùng thiên nhiên đất trời để tiếp thêm năng lượng sống
b. Hai bức hình có thể gợi ra những vấn đề: HS tự đề xuất vấn đề (tham khảo gợi ý sau)
- Sống tiêu cực
- Sống tích cực
- Không gian sống tác động tới quan niệm sống của con người
- Hãy mở rộng không gian sống…
+Em quan tâm tới vấn đề nào nhất, vì sao? HS tự làm theo quan điểm cá nhân
Câu 2 (3 điểm)
|
Câu 2: Viết bài nghị luận: Từ hiểu biết về văn bản đọc Xuân không mùa (Xuân Diệu) và ý nghĩa của 2 bức hình trên, em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm sống của bản thân |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Từ hiểu biết về văn bản đọc Xuân không mùa (Xuân Diệu) và ý nghĩa của 2 bức hình trên, em hãy viết bài luận thể hiện quan điểm sống của bản thân |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu luận đề: Quan điểm sống sẽ bàn luận - Tầm quan trọng của luận đề đối với đời sống hiện đại |
|
Thân bài |
2,0 |
- Làm rõ cách hiểu về quan điểm sống - Vai trò của luận đề: chi phối lối sống, hành động, cảm xúc… - Biểu hiện của quan điểm sống đã lựa chọn - Tác dụng/ hệ quả của quan niệm sống đã lựa chọn - Phân tích quan điểm sống trong sự đối chiếu với quan điểm sống đối lập (với quan điểm đã lựa chọn) |
|
Kết bài |
0,25 |
Nhận thức, hành động của cá nhân |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Lựa chọn luận đề/ vấn đề nghị luận: quan điểm sống - Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Dẫn chứng tiêu biểu, ngắn gọn phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
BÌNH MINH GỢI LẠI NHỮNG BÌNH MINH
(Sergei Yesenin)
Bình minh đang gọi ra bình minh khác
Trên cánh đồng lúa mạch bốc khói sương...
Tôi nhớ về người tôi thương mến nhất
Nhớ mẹ hiền già lão, yêu thương.
Như ngày trước mẹ đi ra đồi nhỏ
Nắm chặt trong tay cây gậy của mình
Mẹ nhìn vào đôi dày trăng đã cũ
Đang bơi trên dòng sông ngủ mơ màng.
Và cay đắng trong lòng, con biết mẹ
Với một nỗi lo và một nỗi buồn
Rằng giờ đây thằng con trai của mẹ
Đã không còn nhớ gì đến quê hương
Rồi sau đó mẹ đi ra nghĩa địa
Mẹ nhìn vào hòn đá xám chằm chằm
Mẹ trút ra hơi thở dài nhè nhẹ
Mẹ tiếc thương những anh, chị em con.
Mặc chúng con trưởng thành trong cay đắng
Còn các em đã lớn tựa mùa xuân
Dù sao mẹ đôi mắt hiền, sống động
Đừng để cho dâng ngập nỗi đau buồn.
Quá đủ rồi! Khổ đau đã lắm!
Giờ đến lúc mẹ thấy một điều rằng
Cả cây táo cũng vô cùng đau đớn
Khi phải trút đi những chiếc lá vàng.
Bởi một điều niềm vui là hiếm lắm
Như tiếng ngân vang buổi sớm mùa xuân
Đối với con nếu trên cành rữa xuống
Thì cháy thành tro trong gió còn hơn.
(Bản dịch của Nguyễn Viết Thắng - https://bom.so/CHsHEO)
Sergey Yesenin ( 1895 -1925) là một thi sĩ, ngâm sĩ và ca sĩ tân lãng mạn Nga. Cho đến nay, Yesenin là một trong những nhà thơ Nga được đọc nhiều nhất, và là người phục sinhcsự tươi sáng, tinh khôi, giàu hình tượng cho thơ ca hiện đại Nga.
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Tứ thơ của văn bản Bình minh gợi lại những bình minh là gì?
Câu 2: Dòng thơ nào trong đoạn sau có cấu tạo độc đáo? Và để diễn tả điều gì?
Và cay đắng trong lòng, con biết mẹ
Với một nỗi lo và một nỗi buồn
Rằng giờ đây thằng con trai của mẹ
Đã không còn nhớ gì đến quê hương
Câu 3: Tác giả thể hiện điều gì trong 2 dòng thơ: Cả cây táo cũng vô cùng đau đớn/Khi phải trút đi những chiếc lá vàng?
Câu 4: Em hiểu như thế nào về nhan đề bài thơ Bình minh gợi lại những bình minh khác
Câu 5: Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình trong bài thơ? Hãy cho biết nét đẹp tâm hồn nào tác động sâu sắc tới cảm xúc của em?
II. VIẾT (4đ)
Câu 1: Đọc đoạn thơ trích từ Thư gửi mẹ (Sergei Yesenin) trong ô 1 và tìm những câu thơ có nội dung tương tự ở Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) điền vào ô thứ 2 và nhận xét về tình cảm của mẹ dành cho con và của chủ thể trữ tình dành cho mẹ của mình.
|
1. Thư gửi mẹ (Sergei Yesenin) |
2. Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) |
|
Chỉ mẹ là niềm tin, là ánh sáng diệu kì Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước Mẹ thân yêu hãy yên lòng mẹ nhé Đừng muộn phiền quá đỗi về con |
|
Câu 2: Đọc tài liệu sau và thực hiện yêu cầu a, b
Trữ tình là yếu tố quyết định tạo nên chất thơ. Tác phẩm thơ luôn thiên về diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời. Những rung động ấy xét đến cùng là những tiếng dội của những sự kiện, những hiện tượng đời sống vào tâm hồn nhà thơ. Đây là đặc điểm cơ bản nhất của tác phẩm
thơ. Nắm vững đặc điểm này ta sẽ có một định hướng rõ ràng trong việc tiếp cận, phân tích đúng tác phẩm thơ. Nghĩa là, khi phân tích tác phẩm thơ, ta không phải đi sâu vào mổ xẻ, cắt nghĩa, lí giải về các chi tiết, sự kiện, sự việc được nhà thơ đề cập, mà điều cốt lõi là thấy và nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ và suy tư của nhà thơ về các vấn đề trên. Ví tác phẩm thơ như một cơ thể sống thì chữ nghĩa, chất liệu, sự kiện,... chỉ là phần xác, phần hồn của nó chính là nội dung trữ tình. Nội dung trữ tình luôn là cái đích cuối cùng phải vươn tới của quá trình sáng tác cũng như cảm thụ, phân tích thơ.
a. Tài liệu trên có định hướng nào giúp cho em trong cảm thụ, phân tích thơ?
b. Vận dụng kiến thức về thơ đã được học từ THCS, lớp 10 và lớp 11, em hãy phân tích, đánh giá tác phẩm Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Tứ thơ của văn bản Bình minh gợi lại những bình minh là gì? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ và suy ra tứ thơ của văn bản
Lời giải chi tiết:
Bình minh, đồng lúa mạch gợi nhớ mẹ - Mẹ vất vả, yêu thương – quan điểm nhân sinh
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Dòng thơ nào trong đoạn sau có cấu tạo độc đáo? Và để diễn tả điều gì? |
Phương pháp giải:
Nhớ lại dấu hiệu nhận biết một số kiểu câu có cấu tạo độc đáo
Phân tích dòng thơ
Lời giải chi tiết:
Dòng thứ nhất
Diễn tả sự thấu hiểu nỗi lòng mẹ của nhân vật trữ tình
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Tác giả thể hiện điều gì trong 2 dòng thơ: Cả cây táo cũng vô cùng đau đớn/Khi phải trút đi những chiếc lá vàng? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 dòng thơ
Chú ý những chi tiết “đau đớn”, “trút đi”,….
Lời giải chi tiết:
Qui luật của cuộc đời: đau đớn bởi sinh li, tử biệt
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Em hiểu như thế nào về nhan đề bài thơ Bình minh gợi lại những bình minh khác? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nhan đề
Phân tích dựa trên chỉnh thể nôi dung toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
- Bình minh gợi lại những bình minh khác: Là nhan đề giàu ý nghĩa biểu tượng
- Bình minh gợi cảm xúc trong tâm hồn thi sĩ: Bình minh trên cánh đồng lúa mạch bốc khói sương. Chính bình minh này đã gợi lại bao bình minh khác – những kí ức, tình cảm đẹp về mẹ, về quê hương, gợi quan niệm sống đẹp của thi sĩ
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Cảm nhận của em về vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình trong bài thơ? Hãy cho biết nét đẹp tâm hồn nào tác động sâu sắc tới cảm xúc của em? |
Phương pháp giải:
Phân tích vẻ đẹp tâm hồn của chủ thể trữ tình trong bài thơ
Lời giải chi tiết:
- Là người con yêu thương mẹ, mong mẹ đừng sống trong buồn đau
- Là người con hiểu thấu nỗi lòng của mẹ (nỗi lo, nỗi buồn; mẹ lo về chính mình)
- Là người nhạy cảm, thấu hiểu quy luật cuộc đời
- Là người có nhân sinh quan sống đẹp
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
Đọc đoạn thơ trích từ Thư gửi mẹ (Sergei Yesenin) trong ô 1 và tìm những câu thơ có nội dung tương tự ở Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) điền vào ô thứ 2 và nhận xét về tình cảm của mẹ dành cho con và của chủ thể trữ tình dành cho mẹ của mình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ 2 đoạn thơ
Chú ý những hình ảnh thể hiện tình cảm của mẹ dành cho con và của chủ thể trữ tình dành cho mẹ của mình.
Lời giải chi tiết:
|
1. Thư gửi mẹ (Sergei Yesenin) |
2. Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) |
|
Chỉ mẹ là niềm tin, là ánh sáng diệu kì Chỉ mình mẹ giúp đời con vững bước Mẹ thân yêu hãy yên lòng mẹ nhé Đừng muộn phiền quá đỗi về con |
Và cay đắng trong lòng, con biết mẹ Với một nỗi lo và một nỗi buồn Rằng giờ đây thằng con trai của mẹ Đã không còn nhớ gì đến quê hương |
- Mẹ luôn lo lắng, buồn phiền về con trai
- Con thấu hiểu nỗi lòng của mẹ (rằng mình là nỗi lo lắng của mẹ, mẹ không yên tâm về con); Mẹ và tình yêu của mẹ là nguồn sống diệu kì trong tim con, là động lực để con bước tiếp; Con luôn mong mẹ hãy an lòng về con
Câu 2 (3 điểm)
|
a. Tài liệu trên có định hướng nào giúp cho em trong cảm thụ, phân tích thơ? b. Vận dụng kiến thức về thơ đã được học từ THCS, lớp 10 và lớp 11, em hãy phân tích, đánh giá tác phẩm Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) |
Phương pháp giải:
a.Đọc kĩ tài liệu và nêu ý kiến của bản thân
b.Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
a. Tác phẩm thơ luôn thiên về diễn tả những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về cuộc đời; điều cốt lõi là thấy và nói được những cảm xúc, tâm trạng, thái độ và suy tư của nhà thơ về các vấn đề trên; phần hồn của thơ là nội dung trữ tình
b.
|
Vận dụng kiến thức về thơ đã được học từ THCS, lớp 10 và lớp 11, em hãy phân tích, đánh giá tác phẩm Bình minh gợi lại những bình minh (Sergei Yesenin) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,25 |
- Giới thiệu ngắn về tác phẩm thơ, tác giả - Nêu luận đề: những cảm xúc, rung động, suy tư của chính nhà thơ về mẹ, cuộc đời |
|
Thân bài |
2,0 |
- Giới thiệu ngắn gọn về tứ, mạch cảm xúc chủ đạo của bài thơ - Cảm xúc suy tư của nhà thơ về mẹ - Suy tư của tác giả về cuộc đời, quan điểm sống… Lưu ý: Các luận điểm làm sáng tỏ luận đề gồm câu chứa luận điểm +lí lẽ+dẫn chứng |
|
Kết bài |
0,25 |
Cảm nhận, nhận thức của cá nhân về những cảm xúc, rung động, suy tư của chủ thể trữ tình |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Dẫn chứng tiêu biểu, phù hợp với lí lẽ, luận điểm |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
VŨ NHƯ TÔ XÂY CỬU TRÙNG ĐÀI
(Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng)
Tóm tắt vở kịch Vũ Như Tô
Hồi 1: Vũ Như Tô, một kiến trúc sư thiên tài, bị hôn quân Lê Tương Dực bắt xây dựng Cửu Trùng Đài để làm nơi hưởng lạc, vui chơi với các cung nữ. Vốn là một nghệ sĩ chân chính, gắn bó với nhân dân, cho nên mặc dù bị Lê Tương Dực dọa giết, Vũ Như Tô vẫn ngang nhiên chửi mắng tên hôn quân và kiên quyết từ chối xây Cửu Trùng Đài
Hồi 2: Đan Thiêm, cung nữ đã thuyết phục Vũ Như Tô chấp nhận yêu cầu của Lê Tương Dực, lợi dụng quyền thế và tiền bạc của hắn, trổ hết tài năng để xây dựng cho đất nước tòa lâu đài vĩ đại “bền như trăng sao”, có thể “tranh tinh xảo với hóa công” để cho dân ta nghìn thu còn hãnh diện.
Hồi 3: Theo lời khuyên, Vũ Như Tô đã thay đổi thái độ, chấp nhận xây Cửu Trùng đài. Từ đó, ông dồn hết tâm trí và bằng mọi giá xây dựng toà đài sao cho thật hùng vĩ, tráng lệ
Hồi 4: Lợi dụng tình hình rối ren và mâu thuẫn ấy, Quận công Trịnh Duy Sản - kẻ cầm đầu phe đối lập trong triều đình đã dấy binh nổi loạn, lôi kéo thợ làm Vũ Như Tô, Đan Thiềm. Cửu Trùng đài bị chính những người thợ nổi loạn đập phá, thiêu hủy.
Hồi thứ tư
Bốn tháng sau - Cũng cảnh ấy, một đêm hè. Những phiến đá đã dọn đi. Xa xa là nửa một thứ “khải hoàn môn, một bên (về phía con rồng) là bức tường đá ong thấp, trên có tượng một kỵ mã, mũ trụ, áo giáp, đeo cung kiếm.
Lớp I (Vũ Như Tô - Thị Nhiên)
Họ ở Khải Hoàn môn đi ra. Vũ Như Tô phải chống gậy đi khập khiễng, tay trái cầm một chiếc đèn lồng, chàng thúng thẳng họ.
THỊ NHIÊN:
- Đây là cái gì, tôi rờn rợn người làm sao ấy. Cái cổng này cao như núi, nó như nuốt tôi đi không bằng. Mà sao bày lắm tượng thế này. Trời đất ơi! (đếm). Tất cả mười pho, mỗi hàng năm chạy dài dằng dặc, cưỡi ngựa trông gớm chết, như đánh ai thế kia? (bước ra). Mà cái bực đá này nữa, sao mà cao, mà lắm bực thế? Ngã một cái thì chết mất thôi. To quá, cao quá, gió thổi mạnh quá. Tôi chóng mặt lắm, thầy nó ạ. Tôi chịu thôi, cho tôi ra khỏi chỗ này (bíu lấy chồng).
VŨ NHƯ TÔ (cười) - Việc gì mà chóng mặt.
THỊ NHIÊN:
- Tôi sợ lắm (chợt nhìn chồng). Mà sao thầy nó không bước đi được thế kia... Khốn nạn. Có đau lắm không? Việc gì phải giấu tôi mới được chứ?
VŨ NHƯ TÔ: (có vẻ đau nhưng gượng): Tôi có làm sao đâu. Mẹ nó đến hay lo.
THỊ NHIÊN:
- Nghe tin thầy nó ngã từ trên nóc nhà xuống, đá đè lên cả người tôi cứ rụng rời ra. Phúc làm sao mà lại được vô sự. Nhưng thế này cũng thành tật! Què mất thôi!
VŨ NHƯ TÔ:
- Đành chịu chứ làm thế nào? Mình đã thấm vào đâu. (trông chung quanh nói một hình) Được đấy! (gật gù hỏi vợ) Mẹ nó trông có đẹp không?
THỊ NHIÊN:
- Thì tôi đã bảo tôi đang sợ hết vía lên đây. Tượng kia cứ như xô lại đánh tôi. Mà cái cổng kia, nói dại, nó đổ xuống thì chết (rùng mình)...
VŨ NHƯ TÔ:
- Mẹ nó mới chỉ biết cảnh ban đêm. Chứ buổi chiều lúc mặt trời lặn, buổi sáng lúc mặt trời mọc, chỗ sáng, chỗ tối, bóng người bóng ngựa, lóng la lóng lánh, trông còn rực rỡ, đẹp đẽ bằng trăm, bằng nghìn.
THỊ NHIÊN:
- Thầy nó nói đến khéo. à phải, tôi thấy nhiều người khen cái đài này lắm.
VŨ NHƯ TÔ: - Thế à, có thật không?
THỊ NHIÊN:
- Bao nhiêu người đi xem đấy, ai về cũng trầm trồ khen đẹp, khen lớn. Họ khen rồi họ chê đấy.
VŨ NHƯ TÔ: - Họ chê ở chỗ nào?
THỊ NHIÊN:
- Có người chế đài chỉ toàn là cảnh An Nam, xấu lắm. Mấy lị họ chê ở chỉ xây đài phí tiền.
VŨ NHƯ TÔ: - Họ thì biết gì, cứ ruộng nhiều là tốt.
THỊ NHIÊN:
- Chứ gì. ấy cứ có ruộng, có thóc, có khoai, có đỗ, thế là thích nhất. Tôi cũng cứ thế đấy. à thầy nó ạ, lúa chiêm năm nay hỏng cả.
VŨ NHƯ TÔ: (mơ màng) - Hỏng à?
THỊ NHIÊN: - Vụ chiêm hỏng, mà lụt luôn mấy năm nay. Đói kém lắm thầy nó ạ
VŨ NHƯ TÔ: (nói mơ hồ) - Phó Độ mà chạm thì không còn phải nói nữa.
THỊ NHIÊN:
- Thầy nó nói gì thế!... ở làng ta, mà cả ở quanh vùng, độ này cướp bóc nhiều lắm. Không biết rồi có yên không? Bên làng Cuội, có cả giặc nổi lên. Lý trưởng đến thu thuế, chúng giết cả Lý trưởng.
VŨ NHƯ TÔ: - Phiền nhỉ?...
THỊ NHIÊN:
- Còn thằng cu Nhớn tôi cho nó đi học cụ Đồ rồi đấy. Nhưng cái Bé thì cứ quặt quẹo luôn. Khốn nạn lúc nào cũng hỏi bố ở đâu, mà bố chẳng hỏi con bao giờ. Nghĩ gì thế thầy nó?
VŨ NHƯ TÔ:
- Để nhiều khoảng rộng thế này mới đẹp, mới hùng. To lớn tự khắc là oai nghiêm.
THỊ NHIÊN: - Thôi cho tôi về.
VŨ NHƯ TÔ: - Đêm tối thế này về thế nào được!
THỊ NHIÊN:
- Thầy nó còn lạ gì tôi ngược xuôi buôn bán, làm ruộng, làm áng, quen với đêm khuya rồi. Thầy nó tính chẳng ra: Thân mình thì tàn tật, việc nhà thì bỏ, con cái cũng chẳng nhìn...
VŨ NHƯ TÔ:
- Mẹ nó nói thế nào tôi cũng xin chịu. Thôi bao nhiêu việc ở nhà xin trông ong vào mẹ nó đấy.
THỊ NHIÊN:
- Tôi có trách gì thầy nó đâu... Việc nuôi con, tôi xin lo liệu đâu có đấy. Nhưng biết bao giờ thầy nó về cho con nó mừng, cho cửa nhà vui vẻ. Con có cha như nhà có nóc. Nói thực cho tôi yên lòng nào...
VŨ NHƯ TÔ: - Độ năm năm nữa thôi.
THỊ NHIÊN: (buồn)
- Hãy còn lâu thế cơ? (ghé vào tai chồng) à này, tôi thấy người ta nói thầy nó có tình ý với cái người cung nữ Thiềm gì ấy, có phải không?
VŨ NHƯ TÔ: (tái mặt) - Chỉ bậy.
THỊ NHIÊN:
- Đàn ông thì ba vợ bảy nàng hầu, tôi có cấm đoán gì thầy nó, nhưng là nơi vua chúa, thì rồi chết cả họ!
VŨ NHƯ TÔ:
(tức giận) - Không hiểu làm sao thiên hạ lại đồn như thế? Bậy hết sức.
THỊ NHIÊN:
- Thì tôi có dám nghi ngờ thầy nó đâu? Thôi tôi về đây, nhất định năm năm nữa chứ
VŨ NHƯ TÔ:
- Năm năm nhất định. Mẹ nó ở lại đây, mai tôi dẫn đi xem chỗ đẹp hơn.
THỊ NHIÊN:
- Thôi thế là đủ, đẹp lắm rồi! Năm năm nữa. Gớm, thầy nó đến là hay vẻ chuyện. Cứ làm nho nhỏ cũng được. Người nghèo thì làm cái nhà bé, nước nhỏ thì xây cái đài nhỏ, ai lại... Đấy, lại làm thầy nó tức. Thầy nó ở lại nhé. Thế là thành tật đấy. Khổ quá. Mai bảo con là bố sắp về thì chúng nó phải biết là vui.
VŨ NHƯ TÔ:- Chán quá, chả có gì cho con.
THỊ NHIÊN:
- Thôi, tôi đi đường mua mấy cái bánh tẻ, bảo là của bố cho con thế cũng được (cắp nón đi xuống). Gớm cao quá đi mất thôi. Thầy nó có xuống được không? Đưa đèn đây tôi xách cho (giằng lấy).
VŨ NHƯ TÔ:
- Tôi xuống được. Còn giỏi chán. Mẹ nó vịn vào con rồng này mà xuống cho khỏi rợn. Còn một tay đưa tôi dắt. (Họ cùng xuống).
THỊ NHIÊN: (thè lưỡi) - Lèo ơi! Cứ như núi ấy thôi.
(Họ lần bước xuống. Khi xuống đến bực dưới cùng, vào khuất thì Thái tử Chiêm và tên thợ Chiêm ở phía tượng kỵ mã đi ra).
Lớp II: Thái tử Chiêm Thành - Một tên thợ Chiêm thành
THÁI TỬ:
- Gió mạnh quá nhỉ (trông chung quanh). Đài này kể ra thì đẹp thực! Người An Nam họ cũng tài, mà đây là họ mới bắt đầu đấy. Đến khi xong cả thì đẹp biết chừng nào. Trông lớn lao đồ sộ thực.
TÊN THỢ:
- Tưởng Thái tử không nên giúp họ xây cái đài này mới phải. Nào tải đá, nào kén thợ, nào mộ phu để bây giờ thuyền đắm, người chết hàng nghìn. Họ lại mượn cớ dọa không cho Thái tử về nước nữa.
THÁI TỬ:
- Mi hiểu làm sao được. Ta giúp họ xây đài là vì hai cớ. Cớ thứ nhất là để được chóng về nước; cớ thứ hai là để báo thù cho giống Hời ta.
TÊN THỢ: - Bẩm giúp họ xây cái đài thì sao gọi là báo thù được?
THÁI TỬ:
- Mi ngu lắm. Họ với ta có cái thù truyền kiếp. Họ đã cướp đất ta, giết dân ta, bắt hàng vạn người về làm nô tỳ. Vua Chế Bồng Nga xưa dùng võ để báo thù đài, ta mừng lắm, họ trúng kế ta. Mi có biết không? Nước ta bại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tượng, rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn họ chỉ nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang; cho nên dân họ đông, nước họ mạnh, người họ hùng cường mới lấn áp ta được. Mi bảo nước ta xây đài cho đẹp, có ích gì không? Thế mà bây giờ họ lại bắt chước ta, ta nên cố giúp cho vua họ xây đài, cho hao người tốn của, cho họ kiệt quệ như ta. Bao nhiêu tinh anh, đổ cả vào cái đài này. Mi đã biết chưa? Rồi họ chết!
TÊN THỢ - Thái tử thật là khôn ngoan.
THÁI TỬ:
Vì có mấy chuyến thuyền bị bão, chúng nhất định giữ ta lại suốt đời ở đây, không còn bao giờ trông thấy nước non, cha mẹ, hoàng phi nữa. Ta cũng đành lòng, miễn là chúng cứ xây đài. Ta chờ ngày chúng nó chết.
TÊN THỢ:
- Bẩm Thái tử, có tiếng người. (Có tiếng phó Độ hát: Buồn trông con nhện chăng tơ, nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai?) Xin Thái tử đừng nói nữa.
THÁI TỬ:
- Mi theo ta, đi xem chỗ khác. Đêm hè nóng nực ta nhớ nước không sao ngủ được. (Họ ra, trong khi bọn phó Cõi ở cửa Khải hoàn đi vào).
(Vũ Như Tô - Nguyễn Huy Tưởng. NXB Kim Đồng, 2020)
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: Đoạn sau đứng ở vị trí nào, đảm nhiệm chức năng gì đối với lớp kịch 1?
Bốn tháng sau – Cũng cảnh ấy, một đêm hè. Những phiến đá đã dọn đi. Xa xa là nửa một thứ “Khải Hoàn môn”, một bên (về phía con rồng) là bức tường đá ong thấp, trên có tượng một kị mã, mũ trụ, áo giáp, đeo cung kiếm
Câu 2: Nhân vật Thái tử Chiêm Thành có vai trò như thế nào đối với trích đoạn kịch bản trên?
Câu 3: Đọc đoạn sau và trả lời câu hỏi a, b,c
Đây là cái gì, tôi rờn rợn người làm sao ấy. Cái cổng này cao như núi, nó như nuốt tôi đi không bằng. Mà sao bày lắm tượng thế này. Trời đất ơi! (đếm). Tất cả mười pho, mỗi hàng năm chạy dài dằng dặc, cưỡi ngựa trông gớm chết, như đánh ai thế kia? (bước ra). Mà cái bực đá này nữa, sao mà cao, mà lắm bực thế? Ngã một cái thì chết mất thôi. To quá, cao quá, gió thổi mạnh quá. Tôi chóng mặt lắm, thầy nó ạ. Tôi chịu thôi, cho tôi ra khỏi chỗ này (bíu lấy chồng).
a. Đoạn sau đây gồm những thành phần nào của kịch bản
b. Đoạn trên là lời của ai diễn tả điều gì? Nhằm mục đích gì?
Câu 4: Em có đồng ý với nhận xét của Thái tử Chiêm Thành (sau đây) không? Hãy nói rõ quan điểm của mình?
Nước ta bại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tượng, rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn họ chỉ nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang; cho nên dân họ đông, nước họ mạnh, người họ hùng cường mới lấn áp ta được.
Câu 5: Phân tích bi kịch (hiện thực, khát vọng lớn lao của người nghệ sĩ) được thể hiện qua nhân vật Vũ Như Tô trong trích đoạn đọc hiểu trên.
II. VIẾT (4đ)
Câu 1. Đọc tài liệu sau và trả lời câu hỏi a,b
NHÂN VẬT VŨ NHƯ TÔ: TẤN BI KỊCH CỦA NGƯỜI NGHỆ SĨ TÀI BA
(Bùi Thị Cẩm Hằng)
Thời đại của Vũ Như Tô sống là một thời đại rối ren. Khát vọng mà người nghệ sĩ ấp ủ thật cao đẹp nhưng làm sao có thể hiện thực hóa được khi nhân dân đang đói khổ, lầm than. Hệ quả cuối cùng là người nghệ sĩ bị đẩy vào một bi kịch không lối thoát khi mâu thuẫn giữa lý tưởng nghệ thuật cao siêu, thuần túy và lợi ích thiết thực của quần chúng nhân dân.
Nguyên nhân chính xuất phát từ bản chất cái Đẹp mà Vũ Như Tô theo đuổi. Đài Cửu Trùng xây lên đó là “mộng lớn” của Vũ Như Tô. Nhưng mộng lớn đó được sử dụng với mục đích phục vụ cho cái Ác. Đó là việc ăn chơi hưởng lạc của hôn quân bạo chúa Lê Tương Dực. Vũ Như Tô đã mượn tay vua để thực hiện mệnh lớn của đời mình. Nhưng trong một cuộc sống nhân dân còn khốn khổ, điêu linh, việc theo đuổi đến cùng một cái đẹp tuyệt mỹ là một tội ác. Điều đó đã khiến người nghệ sĩ đi đến chỗ bỏ rơi cái Thiện và chà đạp lên cái Thiện. Vũ Như Tô trở thành kẻ thù, thành tội đồ của nhân dân, và bị nhân dân nguyền rủa.
Hết mình với ngọn lửa đam mê của đời mình, Vũ Như Tô đã đắm chìm vào ảo mộng mà xa rời thực tế, mù lòa trước một hiện thực nhỡn tiền: Cửu Trùng Đài xây cao bao nhiêu, quần chúng nhân dân khốn khổ lầm than bấy nhiêu.
“Phần phật bốc cao cùng một lúc là ngọn lửa sinh tồn và ngọn lửa hủy diệt. Cả hai quấn quýt lấy nhau bao nhiêu để sớm loại trừ nhau bấy nhiêu” (Băng Sơn). Nhưng, tiếc thay ngọn lửa mà Vũ Như Tô đốt lên lại là ngọn lửa hủy diệt.
Bản thân Vũ Như Tô lại luôn xem đó là ngọn lửa sinh tồn. Sự sai lầm khi theo đuổi một cái Đẹp cao cả và đẫm máu đã khiến Vũ Như Tô lầm lạc trong suy nghĩ và hành động. Nhân vật quyết liệt, cả tin trong suy nghĩ và mù quáng, cố chấp trong hành động.
Trong tình thế dầu sôi lửa bỏng, nguy ngập và cấp bách “loạn đến nơi rồi”, Vũ Như Tô vẫn một mực cố chấp “Vô lí, vô lí! Tôi làm gì nên tội”. Khi những thanh âm của cuộc nổi loạn càng rõ rệt, Vũ Như Tô vẫn vẹn nguyên một niềm tin ngày thơ và lầm lạc “Tôi sống với Cửu Trùng Đài, chết với Cửu Trùng Đài. Tôi không thể rời xa Cửu Trùng Đài một bước. Hồn tôi để cả đây”
Người nghệ sĩ hoàn toàn đắm chìm trong ảo mộng lãng mạn của đời mình mà mù lòa trước thực tế. Chỉ đến khi tận mắt chứng kiến Cửu Trùng Đài bị thiêu trụi thành tro, nhân vật mới vỡ mộng. Anh lửa đã thiêu trụi giấc mơ của Vũ Như Tô. Vũ Như Tô bị rơi xuống từ một Cửu Trùng Đài cao vời vợi. Cho đến những giây phút cuối cùng, người nghệ sĩ vẫn mù quáng và cố chấp. Vũ Như Tô vừa là nạn nhân, vừa là tội đồ, vừa đáng thương vừa đáng trách. Đó là bản chất của nhân vật bi kịch. Bởi lẽ “Nếu con người hoàn toàn vô tội thì bi kịch không còn chỗ lí thú. Nếu con người tự có lỗi hoàn toàn thì nó không khiến con người ta quan tâm” (Phạm Vĩnh Cư).
Thành công của Nguyễn Huy Tưởng là đã xây dựng được một nhân vật trung tâm vừa có tội lại vừa không có tội, vừa khiến người đọc cảm thông lại khiến người đọc trách móc. Vì vậy, cái chết của Vũ Như Tô là sự chuộc tội, dù bản thân nhân vật không ý thức được điều đó.
a. Văn bản trên viết về vấn đề gì?
b. Phân tích ngắn gọn mối liên quan của văn bản Nhân vật Vũ Như Tô: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài ba với kịch bản đọc hiểu trên (3-5 dòng)
Câu 2. Đặt vấn đề (chủ đề) rút ra từ văn bản Nhân vật Vũ Như Tô: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài ba, kịch bản đọc hiểu trên và bàn luận (thể hiện quan điểm cá nhân) về vấn đề đó (dài 1,5 – 2 trang) (3đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: Đoạn sau đứng ở vị trí nào, đảm nhiệm chức năng gì đối với lớp kịch 1? Bốn tháng sau – Cũng cảnh ấy, một đêm hè. Những phiến đá đã dọn đi. Xa xa là nửa một thứ “Khải Hoàn môn”, một bên (về phía con rồng) là bức tường đá ong thấp, trên có tượng một kị mã, mũ trụ, áo giáp, đeo cung kiếm |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Đối chiếu với chỉnh thể toàn văn bản
Lời giải chi tiết:
Ở đầu hồi kịch, thông báo thời gian, không gian và bối cảnh hồi kịch
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Nhân vật Thái tử Chiêm Thành có vai trò như thế nào đối với trích đoạn kịch bản trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những lời thoại xuất hiện nhân vật Thái tử Chiêm Thành
Lời giải chi tiết:
Tô đậm bi kịch của kiến trúc sư Vũ Như Tô; dự báo sự việc sẽ diễn ra
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Đọc đoạn sau và trả lời câu hỏi a, b, c a. Đoạn sau đây gồm những thành phần nào của kịch bản b. Đoạn trên là lời của ai diễn tả điều gì? Nhằm mục đích gì? |
Phương pháp giải:
a. Đọc kĩ đoạn văn
b. Chú ý phần chỉ dẫn về lượt lời
Lời giải chi tiết:
a. Hành động kịch và chỉ dẫn sân khấu
b. Lời của Thị Nhiên – vợ của Vũ Như Tô; diễn tả cảm xúc, cảm giác của mình khi tận mắt quan sát Cửu Trùng Đài
Nhằm mục đích: thể hiện sự đồ sộ, lớn lao của đài, tài năng của Vũ Như Tô
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Em có đồng ý với nhận xét của Thái tử Chiêm Thành (sau đây) không? Hãy nói rõ quan điểm của mình? Nước ta bại chỉ vì nay làm đền, mai đẽo tượng, rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn họ chỉ nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang; cho nên dân họ đông, nước họ mạnh, người họ hùng cường mới lấn áp ta được. |
Phương pháp giải:
Đưa ra quan điểm bản thân
Lời giải chi tiết:
Hs tự trả lời theo quan điểm bản thân
- Tham khảo gợi ý sau:
+ Lí do khiến làm nền, mai đẽo tượng , rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài
+ Lí do khiến nai lưng khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang cho dân đông nước hùng cường
+ Vai trò của các công trình kiến trúc với giá trị văn hóa dân tộc
→ Dựa vào 3 thông tin trên để thực hiện quan điểm cá nhân
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Phân tích bi kịch (hiện thực, khát vọng lớn lao của người nghệ sĩ) được thể hiện qua nhân vật Vũ Như Tô trong trích đoạn đọc hiểu trên. |
Phương pháp giải:
Nhớ lại đặc điểm của thể loại bi kịch
Chú ý những chi tiết lột tả được bi kịch nhân vật Vũ Như Tô
Lời giải chi tiết:
- Chỉ say mê xây Cửu Trùng Đài mà xa rời thực tế (không biết đến đói khổ, mất mùa của dân chúng; hao tiền tốn của vì xây đài…)
- Thân thể suy kiệt vì bắt vắt kiệt trí tuệ, thể lực…
- Không được hưởng hạnh phúc gia đình: vợ xa chồng; con nhớ bố; cha không có tiền để mua quà cho con…; chồng không lo được việc lớn cho gia đình… luôn tin vào năm năm nữa (chỉ là viễn vọng…)
- Khát vọng lớn lao (làm cho nhà nước một tòa nguy nga, tráng lệ…) không biết có trở thành hiện thực không, khi (Thị Nhiên, Thái tử Chiêm thành nghĩ về việc xây thành…)
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
a. Văn bản trên viết về vấn đề gì? b. Phân tích ngắn gọn mối liên quan của văn bản Nhân vật Vũ Như Tô: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài ba với kịch bản đọc hiểu trên (3-5 dòng) |
Phương pháp giải:
a. Đọc kĩ văn bản
b. So sánh nội dung 2 văn bản
Chú ý những chi tiết thể hiện bi kịch của nhân vật
Lời giải chi tiết:
a. Viết về bi kịch đau đớn của nghệ sĩ Vũ Như Tô (Kịch Vũ Như Tô – Nguyễn Huy Tưởng)
b. Mối liên quan: Cùng viết về một đối tượng Vũ Như Tô (bi kịch đau đớn của người kiến trúc sư)
Câu 2 (3 điểm)
|
Câu 2. Đặt vấn đề (chủ đề) rút ra từ văn bản Nhân vật Vũ Như Tô: Tấn bi kịch của người nghệ sĩ tài ba, kịch bản đọc hiểu trên và bàn luận (thể hiện quan điểm cá nhân) về vấn đề đó (dài 1,5 – 2 trang) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
- HS tự phát hiện, đặt vấn đề (thể hiện tư duy và tầm nhìn của cá nhân)
- Tham khảo một số gợi ý (HS có thể viết về các vấn đề sau)
+ Nghệ thuật xây dựng nhân vật kịch (miêu tả bi kịch, nỗi đau tột cùng)
+ Khát vọng cống hiến của người nghệ sĩ
- Lựa chọn vấn đề triển khai bài nghị luận (HS tự xác lập bố cục, góc nhìn và các yếu tố hỗ trợ để thể hiện quan điểm của mình về vấn đề bàn luận)
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6.0 điểm)
HỒN TRƯƠNG BA VÀ VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT
(Hồn Trương Ba, da hàng thịt – Lưu Quang Vũ)
Tóm tắt vở kịch
Hồn Trương Ba, da hàng thịt là vở kịch của nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Vũ, được viết vào năm 1981-1984, dựa theo truyện dân gian “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”, nội dung có ý nghĩa xã hội vô cùng sâu sắc.
Trương Ba là một người làm vườn tốt bụng, nhân hậu, rất cao cờ và thường đấu cờ với Đế Thích. Danh tiếng của ông vang đến tận trời xanh. Tuy nhiên, do sự làm ăn tắc trách mà Nam Tào gạch bừa tên Trương Ba, khiến ông phải chết oan. Theo gợi ý của Đế Thích, Nam Tào cho hồn Trương Ba nhập vào thể xác hàng thịt ngoài ba mươi tuổi mới mất ở làng bên. Trương Ba sống lại và nhập vào xác hàng thịt vừa mới chết. Trú nhờ linh hồn trong thể xác hàng thịt, Trương Ba gặp rất nhiều phiền toái: lý trưởng sách nhiễu, chị hàng thịt đòi chồng, gia đình Trương Ba cảm thấy xa lạ vì không phải da thịt của người thân mình..., bản thân
Trương Ba thì đau khổ vì phải sống trái tự nhiên, giả tạo. Đặc biệt, Trương Ba nhiễm phải nhiều thói xấu và những nhu cầu vốn không phải của chính bản thân anh vì thân xác của lão hàng thịt. Trước nguy cơ tha hóa về nhân cách và sự phiền toái do mượn thân xác của kẻ khác, Trương Ba quyết định trả lại xác cho hàng thịt và chấp nhận cái chết theo đúng quy luật sinh - lão - bệnh - tử.
Ở trong kịch bản, Lưu Quang Vũ đã tách rõ từng nghịch cảnh
Đoạn trích sau là cảnh tại nhà hàng thịt (sau khi được sống lại trong xác anh hàng thịt)
(Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt. Trời đã khuya)
HỒN TRƯƠNG BA:
(Tay áo xắn cao, mặt buồn rầu, ném mấy con dao bầu đầm đìa máu vào thùng, nói với vợ người hàng thịt) Con lợn tôi đã xẻ xong, thủ chân giò để trong thúng, thịt xếp trên phản đậy mấy tàu lá chuối, tim gan bầu dục trong cái rổ treo trên quang, chị để ý kẻo mèo chó nó tha..
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
(Mỉm cười) Được rồi, ông khỏi lo... Mà bữa nay ông chọc tiết pha thịt cũng thạo dần rồi đấy!
HỒN TRƯƠNG BA: (Lúng túng) Cũng ...cũng tạm!
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Em đã nói với ông rồi: Có khó gì đâu, ông nhỉ? Sức vóc như ông (Cầm tay Trương Ba). Hai bàn tay này vốn nhanh nhẹn tháo vát lắm!
HỒN TRƯƠNG BA: (Bối rối rụt tay lại) Công việc xong, giờ đã khuya, tôi phải về...
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Về! Hôm nào cũng vội vã thế? Ngồi xuống đây với em một lát đã, ông... Bát tiết canh em đánh cho ông, để trên chống, ông đã xơi chưa?
HỒN TRƯƠNG BA: Rồi!
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: Cả cút rượu nữa, ông đã uống chứ?
HỒN TRƯƠNG BA: Đã!
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: Với đĩa hành sống, em biết ông thích xơi hành sống
HỒN TRƯƠNG BA: Vâng, cám ơn chị.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: Cảm ơn khách sáo thế? Mà sao ông cứ gọi em là chị
HỒN TRƯƠNG BA: (Lúng túng) Thôi tôi xin phép...phải về...khuya rồi.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Ngoài kia đang mưa rét, sương gió mịt mờ khắp trời...(Cầm chai rượu dưới gầm để lên bàn). Ông uống nữa đi, thứ rượu tăm say nhưng dịu...em phải cất công đi xa lắm mới mua được (Rốt ra chén). Ông uống với em một chén, em cũng uống (Rót mình). Nào, ông!
(Hồn Trương Ba ngần ngừ nhấp rồi uống cạn)
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: (Uống) Ấm nóng cả người.
HỒN TRƯƠNG BA: (Vội vã đứng dậy) Tôi phải về.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
(Cũng đứng dậy) Ông (Buồn rầu). Ông lại về bên ấy...Còn em thì còn lại một mình, trong gian nhà trống trải này...em sợ...
HỒN TRƯƠNG BA:
(Ái ngại) Chị sợ gì?
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Em sợ...một mình...Ông hãy ở lại lát nữa...một lát nữa thôi...
HỒN TRƯƠNG BA: Khuya quá rồi, không tiện, chị Hợi ạ.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Nhưng không tiện cái nỗi gì kia chứ? Ông không có quyền nán lại một chút hay sao? Chẳng lẽ ông cứ mãi coi mình như đứa ở hết giờ làm công lại về đây là nhà của ông cơ mà! Và em, em là ... Sao ông cứ khăng khăng lạnh nhạt với em, bỏ mặc em vò võ một thân một mình?
HỒN TRƯƠNG BA:
Hiểu tình cảnh chị neo đơn vất vả, tôi đã không nề hà gì công việc hàng họ, thịt thà...
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Em không cần thịt thà.. Trước thì em cũng cần đấy, nhưng bây giờ em không thiết nữa! Em không thể sống thế này mãi được! Em đâu đáng phải chịu sự hững hờ của ông...Em là vợ ông!
HỒN TRƯƠNG BA:
(Khổ sở) Chị, chị phải biết rằng tôi không phải là chồng chị, không phải là anh Hợi. Hơn ai hết, chị biết rõ điều đó.
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
(Sau một hồi im lặng) Em biết, em biết chứ! Chính vì vậy mà em càng thương quý ông. Em đi lấy chồng năm mười sáu tuổi. Suốt mười năm sống bên chồng, em chưa hề biết một lời nói dịu dàng, một cử chỉ ân cần...Ngoài chuyện buôn bán lừa lọc, ông ấy chỉ biết ăn, ngủ và say rượu...Cả ban đêm, khi gần gũi vợ, ông ấy cũng say khướt. Rồi những trận đòn tàn tạ.(Vợ người hàng thịt nhắm mắt lại, trước mắt chị như hiện ra cảnh tượng cũ: Xác người hàng thịt mang hồn Trương Ba vụt trở về anh hàng thịt đang khật khưỡng ngồi uống rượu, tay gắp miệng nhai nhồm nhoàm. Rồi anh ta loạng choạng đứng dậy, hùng hổ trỏ tay vào mặt vợ. Chị vợ sợ hãi lùi dần. Anh hàng thịt vung nắm tay. Chị vợ kêu lên. Chị mở bừng mắt ra: Trước mặt chị lại là Anh hàng thịt mang hồn Trương Ba điềm tĩnh hiền hậu).
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Giờ đây, ở bên em, vẫn là hình vóc ấy, khuôn mặt ấy nhưng tất cả đều đã khác... Lần đầu tiên em được biết thế nào là những lời thanh tạo hiền hậu, những cử chỉ nhã nhặn ân cần. Lần đầu tiên em thấy mình được quý trọng...
HỒN TRƯƠNG BA: Kìa, chẳng phải là chị đã khóc thương tiếc ông nhà đó sao?
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Đúng! Không phải em ghét bỏ gì con người cũ của chồng em. Em đã chịu ơn ông ấy, thuộc về ông ấy, than khóc khổ sở khi ông ấy mất nhưng chỉ từ khi ông tới, hay nói đúng hơn từ khi hồn ông nhập vào thân xác chồng em, em mới biết trước kia em thiếu những gì, em mới biết lâu nay em chưa hề được sống lại thời con gái, nỗi sướng vui... Em cảm tạ Trời Phật đã cho hồn ông nhập vào hình vóc quen thuộc này! (Cầm hai bàn tay Hồn Trương Ba). Em không ao ước gì hơn nữa! Người chồng toàn vẹn của em đây! Người em đã từng mong đợi xưa kia đây! Anh đừng e ngại nữa, em là của anh.. (ôm lấy Trương Ba thắm thiết, say sưa). Đôi cánh tay này đã bao lần ghì chặt lấy em đến nỗi em phát sợ nhưng bây giờ đã khác trước, anh nhỉ? (gục mặt vào ngực hồn Trương Ba).
(Như bị một sức mạnh ghê gớm kéo đi, hồn Trương Ba cũng ôm lấy vợ người hàng thịt, vuốt ve đôi vai và cánh tay mạnh mẽ của chị ta)
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
(Vuốt tóc Trương Ba) Em sẽ săn sóc hầu hạ anh, tận tụy với anh mãi. Anh ơi, chúng ta hãy rời bỏ nơi này, vứt bỏ tất cả, không còn hồn Trương Ba, xác hàng thịt gì nữa, chỉ còn em với anh... Chúng ta hãy trốn đi, tới một nơi nào đó không còn ai biết quá khứ của chúng ta nữa, không còn lão Lý trưởng, không còn những thằng lái lợn, không có cả gã con trai gian xảo của anh..
Chúng ta sẽ đi ngay ngày mai, băng qua mấy cánh đồng, là sẽ tới bến Tằm, ta sẽ xuống đò xuôi ở đó...
HỒN TRƯƠNG BA:
(Như sực tỉnh) Bến Tằm? (Ngơ ngác rồi bàng hoàng buông vợ người hàng thịt ra, đứng bật dậy) Bến Tằm... đêm hát đối... Mình...trời ơi, ta đang làm gì thế này? (Nhìn lại đôi tay mình, sợ hãi) Không! Không (Lùi xa vợ người hàng thịt) Cái đốm sáng mong manh nào trong ta vừa chợt loé lên? Vái linh hồn của ta, hãy trở lại với ta, Trương Ba...ta là Trương Ba.. Mình ơi! Tôi đã làm gì? (Ôm mặt) Bà nó ơi!
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT:
Kìa! Anh! (Đến bên Trương Ba nhìn vừa đắm đuối vừa năn nỉ). Anh!
HỒN TRƯƠNG BA:
(Lắc đầu) Không! Đừng! Hãy tha cho tôi! Tôi van chị! (Như sợ mình không thắng nổi sự cám dỗ, lùi dần ra cửa) Không! (Chạy đi)
VỢ NGƯỜI HÀNG THỊT: (Gục xuống nức nở) Anh!
(Đèn tắt, chuyển cảnh)
(Hồn Trương Ba da hàng thịt - Tôi và chúng ta, Lưu Quang Vũ, Nxb Kim Đồng 2010)
Lưu Quang Vũ (1948 – 1988) là một nhà soạn kịch, nhà thơ và nhà văn người Việt Nam. Các vở kịch, truyện ngắn, thơ của Lưu Quang Vũ giàu tính hiện thực và nhân văn, in đậm dấu ấn của từng giai đoạn trong cuộc sống của ông. Ông đã là tác giả của gần 50 vở kịch và hầu hết các vở kịch của ông đều được các đoàn kịch, chèo gây dựng thành công dưới sự chỉ đạo của nhiều đạo diễn nổi tiếng làm sôi động sân khấu Việt Nam thời kì đó
Trả lời câu hỏi:
Câu 1: (Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt. Trời đã khuya) là thành phần nào của kịch bản, có hình thức như thế nào, đảm nhiệm chức năng gì ở lớp kịch?
Câu 2: Đọc đoạn sau và cho biết: Người vợ hàng thịt mong muốn điều gì? Vì sao chị lại bỏ lửng lời nói ở dấu ba chấm trong lời của mình?
Nhưng không tiện cái nỗi gì kia chứ? Ông không có quyền nán lại một chút hay sao? Chẳng lẽ ông cứ mãi coi mình như đứa ở hết giờ làm công lại về, đây là nhà của ông cơ mà! Và em, em là… Sao ông cứ khăng khăng lạnh nhạt với em, bỏ mặc em vò võ một thân một mình?
Câu 3: Nêu suy nghĩ, tình cảm của em dành cho nhân vật Hồn Trương Ba
Câu 4: Trích đoạn kịch Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt đã tác động như thế nào tới suy nghĩ, tình cảm của em?
Câu 5: Theo em, đọc kịch bản văn học, độc giả có được những trải nghiệm gì mà khi xem vở kịch không thể có được?
II. VIẾT (4đ)
Câu 1. Với kịch bản Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt, em nhận thấy tác giả Lưu Quang Vũ đặt ra những vấn đề nào? Em hãy điền các từ khóa của vấn đề đó vào sơ đồ sau đây

Câu 2. Lựa chọn một vấn đề mà em cho là thiết thực nhất và viết bài luận thể hiện hiểu biết, quan điểm của mình về vấn đề đó
Yêu cầu thực hiện: HS tự đặt tiêu đề và từ triển khai văn bản (dài từ 1,5 – 2 trang)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1 (1 điểm)
|
Câu 1: (Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt. Trời đã khuya) là thành phần nào của kịch bản, có hình thức như thế nào, đảm nhiệm chức năng gì ở lớp kịch? |
Phương pháp giải:
Nhớ lại các thành phần của kịch bản sân khấu và tác dụng
Lời giải chi tiết:
Chỉ dẫn sân khấu, in nghiêng trong ngoặc đơn: thời gian, nhân vật của lớp kịch
Câu 2 (1 điểm)
|
Câu 2: Đọc đoạn sau và cho biết: Người vợ hàng thịt mong muốn điều gì? Vì sao chị lại bỏ lửng lời nói ở dấu ba chấm trong lời của mình? Nhưng không tiện cái nỗi gì kia chứ? Ông không có quyền nán lại một chút hay sao? Chẳng lẽ ông cứ mãi coi mình như đứa ở hết giờ làm công lại về, đây là nhà của ông cơ mà! Và em, em là… Sao ông cứ khăng khăng lạnh nhạt với em, bỏ mặc em vò võ một thân một mình? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn kịch
Nhớ lại kiến thức về tác dụng của dấu ba chấm
Lời giải chi tiết:
Muốn hồn Trương Ba ngủ lại nhà mình; Vì ngại ngùng
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Nêu suy nghĩ, tình cảm của em dành cho nhân vật Hồn Trương Ba |
Phương pháp giải:
Chú ý những chi tiết, lời thoại thể hiện cảm xúc, con người nhân vật Hồn Trương Ba
Nêu cảm nhận của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS thể hiện góc nhìn, cảm xúc riêng của bản thân
- Gợi ý: Xác định vẻ đẹp của nhân vật; cảnh ngộ của nhân vật… Để từ đó, thể hiện sự trân trọng, sự cảm thông…
Câu 4 (1.5 điểm)
|
Câu 4: Trích đoạn kịch Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt đã tác động như thế nào tới suy nghĩ, tình cảm của em? |
Phương pháp giải:
HS nêu cảm xúc, suy nghĩ của bản thân
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: Hướng về nỗi khao khát của người vợ hàng thịt để thấy được giá trị mà con người ở tầng lớp nào cũng luôn hướng tới; hành xử, bi kịch của Hồn Trương Ba… để điều chỉnh hành vi bản thân
Câu 5 (1.5 điểm)
|
Câu 5: Theo em, đọc kịch bản văn học, độc giả có được những trải nghiệm gì mà khi xem vở kịch không thể có được? |
Phương pháp giải:
Đưa ra trải nghiệm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Được hiểu rõ cốt truyện, tưởng tượng diễn xuất của nhân vật qua ngôn từ của kịch bản
- Chỉ dẫn sân khấu giúp độc giả hiểu sâu hơn tâm trạng, cảm xúc của nhân vật
- Có thể đọc lại, suy ngẫm những ngôn từ đặc sắc diễn tả tâm trạng nhân vật, chuyển tải những triết lý, giá trị văn hóa…
II. VIẾT (4đ)
Câu 1 (1 điểm)
|
Với kịch bản Hồn Trương Ba và vợ người hàng thịt, em nhận thấy tác giả Lưu Quang Vũ đặt ra những vấn đề nào? Em hãy điền các từ khóa của vấn đề đó vào sơ đồ sau đây |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Tóm tắt văn bản bằng các từ khóa và sơ đồ hóa
Lời giải chi tiết:

Câu 2 (3 điểm)
|
Lựa chọn một vấn đề mà em cho là thiết thực nhất và viết bài luận thể hiện hiểu biết, quan điểm của mình về vấn đề đó Yêu cầu thực hiện: HS tự đặt tiêu đề và từ triển khai văn bản (dài từ 1,5 – 2 trang) |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Luận đề/ Vấn đề nghị luận |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0.25 |
- Nêu, giới thiệu luận đề/ vấn đề nghị luận - Thái độ của người viết đối với luận đề |
|
Thân bài |
2.0 |
- Mô tả/ thuyết minh ngắn gọn về luận đề - Phân tích biểu hiện của vấn đề/ luận đề - Thái độ/ tình cảm đối với đối tượng (hiện tượng/ con người) - Đề xuất một số giải pháp khả thi |
|
Kết bài |
0.5 |
- Thái độ của bản thân trước luận đề (đồng tình/ phản đối) - Nhận thức và hành động của bản thân |
|
Yêu cầu khác |
0.25 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (nghị luận) - Dẫn chứng đa dạng phù hợp với lí lẽ, ý kiến |
trithuchub.com
Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
ĐÂY THÔN VĨ DẠ
Sao anh không về chơi thôn Vĩ?
Nhìn nắng hàng cau nắng mới lên
Vướn ai mướt quá, xanh như ngọc
Là trúc che ngang mặt chữ điền
Gió theo lối gió, mây đường mây,
Dòng nước buồn thiu, hoa bắp lay.
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó,
Có chở trăng về kịp tối nay?
Mơ khách đường xa, khách đường xa.
Áo em trắng quá nhìn không ra.
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?
(Trích Đau thương, Hàn Mặc Tử, NXB Hội Nhà văn, 1995)
Câu 1 (0.5 điểm). Tìm những từ ngữ miêu tả cảnh thiên nhiên thôn Vĩ lúc bình minh.
Câu 2 (0.5 điểm). Ngắt nhịp những câu thơ sau:
“Gió theo lối gió mây đường mây
Dòng nước buồn thiu hoa bắp lay”
Câu 3 (1.0 điểm). Xác định biện pháp tu từ và tác dụng nghệ thuật trong câu thơ sau: “Sao anh không về chơi thôn Vĩ?”
Câu 4 (1.0 điểm). Anh/chị hiểu như thế nào về câu thơ: “Gió theo lối gió, mây đường mây”
Câu 5 (1.0 điểm). Anh/chị cảm nhận như thế nào về khát vọng, thái độ của nhà thơ trong những dòng thơ sau:
“Ở đây sương khói mờ nhân ảnh,
Ai biết tình ai có đậm đà?”
II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Hãy viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích chủ đề bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ.
Câu 2. (4.0 điểm)
Tình thương là hạnh phúc của con người
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của em về ý kiến trên.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp giải:
Đọc và xác định
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ miêu tả cảnh thiên nhiên thôn Vĩ lúc bình minh: nắng hàng cau, nắng mới lên, vườn ai mướt quá, xanh như ngọc, trúc che ngang mặt chữ điền.
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ và ngắt nhịp
Lời giải chi tiết:
Ngắt nhịp câu thơ:
Gió theo lối gió / mây đường mây (4/4)
Dòng nước buồn thiu / hoa bắp lay (4/4)
Câu 3
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp tu từ (câu hỏi tu từ)
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ: Câu hỏi tu từ.
- Tác dụng: Gợi lên nỗi nhớ nhung, khát khao được trở về thôn Vĩ, đồng thời bộc lộ sự nuối tiếc, trách móc nhẹ nhàng của nhân vật trữ tình.
Câu 4
Phương pháp giải:
Trình bày ý hiểu của em
Lời giải chi tiết:
Câu thơ “Gió theo lối gió, mây đường mây” diễn tả sự chia lìa, xa cách giữa thiên nhiên, con người và cảm xúc. Hình ảnh gió và mây không đi cùng nhau tượng trưng cho sự chia cắt trong tâm trạng của nhân vật trữ tình – một nỗi buồn cô đơn, lẻ loi và khát khao được gắn kết nhưng không thể.
Câu 5
Phương pháp giải:
Phân tích hình ảnh sương khói mờ nhân ảnh → thể hiện sự xa cách, mờ ảo, không rõ ràng trong tình cảm.
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ “Ở đây sương khói mờ nhân ảnh, Ai biết tình ai có đậm đà?” thể hiện sự mông lung, vô định của nhân vật trữ tình. Tình yêu trong thơ Hàn Mặc Tử vừa thiết tha vừa đầy hoài nghi, lo âu. Sự mờ ảo của sương khói gợi lên cảm giác xa cách, nỗi sợ rằng tình cảm của mình có thể không được đáp lại hoặc bị lãng quên. Đây cũng là sự tiếc nuối và khao khát về một tình yêu chân thành, sâu sắc.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, nắm nội dung chính
Xác định yêu cầu: phân tích chủ đề
Vận dụng kĩ năng lập luận, phân tích
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Đây thôn Vĩ Dạ của Hàn Mặc Tử thể hiện nỗi khắc khoải về tình yêu, cuộc sống và khao khát được trở về với vẻ đẹp thanh bình của quê hương. Thông qua bức tranh thiên nhiên thôn Vĩ dịu dàng, sáng trong, nhà thơ gợi lên nỗi nhớ nhung sâu sắc về một nơi chốn đã xa và một người từng thân thương. Bài thơ còn chất chứa tâm trạng cô đơn, tuyệt vọng của tác giả trong những ngày cuối đời, khi ông sống giữa ranh giới mong manh của thực tại và mộng tưởng. Câu hỏi tu từ da diết, những hình ảnh gợi cảm và mờ ảo như “sương khói mờ nhân ảnh”, “gió theo lối gió, mây đường mây” càng làm nổi bật sự chia lìa, xa cách trong tâm hồn thi sĩ. Từ đó, Đây thôn Vĩ Dạ không chỉ là khúc tình ca đau đáu về một mối duyên lỡ dở mà còn là tiếng vọng tha thiết từ một trái tim nghệ sĩ cô độc, đầy yêu thương nhưng tuyệt vọng trước cuộc đời.
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định vấn đề cần bàn luận
Vận dụng kiến thức của em về vấn đề
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
- Hạnh phúc là một khái niệm tinh thần trừu tượng. Tùy theo vai trò, vị trí của từng cá nhân, từ giai cấp trong xã hội mà có những quan niệm khác nhau về hạnh phúc.
- Nhân dân ta quan niệm: Tình thương là hạnh phúc của con người.
2. Thân bài
a. Giải thích câu nói: Tình thương là hạnh phúc của con người.
- Tình thương: là tình cảm nồng nhiệt làm cho gắn bó mật thiết và có trách nhiệm với người, với vật (Từ điển tiếng Việt)
- Hạnh phúc: là trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện. (Từ điển tiếng Việt)
- Tại sao Tình thương là hạnh phúc của con người?
+ Tình thương khiến cho người ta luôn hướng về nhau để chia sẻ, thông cảm, đùm bọc lẫn nhau.
+ Như vậy là thỏa mãn mọi ý nguyện, đã được hưởng sung sướng, hạnh phúc mà tình thương mang lại.
b. Phân tích để khẳng định, chứng minh các biểu hiện, ý nghĩa của tình thương:
- Trong phạm vi gia đình:
+ Cha mẹ yêu thương con cái, chấp nhận bao vất vả, cực nhọc, hi sinh bản thân để nuôi dạy con cái nên người. Con cái ngoan ngoãn, trưởng thành, cha mẹ coi đó là hạnh phúc nhất của đời mình.
+ Trong đời người có nhiều nỗi khổ, nhưng con cái không nên danh nên phận hoặc hư hỏng là nỗi đau lớn nhất của cha mẹ.
+ Con cái biết nghe lời dạy bảo của cha mẹ, biết đem lại niềm vui cho cha mẹ, đó là hiếu thảo, là tình thương và hạnh phúc.
+ Tình thương yêu, sự hòa thuận giữa anh em, giữa cha mẹ và con cái tạo nên sự bền vững của hạnh phúc gia đình.
- Trong phạm vi xã hội:
+ Tình thương chân thành là cơ sở của tình yêu đôi lứa.
+ Tình thương là truyền thống đạo lí: Thương người như thể thương thân; tạo nên sự gắn bó chặt chẽ trong quan hệ cộng đồng giai cấp, dân tộc.
+ Tình thương mở rộng, nâng cao thành tình yêu nhân loại.
- Những tấm gương sáng trong lịch sử coi Tình thương là hạnh phúc của con người:
+ Vua Trần Nhân Tông trong một chuyến đi thăm quân sĩ đã cởi áo bào khoát cho một người lính giữa đêm đông lạnh giá.
+ Hưng Đạo Đại Vương Trần Quốc Tuấn cùng chia sẻ ngọt bùi, cùng vào sinh ra tử với tướng sĩ dưới quyền trong ba cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông, giành thắng lợi vẻ vang cho dân tộc.
+ Người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi suốt đời đeo đuổi lí tưởng vì dân vì nước, gác sang một bên những oan ức, bất hạnh của riêng mình.
+ Người thanh niên Nguyễn Tất Thành xuất phát từ lòng yêu nước thương dân trong tình cảnh nô lệ nên đã rời Tổ quốc ra đi tìm đường cứu nước, cứu dân. Phương châm sống đúng đắn của Người là: Mình vì mọi người. Bác luôn lấy tình yêu thương con người làm mục đích và hạnh phúc cao nhất của cuộc đời mình.
c. Phê phán, bác bỏ:
Lối sống thờ ơ, vô cảm, thiếu tình thương, không biết quan tâm, chia sẻ, đồng cảm và giúp đỡ người khác ...
d. Liên hệ bản thân:
Rút ra bài học về phương châm sống xứng đáng là con người có đạo đức, có nhân cách và hành động vì tình thương.
3. Kết bài
- Tình thương là lẽ sống cao cả của con người. Tình thương vượt lên trên mọi sự khác biệt giữa các dân tộc trên thế giới.
- Để tình thương thực sự trở thành hạnh phúc của con người, mỗi chúng ta phải vươn lên chống đói nghèo, áp bức bất công, chiến tranh phi nghĩa ... để góp phần xây dựng một thế giới hòa bình thịnh vượng ...
Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
Lược dẫn: Trong tiết Thanh Minh, Thúy Kiều cùng với Thúy Vân và Vương Quan (là hai em của Kiều) đi chơi xuân. Khi trở về, gặp một nấm mộ vô danh ven đường, không người hương khói. Kiều hỏi thì được Vương Quan cho biết đó là mộ Đạm Tiên, một ca nhi nổi danh tài sắc nhưng bạc mệnh.
|
Lòng đâu sẵn mối thương tâm, Thoắt nghe Kiều đã đầm đầm châu sa. Đau đớn thay phận đàn bà! Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung. Phũ phàng chi bấy hoá công, Ngày xanh mòn mỏi má hồng phôi pha. Sống làm vợ khắp người ta, Hại thay thác xuống làm ma không chồng. Nào người phượng chạ loan chung, Nào người tích lục tham hồng là ai? Đã không kẻ đoái người hoài, Sẵn đây ta thắp một vài nén nhang. |
Gọi là gặp gỡ giữa đàng, Họa là người dưới suối vàng biết cho. Lầm rầm khấn vái nhỏ to, Sụp ngồi đặt cỏ trước mồ bước ra. Một vùng cỏ áy bóng tà, Gió hiu hiu thổi một và bông lau. Rút trâm giắt sẵn mái đầu, Vạch da cây vịnh bốn câu ba vần. Lại càng mê mẩn tâm thần Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra. Lại càng ủ dột nét hoa, Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài. |
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXBS Dân Trí, Hà Nội, 2013)
Câu 1 (0.5 điểm). Xác định thể thơ của văn bản
Câu 2 (0.5 điểm). Đoạn thơ trên có sử dụng kết hợp các phương thức biểu đạt nào?
Câu 3 (1.0 điểm). Phân tích hiệu quả nghệ thuật của phép điệp trong 4 câu thơ sau:
Lại càng mê mẩn tâm thần
Lại càng đứng lặng tần ngần chẳng ra.
Lại càng ủ dột nét hoa,
Sầu tuôn đứt nối, châu sa vắn dài
Câu 4 (1.0 điểm). Theo Anh/chị, quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà; Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung có còn đúng với xã hội hiện nay không? Lí giải?
Câu 5 (1.0 điểm). Anh/chị có suy nghĩ gì về thân phận của người phụ nữ trong xã hội phong kiến sau khi đọc đoạn thơ? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp tinh thần sáng lên trong gian khó của những người lính đảo ở đoạn thơ sau:
Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn (trích)
…Ôi ước gì được thấy mưa rơi
Mặt chúng tôi ngửa lên như đất
Những màu mây sẽ thôi không héo quắt
Đá san hô sẽ nảy cỏ xanh lên
Đảo xa khơi sẽ hóa đất liền
Chúng tôi không cạo đầu, để tóc lên như cỏ
Rồi kháo nhau
Bữa tiệc linh đình bày toàn nước ngọt
Ôi ước gì được thấy mưa rơi
Cơn mưa lớn vẫn rập rình ngoài biển
Ánh chớp xanh vẫn lấp loáng phía chân trời...
(Trần Đăng Khoa, Bên cửa sổ máy bay, NXB Tác phẩm mới, 1985)
Câu 2. (4.0 điểm)
Viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về thông điệp được gợi ra từ câu nói: “Hạnh phúc giữ trong tay chỉ còn là hạt; hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa” (Ernest Hemingway).
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp giải:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể thơ: lục bát
Câu 2
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Phương thức kết hợp: Tự sự và biểu cảm
Câu 3
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về tác dụng của phép điệp
Lời giải chi tiết:
Hiệu quả của phép điệp:
- Điệp từ “lại”
- Hiệu quả:
+ Nhấn mạnh, làm nổi bật tâm trạng đau đớn, xót xa của Thúy Kiều khi thăm mộ Đạm Tiên.
+ Thể hiện sự đồng cảm, niềm xót thương sâu sắc của nàng Kiều dành cho Đạm Tiên.
+ Nhịp thơ thay đổi, chậm lại; câu thơ sinh động, hấp dẫn.
Câu 4
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ và lí giải phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Quan niệm Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung không còn đúng với xã hội hiện đại.
- Lí giải: Vì trong xã hội hiện đại, nam nữ đã bình đẳng, bình quyền, người phụ nữ không còn bị ràng buộc hay phụ thuộc vào nam giới, họ đã có quyền tự chủ, tự quyết định cuộc đời và số phận của mình.
Câu 5
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ và lập luận phù hợp
Lời giải chi tiết:
- Với quan điểm trọng nam khinh nữ, người phụ nữ trong xã hội phong kiến thường không có tiếng nói, không tự quyết định được cuộc đời của mình.
- Là phái đẹp, họ vừa được nâng niu, nhưng đồng thời cũng dễ trở thành món đồ chơi, vật đổi trao trong tay người khác
- Khi còn hương sắc, họ được yêu mến, nhưng khi hương sắc tàn phai, họ lại bị chà đạp, hắt hủi, ruồng rẫy, bỏ rơi…
PHẦN II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Xác định đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 200 chữ) của đoạn văn.
Trình bày đoạn văn theo các cách diễn dịch, quy nạp, tổng- phân- hợp, móc xích hoặc song hành
Lời giải chi tiết:
Gợi ý:
- Đoạn thơ có sử dụng các biện pháp tu từ như phép điệp, phép liệt kê, phép so sánh kết hợp với những từ ngữ giản dị, đời thường, đậm chất lính (kháo nhau) có tác dụng diễn tả niềm mơ ước cháy bỏng của người lính đảo: trời có mưa, có nước ngọt, để cả thiên nhiên và con người trên đảo thỏa khát khao được hồi sinh từ nguồn nước ngọt.
- Từ ước mơ có mưa giữa bốn bề nước biển mặn cho thấy cuộc sống khó khăn vô vàn của người lính giữa đảo xa. Thấy được vẻ đẹp tinh thần của người lính đảo trong sự lạc quan, trẻ trung.
- Đoạn thơ sinh động, giàu hình ảnh, giàu cảm xúc...
Câu 2
Phương pháp giải:
Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Liên hệ kiến thức về vấn đề
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài
- Giới thiệu và nêu khái quát tư tưởng: quan niệm về hạnh phúc và sự cần thiết phải san sẻ, trao đi hạnh phúc. Trích dẫn câu cách ngôn.
2. Thân bài
* Giải thích câu nói
- Hạnh phúc là trạng thái cảm xúc vui mừng và thỏa mãn khi con người đạt được những điều mong ước trong cuộc sống: tiền tài, danh vị, sự nghiệp, học vấn, gia đình, tình yêu…
- Hạt: nhỏ bé, là yếu tố ban đầu, là khởi nguồn, đáng quý nhưng chỉ mãi ở tiềm năng…; hoa: là sự ngọt ngào, đẹp đẽ, đáng trân trọng, nâng niu, làm đẹp cho đời…; giữ trong tay: giữ cho riêng mình; mang ra san sẻ: chia sẻ cho người khác, biết trao đi…
Câu nói có nghĩa là: Hạnh phúc chưa thực sự có ý nghĩa, có giá trị khi ta chỉ giữ nó cho riêng mình. Hạnh phúc chỉ thực sự có ý nghĩa, có giá trị và làm đẹp cho đời khi ta biết trao đi, biết chia sẻ với mọi người.
* Bày tỏ quan điểm và bàn luận
- Hạnh phúc giữ trong tay chỉ còn là hạt:
+ Biểu hiện của hạnh phúc “giữ trong tay”: người có nhiều may mắn, thành công nhưng sống cá nhân, vị kỉ, vô tình với người kém may mắn hơn mình.
+ Hậu quả: Đó là hạnh phúc nhỏ nhoi, hạn hẹp, chỉ thỏa mãn cá nhân, chưa mạng lại ý nghĩa lớn lao cho cuộc đời; cuộc sống chưa thực sự có ý nghĩa (Dẫn chứng)
- Hạnh phúc mang ra san sẻ mới trổ hoa:
+ Biểu hiện của hạnh phúc “san sẻ” “trổ hoa”: luôn quan tâm và sẵn sàng chia sẻ những giá trị vật chất, tinh thần mà mình có với những người bất hạnh quanh mình.
+ Ý nghĩa của hạnh phúc “trổ hoa”: Hạnh phúc được chia sẻ sẽ đem đến niềm vui và những giá trị cho mọi người; làm vơi bớt những bất hạnh trong cuộc sống; người biết chia sẻ hạnh phúc sẽ có được niềm vui, tình yêu thương, sự biết ơn, quý mến….; cuộc sống mới thực sự ý nghĩa; xã hội trở nên tốt đẹp, nhân ái, đầy tính nhân văn… (Dẫn chứng)
* Mở rộng, phản đề
- Phê phán những người chỉ giữ hạnh phúc cho riêng mình…
- Hạnh phúc cần trao cho người xứng đáng…
* Bài học: biết quan tâm, chia sẻ, đem đến niềm vui và những điều tốt đẹp cho nọi người, cuộc sống của ta sẽ có hạnh phúc đích thực...
3. Kết bài
- Tổng kết vấn đề
Đề thi học kì 2 Văn 11 - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời câu hỏi:
(1) Cuộc sống quanh ta có biết bao nhiêu điều tốt đẹp đáng quý và cần trân trọng. Chỉ cần ta biết khéo léo nhận ra và chọn lọc, chúng ta không hề thiếu thốn những hạt giống tốt đẹp để gieo trồng. Mặt khác, trong cuộc sống cũng đầy rẫy những cỏ dại xấu xa. Chỉ cần ta sống buông trôi, thiếu hiểu biết, cuộc đời ta sẽ phải trả giá bằng những u ám, tối tăm kéo dài.
(2) Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác.
(3) Nuôi dưỡng tâm hồn cũng quan trọng, cần thiết không kém gì việc nuôi dưỡng thể xác, nhưng chúng ta rất thường lãng quên không chú ý đến việc này. Chúng ta đôi khi bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại. Nếu ý thức được điều này và bắt đầu chăm sóc gieo trồng những hạt giống tốt lành, chắc chắn bạn sẽ có được một cuộc sống tươi vui và hạnh phúc hơn nhiều.
(http://www.kynang.edu.vn/ky-nang-mem/nuoi-duong-tam-hon-noi-chinh-ban.html)
Câu 1 (0.5 điểm). Xác định nội dung chính của đoạn trích trên.
Câu 2 (0.5 điểm). Chỉ ra một biện pháp tu từ trong đoạn (1)
Câu 3 (1.0 điểm). Anh/ chị hiểu như thế nào về đoạn (2): Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác?
Câu 4 (1.0 điểm). Việc nuôi dưỡng tâm hồn có ý nghĩa như thế nào đối với con người?
Câu 5 (1.0 điểm). Thông điệp mà anh/ chị tâm đắc nhất qua văn bản là gì? Nêu rõ lí do chọn thông điệp đó.
II. VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1. (2.0 điểm)
Hãy viết 1 đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của anh/chị về hậu quả của việc “bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại” đối với tuổi trẻ trong cuộc sống hôm nay được gợi ở phần Đọc hiểu.
Câu 2. (4.0 điểm)
Em hãy viết bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) phân tích tác phẩm Mẹ Tơm của Tố Hữu
Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gươm
Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng
Thơm nức mùi tôm nặng mấy nong
Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng
Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong?
Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi
Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời
Đốt nén hương thơm, mát dạ Người
Hãy về vui chút, mẹ Tơm ơi!
Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới
Phấp phới buồm dong, nắng biển khơi...”
(Trích bài thơ “Mẹ Tơm”- Tố Hữu, Thơ Việt Nam 1945 - 1985)
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
Câu 1
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Tâm hồn con người giống như một mảnh đất, nếu biết nhận thức và nỗ lực gieo trồng những điều tốt đẹp, cuộc sống sẽ trở nên ý nghĩa và hạnh phúc; ngược lại, nếu buông thả, tâm hồn sẽ bị phủ đầy cỏ dại và dẫn đến cuộc sống tiêu cực.
Câu 2
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về biện pháp ẩn dụ
Lời giải chi tiết:
Đoạn văn sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ: hạt giống tốt đẹp, cỏ dại xấu xa
Câu 3
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
"Một tâm hồn tươi đẹp đầy hoa thơm trái quý, hay tiêu điều hoang vắng với cỏ dại lan tràn… Điều đó hoàn toàn tùy thuộc vào nhận thức và nỗ lực của chính chúng ta, không phụ thuộc vào bất kỳ ai khác" có thể hiểu rằng:
– Chính chúng ta được lựa chọn và quyết định để làm nên một tâm hồn tốt đẹp hay u ám.
– Mỗi người phải tự chú động, nỗ lực làm đẹp cuộc sống, tâm hồn của mình; đừng nên trông chờ vào người khác.
Câu 4
Phương pháp giải:
Dựa vào nội dung đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Việc nuôi dưỡng tâm hồn sẽ hướng con người tới những giá trị tốt đẹp, tránh xa những điều xấu xa. Tâm hồn đẹp cũng sẽ giúp chúng ta tự tin, yêu đời, nhận ra những điều giản đơn nhưng vô cùng ý nghĩa.
Câu 5
Phương pháp giải:
Từ nội dung rút ra thông điệp phù hợp
Lời giải chi tiết:
Thông điệp em tâm đắc nhất là: nuôi dưỡng tâm hồn tinh tế. Bởi:
- Nhiều người vẫn đang loay hoay đi tìm hạnh phúc ở nơi xa xôi mà quên mất đáp án tồn tại ngay trong họ.
- Cuộc sống và lòng người đang có nhiều biến đổi và chịu tác động nhiều từ ngoại cảnh, nếu mỗi người biết tự ý thức, chọn lọc những điều tốt thì cuộc sống của ta sẽ tốt đẹp hơn.
PHẦN II. VIẾT
Câu 1
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức của mình về vấn đề để triển khai bàn luận
Vận dụng thao tác lập luận, kĩ năng viết bài
Lời giải chi tiết:
1. Mở đoạn
- Dẫn dắt vấn đề: Trong cuộc sống hiện đại, tuổi trẻ có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng dễ bị cuốn vào lối sống buông thả, thực dụng.
- Nêu vấn đề: Việc “bỏ mặc tâm hồn mình khô cằn hoặc mọc đầy cỏ dại” để lại nhiều hậu quả tiêu cực cho thế hệ trẻ ngày nay.
2. Thân đoạn
- Giải thích:
+ “Tâm hồn khô cằn” là tâm hồn thiếu cảm xúc, tình thương, lý tưởng sống.
+ “Cỏ dại” tượng trưng cho những suy nghĩ, thói quen, hành động tiêu cực như ích kỷ, vô cảm, lười biếng, thực dụng, vướng vào tệ nạn,...
- Hậu quả:
+ Dễ mất phương hướng, không có mục tiêu sống rõ ràng.
+ Trở nên vô cảm, xa rời giá trị đạo đức, thiếu trách nhiệm với bản thân và cộng đồng.
+ Gây tổn thương cho chính mình và những người xung quanh, khó hòa nhập xã hội.
+ Lãng phí tuổi trẻ, đánh mất cơ hội phát triển toàn diện.
- Biện pháp khắc phục:
+ Thường xuyên tự nhìn lại bản thân, nhận diện “cỏ dại” trong tâm hồn để kịp thời loại bỏ.
+ Chủ động tiếp thu cái hay, cái đẹp từ sách vở, nghệ thuật, con người tử tế.
+ Tham gia các hoạt động tích cực: tình nguyện, thể thao, kỹ năng sống,… để nuôi dưỡng tâm hồn phong phú.
+ Xây dựng lý tưởng sống rõ ràng, rèn luyện đạo đức và bản lĩnh vững vàng.
- Dẫn chứng: HS đưa dẫn chứng phù hợp
3. Kết đoạn
- Nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nuôi dưỡng tâm hồn bằng những giá trị sống tích cực.
- Tuổi trẻ cần tỉnh táo, biết chọn lọc, học hỏi, rèn luyện bản thân để không đánh mất mình giữa dòng đời.
Câu 2
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nội dung bài thơ
Dựa vào đặc trưng thể loại để phân tích
Lời giải chi tiết:
Dàn ý
1. Mở bài
Giới thiệu khái quát tác giả Tố Hữu và bài thơ mẹ Tơm
- Tố Hữu- người được mệnh danh là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng Việt Nam
- Bài thơ là lời ngợi ca của nhà thơ đối với mẹ Tơm – với những phẩm chất tốt đẹp và cao quý.
2. Thân bài
- Bài thơ được Tố Hữu sáng tác khi về thăm quê hương nơi Mẹ Tơm ở sau 9 năm
- Giới thiệu mẹ Tơm
+Mẹ cũng giống như bào người phụ nữ chân yếu tay mềm khác, nhưng ở mẹ có một lòng dũng cảm
+ Mẹ đã nuôi dưỡng tác giả trong những ngày nhà thơ vượt ngục
+ Mẹ dành những phần cơm cho cán bộ, mẹ yêu thương, quan tâm, coi những chiến sĩ cách mạng như chính con ruột của mình, căm thù bọn Tây Nhật
+ Là người mẹ anh hùng bất khuất kiên trung, giàu lòng yêu thương và lí tưởng cao quý. Chính mẹ với lòng dũng cảm kiên cường, không sợ những đe dọa cùng cực hình tàn bạo của quân thù
+ Không chỉ khéo léo mẹ còn rất gan dạ và thông minh khi để lẫn những lá thư mật tuyên truyền cách mạng trong những mớ rau.
→ Bài thơ ngợi ca mẹ Tơm với những phẩm chất tốt đẹp và cao quý. Tác giả bày tỏ tình cảm đặc biệt dành cho người mẹ anh hùng
3. Kết bài
- Nêu cảm nghĩ chung về bài thơ.
Bài tham khảo
Tố Hữu có cả một dòng thơ viết về người mẹ. Trong tập thơ “Từ ấy” có bài “Bà má Hậu Giang”, trong tập thơ “Việt Bắc” có “Bầm ơi!”, “Bà Bủ”, “Bà mẹ Việt Bắc”, trong tập thơ “Gió lộng” có “Quê mẹ”, “Mẹ Tơm”, trong tập thơ “Ra trận” có “Mẹ Suốt”… Ông viết về người mẹ với tấm lòng thương yêu, kính trọng, ngợi ca.
Bài thơ “Mẹ Tơm” cũng được tác giả viết với dòng cảm xúc cao quý ấy và gửi gắm lòng biết ơn người mẹ đã nuôi dưỡng nhà thơ trong những ngày vượt ngục. Từ xúc cảm cụ thể, bài thơ vươn lên triết lí, để cao đạo lí ân nghĩa của dân tộc. Tác giả đã chọn thể loại thơ trữ tình kết hợp với tự sự thích hợp với giọng điệu tâm tình. Kết cấu của bài thơ theo diễn biến của cuộc hành trình và theo sự vận động nội tâm của tác giả.
Cái tôi trữ tình hiện diện ngay ở đầu bài thơ với cảm xúc dào dạt khi nhà thơ trở về miền biển Hậu Lộc, quê hương của mẹ Tơm, sau mười chín năm xa cách:
“Tôi lại về quê mẹ nuôi xưa
Một buổi trưa, nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đưa
Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát…”
Nhà thơ đi trong không gian thoáng đãng, dưới trưa nắng sáng, trong âm vang của sóng biển (hay sóng lòng?). Những từ láy phụ âm đầu như “xôn xao”, “đu đưa”, “ngân nga” đã cộng hưởng thành một hòa âm xao động mà êm ái du dương.
Nhà thơ trở nên hồn nhiên, trò chuyện với những cái không thể trò chuyện được, chào hỏi những vật vô tri như chào hỏi cố nhân:
“Hòn Nẹ ta ơi! Mảng về chưa đó
Có nhiều không con nục, con thu?
Cho những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố!
Nhớ nhau chăng, hỡi Hanh Cát, Hanh Cù?”
Màu sắc cũng được gợi lên thật đẹp. Màu xanh của “dừa xanh” đầy sức sống, nổi bật trên màu trắng của “cát trắng” tinh anh và điểm xuyết nét đỏ của “dưa đỏ ngọt lành”. Nhưng hay nhất của khúc tâm tình này là âm nhạc. Những từ láy và những vần lưng cộng hưởng thành những hòa âm phong phú”
“Mát rượi lòng ta ngân nga tiếng hát”
“Chào những buồm nâu thuyền câu Diêm Phố”
“Hỡi đồi cát trắng rung rinh nắng”
Trong điệu nhạc ân tình, nhà thơ tưởng nhớ đến người mẹ nuôi xưa.
“Con đã về đây, ơi mẹ Tơm
Hỡi người mẹ khổ đã dành cơm
Cho con, cho Đảng ngày xưa ấy
Không sợ tù gông, chấp súng gươm”
Tố Hữu nhớ đến mẹ Tơm là nhớ đến một người mẹ giàu lòng thương yêu, có lí tưởng cao quý. Chính mẹ Tơm mười chín năm về trước đã nuôi dưỡng, che chở, bảo vệ cho Tố Hữu trong những ngày vượt ngục đầy gian nan, bất chấp bạo lực của kẻ thù. Mẹ Tơm tình nghĩa mà anh hùng!
Nhà thơ ngạc nhiên, vui mừng trước sự đổi thay của quê hương Hậu Lộc:
“Nhà ai mới nhỉ, tường vôi trắng
Thơm phức mùi tôm nặng mấy nong
Ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng
Giếng vườn ai vậy, nước khơi trong?”
Màu sắc mới mẻ (tường vôi trắng), hương vị miền biển (thơm phức mùi tôm, hình ảnh “ngồn ngộn sân phơi khoai dát nắng" đã nói lên sự thay da đổi thịt của miền quê Hậu Lộc – một miền quê biển thanh bình, sung túc.
Nhà thơ ngơ ngác trước cuộc sống lạ lùng hôm nay. “Cô gái má bồ quân”, “Mái đầu tóc xoã xanh bên giếng”, mười chín năm trước đã quen thâ, vậy mà giờ đây cả hai đều bỡ ngỡ. Lời thoại giữa cô gái và nhà thơ tạo ra không khí sôi nổi, trẻ trung cho thơ:
“Nhiều đấy ư em, mấy tuổi rồi?
- Hai mươi.
- Ờ nhỉ, tháng năm trôi
Sóng bồi thêm bãi, thiền thêm bến
Gió lộng đường khơi, rộng đất trời!”
Rồi giọng thơ lại bùi ngùi trước hai tin buồn:
“Ông mất năm nao ngày độc lập
Bà về năm đói, làng treo lưới
Biển động: Hòn Mê, giặc bắn vào …”
Nhà thơ lại “bâng khuâng” nhớ lại chuyện cũ. Mười chín năm trước, Tố Hữu và một số bạn tù đã vượt ngục Đắc Lay về Thanh Hoá và “Duyên may dây nối, đất Hanh Cù”. Nhà thơ và các bạn tù đã tìm đến bà mẹ nghèo ở đất Hanh Cù:
“Đầu thôn, cồn vắng, túp lều rơm:
Tổ ấm chim về. Có mẹ Tơm
Hai đứa trai ngày đi cúp dạo
Nồi khoai sớm tôi lót thay cơm”
Mẹ Tơm nghèo nhưng tình nghĩa “thương người cộng sản, căm Tây, Nhật”, trung thành, thuỷ chung với cách mạng:
“Buồng Mẹ – buồng tim – giấu chúng con”
Thật không còn hình ảnh nào xác thực hơn để ngợi ca lòng trung thành của mẹ Tơm đối với Đảng, với cách mạng! Hình tượng người Mẹ cứ lớn dần lên hoà lẫn với non nước thật là cao đẹp.
… “Bóng Mẹ ngồi canh lẫn bóng cồn”
… “Bóng Mẹ ngồi trông, vọng nước non!”
Mẹ Tơm từ người mẹ nuôi dưỡng, đã trở thành người mẹ tranh đấu. Từ những việc làm âm thầm như nuôi giấu cán bộ, ngồi canh cho những hoạt động của chiến sĩ cách mạng, dần dần Mẹ đã tham gia trực tiếp vào cuộc chiến tranh:
“Chợ xa, Mẹ gánh mớ rau xanh
Thêm bó truyền đơn gọi đấu tranh
Bãi cát vàng thau in bóng mẹ
Chiều về…Hòn Nẹ…biển reo quanh!”
Mẹ Tơm gợi nhớ đến nhân vật Nhilopna trong tiểu thuyết “Người mẹ” của Macxim Go-rơ-ki. Hai người Mẹ đều bắt đầu từ tự phát đến tự giác đấu tranh. Và đều có những hành động anh hùng, bất khuất.
Nhà thơ tưởng niệm mẹ Tơm bằng một “nén hương thơm” và triết lí sâu sắc ngợi ca người Mẹ tình nghĩa mà anh hùng:
“Ôi bóng người xưa, đã khuất rồi
Tròn đôi nấm đất trắng chân đồi
Sống trong cát, chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời!
Đốt nén hương thơm mát dạ Người
Hãy về vui chút, mẹ Tơm ơi!
Nắng tươi xóm ngói, tường vôi mới
Phấp phới buồm giong, nắng biển khơi”
Thành công lớn nhất của bài thơ là đã tái hiện được hình ảnh mẹ Tơm. Người mẹ nghèo khổ sống lặng lẽ âm thầm nhưng giàu lòng thương yêu và son sắt thuỷ chung với cách mạng. Từ người mẹ thật ngoài đời đã bước vào trong thơ thành nhân vật lí tưởng của thi nhân. Tượng đài người mẹ anh hùng mà tình nghĩa dược hiện lên trong âm nhạc hoài niệm và ngợi ca nên có sức ngân vang mãi trong lòng người đọc.
Đề thi học kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
MỢ DU
(Nguyên Hồng)
(Lược phần đầu: Sau cuộc hôn nhân sắp đặt, mợ Du sống với cậu Du không hạnh phúc. Họ bỏ nhau và mợ Du phải rời quê hương, không được nuôi con, vào Vinh kiếm sống. Nhớ con, mợ tìm về quê. Để được gặp con - Dũng, mợ đã nhờ nhân vật tôi - cậu bé An - giúp đỡ).
May quá, tôi vừa tới cửa nhà cậu Du thì thằng Dũng ở trong nhà đâm bổ ra gọi hàng mía. Nó không để tôi nói thêm với nó một nhời, chạy theo tôi ngay và luôn luôn bắt tôi đưa xem đồng hào đôi mới.
Chúng tôi vừa mới đến cổng vườn nhà ông Hào, mợ Du ở một bụi dâm bụt lao sầm ra, ôm chặt lấy thằng Dũng vừa nức nở kêu tên Dũng:
- Dũng! Dũng! Dũng con ơi!
Mợ bế xốc Dũng lên, đẩy cánh cổng chạy vào trong cùng vườn. Tôi theo vào. Mợ Du đặt Dũng xuống đất, mợ quỳ thẳng đầu gối, hai tay choàng lấy người Dũng. Vẫn cái giọng nghẹn ngào ấy:
- Dũng! Dũng! Dũng có nhớ mợ không? Bà có đánh Dũng không? Cậu có bênh Dũng không? Dũng có nhớ mợ không? Có thương mợ không?
Dũng không đáp, ngả đầu vào vai mẹ mếu máo:
- Hự! Hự... mợ về nhà với con cơ...
Mợ Du hôn rối rít vào má, vào trán, vào cằm Dũng rồi khóc nức nở:
- Giời ơi! Giời ơi! Mợ chết mất! Dũng ơi! Dũng ơi!
Ánh trăng vằng vặc đã gội tràn trề xuống hai gương mặt đầm đìa nước mắt áp lên nhau và hai mái tóc ngắn dài trộn lẫn với nhau. Hương hoa cau và hoa lí sáng và ấm đã xao xuyến lên bởi những tiếng khóc dồn dập vỡ lở ở một góc vườn, rì rì tiếng dế.
Tôi dần thấy nghẹn ở cổ. Tôi phải bưng lấy mặt và quay đi chỗ khác: “Mợ ơi! Mợ ơi!”.
Đằng kia Dũng cũng: “Mợ ơi! Mợ ơi!”
Tiếng khóc của Dũng và cả chính tiếng khóc của tôi càng xé lòng tôi ra. Chợt mợ Du đứng vùng lên, hất mạnh mái tóc xõa ra đằng sau.
Thoáng cái, mắt mợ quắc lên sáng ngời và gương mặt trắng mát của mợ tái hẳn đi. Mợ cắn chặt môi dưới, lắc mạnh đầu luôn mấy cái. Ánh trăng càng chảy cuồn cuộn trong những đợt tóc đen ánh trở nên hung dài chấm gót của mợ Dũng.
Mắt người mẹ khốn nạn, mắt đứa con đầy đọa và mắt tôi đắm vào nhau không biết trong bao nhiêu phút, yên lặng và tê mê...
Một lúc sau, mợ Dũng dắt Dũng ra ngoài vườn. Tôi chực chạy ra hè trước, mợ vội chạy theo, kéo tôi lại. Mợ, một tay nắm tay Dũng, một tay xoa đầu tôi, giọng khàn khàn và vẫn nghẹn ngào:
- An và em Dũng về nhà nhé. Mấy hôm nữa mợ lại về. Mợ đã dặn ông Hào rồi đấy, An và Dũng muốn ăn thức gì thì ăn.
Nói đoạn, mợ cúi xuống lại hôn rít, vào trán, vào má, vào cổ, vào gáy Dũng.
Toàn thân tôi lại rung chuyển trước sự quyến luyến này.
(Lược phần cuối: Từ đó trở đi, mỗi lần mợ Dũng trở về, nhân vật tôi đều giúp hai mẹ con gặp nhau. Sau mười bảy, mười tám năm, nhân vật tôi tình cờ biết câu chuyện về mợ Du khi mợ đã qua đời. Di vật cuối cùng của mợ để lại chính là những bức thư và tấm ảnh chụp chung với Dũng cùng với nỗi nhớ con được ghi chú đằng sau bức ảnh.)
(Trích Những truyện hay viết cho thiếu nhi, NXB Kim Đồng, 2021, tr.113-115)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1. Xác định và nêu dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong văn bản.
Câu 2. Liệt kê những từ ngữ thể hiện tâm trạng của nhân vật tôi khi chứng kiến cuộc gặp gỡ của hai mẹ con mợ Du.
Câu 3. Chỉ ra lời người kể chuyện và lời từng nhân vật trong đoạn trích sau:
Dũng không đáp, ngả đầu vào vai mẹ mếu máo:
- Hự! Hự... mợ về nhà với con cơ...
Mợ Du hôn rối rít vào má, vào trán, vào cằm Dũng rồi khóc nức nở:
- Giời ơi! Giời ơi! Mợ chết mất! Dũng ơi! Dũng ơi!
Câu 4. Nêu tác dụng của việc sử dụng câu hỏi trong đoạn trích sau:
Dũng! Dũng! Dũng có nhớ mợ không? Bà có đánh Dũng không? Cậu có bênh Dũng không? Dũng có nhớ mợ không? Có thương mợ không?
Câu 5. Từ cuộc gặp gỡ của hai mẹ con mợ Du trong văn bản, em hãy chia sẻ một vài suy nghĩ về vai trò của tình cảm gia đình đối với mỗi người. (Trình bày khoảng 5 – 7 dòng.)
II. VIẾT
Câu 1.
Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích vẻ đẹp của tình mẫu tử trong đoạn trích ở phần đọc hiểu.
Câu 2.
Lắng nghe và thấu hiểu là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống con người. Thế nhưng, sự phát triển của xã hội hiện đại đã khiến không ít người trẻ vô tình, thờ ơ với cuộc sống và con người xung quanh.
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ của em về vấn đề một bộ phận người trẻ trong cuộc sống ngày nay đang dần đánh mất khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác.
--------HẾT--------
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về ngôi kể để xác định
- Dấu hiệu nhận biết: dựa vào đại từ nhân xưng được dùng
Cách giải:
- Ngôi kể trong văn bản: ngôi thứ nhất.
- Dấu hiệu nhận biết ngôi kể trong văn bản: Người kể chuyện xưng tôi.
Câu 2:
Phương pháp:
- Đọc kỹ đoạn văn bản
- Tìm các từ ngữ trực tiếp miêu tả cảm xúc, hành động, trạng thái của nhân vật “tôi”.
Cách giải:
Những từ ngữ thể hiện tâm trạng của nhân vật tôi khi chứng kiến cuộc gặp gỡ của hai mẹ con mợ Du: dần thấy nghẹn ở cổ; phải bưng lấy mặt và quay đi chỗ khác; tiếng khóc; xé lòng tôi; mắt tôi đắm vào; toàn thân rung chuyển.
Câu 3:
Phương pháp:
- Phân biệt lời kể và lời thoại
- Lời kể thường tả hành động, cử chỉ, bối cảnh. Lời nhân vật là lời nói trực tiếp.
Cách giải:
Lời người kể chuyện và lời từng nhân vật trong đoạn trích sau đây:
- Lời người kể chuyện:
+ Dũng không đáp, ngả đầu vào vai mẹ mếu máo.
+ Mợ Du hôn rối rít vào má, vào trán, vào cằm Dũng rồi khóc nức nở.
- Lời nhân vật:
+ Lời nhân vật Dũng: Hự! Hự... mợ về nhà với con cơ...
+ Lời nhân vật mợ Du: Giời ơi! Giời ơi! Mợ chết mất! Dũng ơi! Dũng ơi!
Câu 4:
Phương pháp:
- Phân tích tác dụng của việc dùng câu hỏi tu từ trong bối cảnh tác phẩm
Cách giải:
- Tác dụng của việc sử dụng câu hỏi trong đoạn trích:
+ Tạo giọng điệu dồn dập, tha thiết.
+ Khắc hoạ cảm xúc lo lắng, quan tâm, yêu thương của mợ Du dành cho con.
+ Thể hiện sự đồng cảm, yêu thương, trân trọng của nhà văn.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Cuộc gặp gỡ của hai mẹ con mợ Du: xúc động, tràn đầy tình yêu thương xen lẫn xót xa, đau đớn.
- HS chia sẻ một vài suy nghĩ về vai trò của tình cảm gia đình. Sau đây là một vài gợi ý: là tình cảm gắn bó thiêng liêng với con người; là điểm tựa tinh thần; là nguồn cổ vũ lớn lao;…
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Cuộc gặp gỡ của mợ Du và Dũng khiến người đọc nghẹn ngào trước tình mẫu tử thiêng liêng, mãnh liệt. Tình cảm gia đình chính là điểm tựa tinh thần vững chắc nhất, là nguồn sức mạnh giúp con người vượt qua mọi nghịch cảnh. Nó nuôi dưỡng tâm hồn, bồi đắp nhân cách và là nơi để mỗi người trở về sau những bộn bề của cuộc sống. Mất đi gia đình, con người dễ trở nên lạc lõng, cô đơn. Vì vậy, hãy trân trọng và vun đắp tình cảm gia đình mỗi ngày.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
- Tình yêu thương của mợ Du dành cho con: niềm xúc động mãnh liệt khi được gặp con lao sầm ra, ôm chặt lấy con, nức nở khóc…; sự lo lắng, hỏi han, quan tâm con giọng nghẹn ngào, hôn rối rít,…; quyến luyến, đau đớn khi phải rời xa con đầm đìa nước mắt, gương mặt tái hẳn đi, cúi xuống hôn rít …
- Tình yêu thương của cậu bé Dũng dành cho mẹ: nũng nịu khi gặp mẹ mếu máo; mong muốn được ở bên mẹ mợ về nhà với con; …
- Tình mẫu tử được thể hiện qua nghệ thuật miêu tả tâm lý nhân vật, sử dụng ngôn ngữ giản dị…
- Đánh giá: tình mẫu tử là tình cảm thiêng liêng, sâu nặng; đánh thức trong mỗi người sự đồng cảm, trân trọng đối với những tình cảm tốt đẹp trong cuộc sống.
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Trong đoạn trích “Mợ Du”, nhà văn Nguyên Hồng đã khắc họa một cách chân thực và cảm động vẻ đẹp của tình mẫu tử. Trước hết, đó là tình yêu thương mãnh liệt, dồn nén của người mẹ bất hạnh. Khi được gặp con, mợ Du lao sầm ra, ôm chặt lấy con, nức nở khóc và hôn con rối rít. Những hành động ấy vừa vồ vập, vừa xót xa. Giọng nói nghẹn ngào cùng những câu hỏi dồn dập như “Dũng có nhớ mợ không?”, “Bà có đánh Dũng không?” cho thấy nỗi lo lắng, day dứt thường trực của một người mẹ phải xa con. Đặc biệt, khoảnh khắc phải rời đi, mợ Du đầm đìa nước mắt, gương mặt tái hẳn đi, cúi xuống hôn rít lần cuối. Tất cả diễn tả sự quyến luyến, đau đớn tột cùng. Ở phía con trẻ, cậu bé Dũng cũng bộc lộ tình cảm trong trẻo, sâu sắc qua tiếng khóc mếu máo và lời nói “mợ về nhà với con cơ”, một mong muốn giản dị mà tha thiết được ở bên mẹ. Vẻ đẹp ấy còn được tôn lên nhờ nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế và ngôn ngữ giản dị, giàu sức gợi của Nguyên Hồng. Qua đó, đoạn trích không chỉ ngợi ca tình mẫu tử thiêng liêng, sâu nặng mà còn đánh thức trong lòng người đọc sự đồng cảm, trân trọng đối với những tình cảm gia đình cao quý, bất diệt trước mọi bất hạnh của số phận.
Câu 2:
Phương pháp:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài:
- Giải thích:
+ Lắng nghe là quá trình tập trung, tĩnh lặng để tiếp nhận những âm thanh xung quanh một cách chủ động.
+ Thấu hiểu là khả năng con người biết đặt mình vào vị trí của người khác để đồng cảm, sẻ chia.
+ Một bộ phận người trẻ dần đánh mất khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác là thực trạng một số người trẻ tuổi ít dần quá trình thu nhận, ngẫm suy thấu đáo, không hiểu được suy nghĩ, cảm xúc, hoàn cảnh, giá trị… của những người xung quanh.
- Bàn luận:
+ Thực trạng mất dần khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác thể hiện qua việc kết nối trực tiếp giữa những người trẻ ngày một ít đi. Người trẻ dễ trở nên vô tình, thiếu sự chia sẻ, đồng cảm với những người xung quanh…
+ Nguyên nhân của sự mất dần khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác ở người trẻ: sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội khiến người trẻ thiếu sự gắn kết trực tiếp với cộng đồng; lối sống đề cao cái tôi cá nhân của người trẻ…
+ Hậu quả: Việc mất dần khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác dẫn đến người trẻ khó tạo dựng và vun đắp các mối quan hệ tốt đẹp; làm cản trở sự phát triển của xã hội văn minh, thân thiện…
+ Giải pháp:
++ Người trẻ cần nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng của việc lắng nghe và thấu hiểu con người xung quanh: hiểu được rằng lắng nghe và thấu hiểu là một yếu tố quan trọng trong cuộc sống hiện đại; tích cực giao tiếp, rèn luyện đời sống tâm hồn, trau dồi nhân cách...
++ Người trẻ có những hành động rèn luyện khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác: rèn luyện thói quen suy ngẫm; tôn trọng sự khác biệt; bồi đắp cảm xúc, tăng cường sự đồng cảm với người khác; kết nối những hành động chia sẻ đến mọi người...
++ Gia đình tạo môi trường giao tiếp yêu thương và tôn trọng lẫn nhau; nhà trường tổ chức các hoạt động ngoại khóa giúp người trẻ có cơ hội được giao tiếp trực tiếp, thấu hiểu lẫn nhau; xã hội tăng cường các chương trình, hoạt động nhân ái, lan toả những giá trị tích cực ra cộng đồng.
- Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác: Bên cạnh một bộ phận người trẻ đang dần đánh mất khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác, vẫn còn có nhiều người trẻ biết lắng nghe, chung tay sẻ chia với cộng đồng; một số người cho rằng trong cuộc sống hiện đại người trẻ chỉ cần tập trung phát triển và theo đuổi lý tưởng của bản thân; lắng nghe và thấu hiểu người khác là quan trọng nhưng cũng cần biết lắng nghe và thấu hiểu chính bản thân mình.
* Kết bài: Khẳng định vấn đề nghị luận.
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong thời đại công nghệ số phát triển như vũ bão, con người dường như dễ dàng kết nối với nhau hơn bao giờ hết. Thế nhưng, nghịch lý thay, chính sự kết nối ảo ấy lại đang vô tình đẩy con người xa nhau hơn trong thực tế. Một vấn đề đang nổi lên đáng báo động là một bộ phận người trẻ ngày nay đang dần đánh mất khả năng lắng nghe và thấu hiểu người khác.
Trước hết, cần hiểu rõ thế nào là lắng nghe và thấu hiểu. Lắng nghe không đơn thuần là dùng tai để tiếp nhận âm thanh, mà là một quá trình tập trung, tĩnh lặng và chủ động để cảm nhận những tâm tư, tình cảm mà người khác muốn truyền đạt. Thấu hiểu là khả năng đặt mình vào vị trí của người khác, để đồng cảm, sẻ chia và thông cảm với những niềm vui, nỗi buồn hay khó khăn của họ. Vậy, một bộ phận người trẻ đang dần đánh mất khả năng ấy có nghĩa là họ trở nên vô tâm, ít quan tâm đến cảm xúc, suy nghĩ của những người xung quanh, thậm chí không còn đủ kiên nhẫn để lắng nghe và thấu hiểu.
Thực trạng này đang diễn ra khá phổ biến. Trong gia đình, nhiều bạn trẻ ít trò chuyện với cha mẹ, thường xuyên cáu gắt, khép kín trong thế giới riêng với chiếc điện thoại thông minh. Trong trường học và bạn bè, các mối quan hệ trực tiếp dần thay thế bằng những tương tác ảo qua mạng xã hội, khiến cho sự đồng cảm trước khó khăn của bạn bè ngày càng ít đi. Nhiều người sống theo lối sống “mạnh ai nấy sống”, thờ ơ trước nỗi đau của người khác. Nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng đáng buồn này? Trước hết là do sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội. Những chiếc điện thoại, máy tính bảng đã trở thành “người bạn đồng hành” không thể thiếu, khiến giới trẻ quen với giao tiếp nhanh, ngắn, thiếu chiều sâu. Bên cạnh đó, áp lực học tập, công việc và cuộc sống hiện đại khiến nhiều người trẻ chỉ biết chạy theo mục tiêu cá nhân mà quên đi việc quan tâm, chia sẻ với người khác. Lối sống đề cao cái tôi cá nhân, thiếu kỹ năng giao tiếp cũng góp phần làm trầm trọng thêm vấn đề này.
Hậu quả của việc đánh mất khả năng lắng nghe và thấu hiểu là vô cùng nghiêm trọng. Nó khiến các mối quan hệ gia đình, bạn bè trở nên rạn nứt, xa cách. Người trẻ dễ rơi vào trạng thái cô đơn, lạc lõng ngay trong chính ngôi nhà của mình. Xa hơn, điều này làm xói mòn các giá trị đạo đức truyền thống, cản trở sự phát triển của một xã hội văn minh, nhân ái và đầy tình người.
Vậy cần làm gì để khắc phục thực trạng này? Trước hết, bản thân mỗi người trẻ cần nhận thức sâu sắc tầm quan trọng của việc lắng nghe và thấu hiểu. Hãy học cách tắt những thiết bị thông minh, dành thời gian trò chuyện trực tiếp với người thân, bạn bè. Rèn luyện thói quen suy ngẫm, tôn trọng sự khác biệt, bồi đắp cảm xúc và tăng cường sự đồng cảm qua những hành động chia sẻ nhỏ nhất. Về phía gia đình, cha mẹ hãy tạo môi trường giao tiếp yêu thương, tôn trọng lẫn nhau. Nhà trường cần tổ chức các hoạt động ngoại khóa, giáo dục kỹ năng sống để học sinh có cơ hội giao tiếp trực tiếp, thấu hiểu lẫn nhau. Xã hội cần tăng cường các chương trình nhân ái, lan tỏa những giá trị tích cực ra cộng đồng.
Tất nhiên, không phải tất cả người trẻ đều như vậy. Bên cạnh một bộ phận đang đánh mất khả năng lắng nghe và thấu hiểu, vẫn còn rất nhiều bạn trẻ giàu lòng trắc ẩn, biết lắng nghe và hành động vì cộng đồng qua các chiến dịch tình nguyện, tiếp sức mùa thi, chia sẻ với những hoàn cảnh khó khăn. Đồng thời, cũng cần khẳng định rằng lắng nghe và thấu hiểu người khác là quan trọng, nhưng mỗi người cũng cần biết lắng nghe chính bản thân mình, không nên hy sinh một cách thái quá.
Tóm lại, lắng nghe và thấu hiểu là chiếc cầu nối những trái tim, là nền tảng của hạnh phúc và sự phát triển bền vững của xã hội. Việc một bộ phận người trẻ đánh mất khả năng ấy là một hồi chuông cảnh tỉnh. Mỗi chúng ta, đặc biệt là người trẻ, hãy học cách lắng nghe nhiều hơn, thấu hiểu sâu sắc hơn, để cuộc sống này thêm ấm áp và đáng trân trọng.
Đề thi học kì 2 Văn 11 Chân trời sáng tạo - Đề số 10
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản:
Mùa xuân ơi
Người gieo hạt trên cánh đồng kỉ niệm
Tháng ba sương khói như lòng
Tôi thả tình tôi trên một dòng sông
Chiều đồng giao thức màu hoa bèo tím
Mặc năm tháng ngày đêm
Kí ức xanh một vùng bến bãi
Nôn nao nỗi niềm hoa cà hoa cải
Dáng con đò gầy như dáng chị tôi
Vàng đi nắng ơi
Cho nỗi buồn tôi rạng ngời hy vọng
Tôi mặc lòng tôi lang thang đầu con sóng
Nghe tiếng chuông nguồn cội nhắc tên mình
Xin được bắt đầu bằng hai chữ bình minh
Cho bài hát hoài niệm về quê cũ
Dẫu tháng năm chưa bao giờ yên ngủ
Và trong tôi hoa gạo vẫn nhọc nhằn
Tôi đi xa để gần gũi ngàn năm
Nỗi đau đáu của một người viễn xứ
Ngày đang mới trong một chiều đã cũ
Gọi tên mùa trong tiếng lá dần xanh.
(Trích Tự tình tháng ba, Bình Nguyên Trang, Chỉ em và chiếc bình pha lê biết, NXB Văn học 2003, tr16-17)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản.
Câu 2. Tìm những loài hoa xuất hiện trong hoài niệm về tháng ba của nhà thơ.
Câu 3. Chỉ ra và nêu hiệu quả của biện pháp tu từ so sánh trong các câu thơ sau:
“Kí ức xanh một vùng bến bãi
Nôn nao nỗi niềm hoa cà hoa cải
Dáng con đò gầy như dáng chị tôi”
Câu 4. Anh/Chị hãy nhận xét tình cảm của nhân vật trữ tình dành cho quê cũ trong bài thơ.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1. Viết đoạn văn nghị luận ( khoảng 150 chữ) phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong 2 khổ thơ đầu của bài thơ Tự tình tháng ba - Bình Nguyên Trang
Mùa xuân ơi
Dáng con đò gầy như dáng chị tôi
Câu 2.
Ước mơ có thể vĩ đại hay nhỏ bé nhưng điều làm cho cuộc sống của mỗi người chúng ta thêm tươi đẹp, ý nghĩa.
Viết bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) bày tỏ suy nghĩ của anh/chị về sự cần thiết phải theo đuổi ước mơ đối với tuổi trẻ.
HẾT
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về các thể thơ
- Căn cứ vào các đặc điểm hình thức để xác định
Cách giải:
Thể thơ: Tự do
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kỹ văn bản để tìm các chi tiết phù hợp
Cách giải:
Những loài hoa xuất hiện trong hoài niệm về tháng ba của nhà thơ: hoa bèo tím, hoa cà, hoa cải, hoa gạo.
Câu 3:
Phương pháp:
- Vận dụng kiến thức về biện pháp tu từ so sánh để nhận biết
- Phân tích ít nhất 2 tác dụng
Cách giải:
- Biện pháp so sánh: Dáng con đò gầy như dáng chị tôi
- Tác dụng:
+ Gợi hình dung đầy ấn tượng về hình dáng con đò vừa gần gũi vừa nhỏ bé, mong manh như dáng hình người chị tảo tần.
+ Thể hiện tình cảm mến thương của tác giả dành cho sự vật bình dị và con người thân thuộc nơi quê nhà.
+ Giúp lời thơ trở nên sinh động, gợi hình, gợi cảm,...
Câu 4:
Phương pháp:
- Đọc toàn bộ văn bản, tìm các chi tiết, hình ảnh, từ ngữ thể hiện cảm xúc với quê cũ.
- Khái quát thành những nhận xét cụ thể về mức độ, sắc thái tình cảm.
Cách giải:
- Tình cảm của tác giả dành cho quê cũ: Yêu mến thiết tha, gắn bó sâu nặng, đau đáu nhớ nhung về một miền quê lam lũ mà thơ mộng.
- Nhận xét tình cảm của tác giả: Có thể theo hướng: Đó là tình cảm đẹp đẽ của một con người có ý thức về cội nguồn; tình cảm ấy được thể hiện chân thành, sâu sắc và xúc động.
II. PHẦN VIẾT
Câu 1:
Phương pháp:
1. Tâm trạng của nhân vật trữ tình
- Tâm trạng bâng khuâng, man mác buồn trước mùa xuân quê hương: Người gieo hạt trên cánh đồng kỉ niệm, tháng ba sương khói như lòng…
- Nỗi nhớ da diết những hình ảnh bình dị, thân thuộc: màu hoa bèo tím, kí ức xanh một vùng bến bãi, nôn nao nỗi niềm hoa cà hoa cải
- Sự đồng cảm, hóa thân sâu sắc giữa con người và cảnh vật: Sự vật (con đò) và con người (chị tôi) hòa quyện, làm nổi bật cuộc sống vất vả, gian nan và vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của người dân quê.
2. Đánh giá:
- Nỗi nhớ quê hương da diết, sâu nặng, mang màu sắc buồn vui lẫn lộn nhưng luôn hướng về cội nguồn và chứa chan niềm tin.
- Thể thơ tự do, ngôn ngữ giàu hình ảnh (ẩn dụ, so sánh), kết hợp hài hòa giữa cảm xúc
Cách giải:
Đoạn văn tham khảo:
Hai khổ thơ đầu trong bài thơ "Tự tình tháng ba" của Bình Nguyên Trang đã khắc họa một cách tinh tế tâm trạng bâng khuâng, man mác buồn của nhân vật trữ tình trước mùa xuân quê hương. Nhà thơ mở đầu bằng lời gọi "Mùa xuân ơi" như một tiếng lòng thảng thốt, thiết tha. Hình ảnh "gieo hạt trên cánh đồng kỉ niệm" là một ẩn dụ đẹp đẽ cho việc vun xới, trân trọng những ký ức về quê cũ. Câu thơ "Tháng ba sương khói như lòng" vừa gợi không gian mờ ảo của đất trời, vừa diễn tả chính xác nỗi lòng mơ hồ, xao xuyến của người đang nhớ quê. Tiếp đến là nỗi nhớ da diết những hình ảnh bình dị, thân thuộc: màu hoa bèo tím, kí ức xanh một vùng bến bãi, nỗi niềm nôn nao của hoa cà hoa cải. Đặc sắc nhất là hình ảnh so sánh "Dáng con đò gầy như dáng chị tôi". Con đò và người chị hòa quyện làm một, thể hiện sự đồng cảm sâu sắc giữa cảnh vật và con người, từ đó làm nổi bật cuộc sống vất vả, gian nan cùng vẻ đẹp bình dị, mộc mạc của người dân quê. Đánh giá chung, đây là nỗi nhớ quê hương da diết, sâu nặng, mang màu sắc buồn vui lẫn lộn nhưng luôn hướng về cội nguồn và chứa chan niềm tin. Với thể thơ tự do, ngôn ngữ giàu hình ảnh như ẩn dụ, so sánh, tác giả đã khắc họa thành công tình cảm thiêng liêng của người con xa quê.
Câu 2:
Phương pháp:
1. Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận
Giải thích:
+ Ước mơ: là những dự định, khát khao mà mỗi chúng ta mong muốn đạt được trong thời gian ngắn hoặc dài; là động lực để mỗi chúng ta vạch ra phương hướng đường đi để dẫn tới ước mơ.
+ Theo đuổi giấc mơ: là nỗ lực, phấn đấu vượt qua mọi khó khăn, thử thách, bỏ sức lực, trí tuệ để có thể biến ước mơ thành hiện thực.
Phân tích, chứng minh được VĐNL:
+ Khẳng định ý nghĩa và đưa ra vai trò, ý nghĩa của việc theo đuổi ước mơ trong đời sống mỗi người, nhất là các bạn trẻ:
++ Ước mơ có vai trò quan trọng với mỗi người, giúp chúng ta sống cuộc đời có ý nghĩa, cống hiến cho xã hội. Việc theo đuổi ước mơ sẽ giúp ta đạt được mục tiêu đã đặt ra, giúp ta có cơ hội để thể hiện và khẳng định bản thân mình.
++ Nhờ theo đuổi ước mơ mà con người biết sống có kế hoạch, biết vạch sẵn ra những bước đi để biến ước mơ thành hiện thực.
++ Nếu không theo đuổi ước mơ thì cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên vô vị, tẻ nhạt, nhàm chán; chúng ta sẽ sống hoài sống phí, và trở thành người tụt hậu bị bạn bè, xã hội bỏ lại phía sau.
HS lấy dẫn chứng về những tấm gương dám theo đuổi ước mơ đến cùng để chứng minh. (Ví dụ: nhà văn An-đéc-xen, tỉ phú Bill Gate, ông chủ của Apple là Steve Jobs,…)
Mở rộng, phản đề:
++ Tuy nhiên, vẫn còn những bạn trẻ sống không có ước mơ, không hiểu mình muốn gì và không có ý chí phấn đấu, sống buông bỏ đời mình theo số phận muốn tới đâu thì tới, sống ỷ lại, thụ động, phụ thuộc vào gia đình.
++ Một số khác thì theo đuổi những ước mơ quá xa vời, thiếu thực tế. Một số lại sống bằng lòng với thực tại, ngại khó, ngại khổ, không dám theo đuổi ước mơ.
Khẳng định lại quan điểm cá nhân và rút ra bài học cho bản thân:
+ Mỗi chúng ta cần phải có ước mơ mục đích sống cho riêng mình, nhất là lứa tuổi HS.
+ Để đạt được ước mơ chúng ta cần ra sức rèn luyện học tập, tu dưỡng đạo đức để chuẩn bị những tư trang cần thiết cho con đường đi tới ước mơ của mình.
3. Kết bài : Khẳng định lại vấn đề nghị luận
Cách giải:
Bài văn tham khảo:
Tuổi trẻ là mùa xuân của đời người, là khoảng thời gian đẹp nhất để vun đắp những khát vọng và ước mơ. Ước mơ chính là những dự định, khát khao tốt đẹp mà mỗi người mong muốn đạt được, là ngọn lửa soi sáng và là động lực để ta vạch ra phương hướng cho cuộc đời mình. Theo đuổi ước mơ là hành trình nỗ lực không ngừng nghỉ, vượt qua mọi khó khăn, thử thách, dồn sức lực và trí tuệ để biến những khát khao ấy thành hiện thực. Đối với tuổi trẻ, việc theo đuổi ước mơ không chỉ cần thiết mà còn là yếu tố quyết định ý nghĩa cuộc sống của mỗi con người.
Trước hết, ước mơ đóng vai trò vô cùng quan trọng, giúp chúng ta sống một cuộc đời có ý nghĩa và cống hiến cho xã hội. Khi có ước mơ, con người sẽ có mục tiêu rõ ràng để phấn đấu, từ đó thể hiện và khẳng định được giá trị bản thân. Nhờ theo đuổi ước mơ, ta biết sống có kế hoạch, biết vạch ra những bước đi cụ thể để biến điều không thể thành có thể. Lịch sử đã chứng minh điều đó qua tấm gương của nhà văn Andersen xuất thân từ một gia đình nghèo khổ nhưng nhờ nuôi dưỡng ước mơ viết văn, ông đã trở thành cây bút truyện cổ tích nổi tiếng thế giới. Hay tỉ phú Bill Gates, người đã theo đuổi ước mơ công nghệ từ thuở nhỏ và thành lập Microsoft, làm thay đổi cả thế giới. Ngược lại, nếu không có ước mơ, cuộc sống sẽ trở nên vô vị, tẻ nhạt, con người dễ rơi vào trạng thái sống hoài sống phí, dần bị bạn bè và xã hội bỏ lại phía sau.
Bên cạnh đó, việc theo đuổi ước mơ còn giúp tuổi trẻ rèn luyện bản lĩnh và nghị lực. Trên hành trình ấy, thất bại là điều không thể tránh khỏi, nhưng chính những lần vấp ngã sẽ tôi luyện cho ta sự kiên trì, bền bỉ và khả năng đứng dậy sau mỗi lần gục ngã. Steve Jobs, ông chủ của Apple, từng bị sa thải khỏi chính công ty do mình sáng lập nhưng ông không từ bỏ ước mơ, cuối cùng đã trở lại và đưa Apple trở thành thương hiệu toàn cầu. Điều đó cho thấy, theo đuổi ước mơ chính là con đường ngắn nhất để tuổi trẻ trưởng thành và chạm tay đến thành công.
Tuy nhiên, trong thực tế, vẫn còn không ít bạn trẻ sống không có ước mơ, không hiểu mình muốn gì, buông xuôi, ỷ lại và thụ động phụ thuộc vào gia đình. Một số khác lại mơ ước quá xa vời, thiếu thực tế hoặc có ước mơ nhưng ngại khó, ngại khổ, không dám hành động. Những lối sống ấy thật đáng phê phán bởi nó khiến tuổi trẻ lãng phí thanh xuân và đánh mất cơ hội khẳng định bản thân.
Là học sinh, mỗi chúng ta cần nhận thức sâu sắc rằng ước mơ là điều thiêng liêng và cần thiết. Hãy dám mơ ước và dám theo đuổi đến cùng. Để biến ước mơ thành hiện thực, chúng ta cần ra sức rèn luyện, học tập, tu dưỡng đạo đức, chuẩn bị hành trang vững chắc cho tương lai.
Tóm lại, theo đuổi ước mơ là điều vô cùng cần thiết đối với tuổi trẻ. Bởi lẽ, chỉ có theo đuổi ước mơ đến cùng, chúng ta mới thực sự sống một cuộc đời ý nghĩa và trọn vẹn. Mỗi ngày hãy hỏi bản thân mình đã làm gì để tiến gần hơn đến ước mơ, bởi tuổi trẻ không chờ đợi một ai, và cơ hội chỉ đến với những ai biết nắm bắt và hành động.
Công cụ tra cứu bỏ túi cho ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11
Tra cứu nhanh công thức, bảng biểu và phương pháp giải miễn phí 24/7
Tổng hợp công thức trọng tâm từ lớp 6 đến 12 chuẩn SGK mới GDPT 2018.
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, cuối kỳ các môn có lời giải chi tiết.
Công thức chuẩn, dấu hiệu nhận biết (Signal words) & chia động từ tự động.
Đánh giá độ hữu ích của lời giải
Ý kiến của em giúp Tri Thức Hub nâng cao chất lượng bài giảng
Lời giải bài Đề thi học kì 2 Văn 11 có giúp em hiểu rõ phương pháp và tự làm được bài tập không?
Luyện trắc nghiệm ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Bài học cùng chuyên đề: Đề thi học kì 2 lớp 11 - Cánh diều
Đề ôn luyện trắc nghiệm liên quan
Trắc nghiệm củng cố: Đề thi học kì 2 Văn 11
Bộ câu hỏi trắc nghiệm rèn luyện tư duy và ghi nhớ kiến thức cốt lõi.
Kho đề thi & Kiểm tra định kỳ Lớp 11
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, học kỳ và đề ôn luyện trắc nghiệm trực tuyến miễn phí.
Luyện đề thi Giữa kì & Học kì ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Sau khi học xong "Đề thi học kì 2 Văn 11- Chân trời sáng tạo", bạn có thể thử sức ngay với kho đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết và đề thi học kì chuẩn phân phối chương trình Kết Nối Tri Thức. Hỗ trợ tải trọn bộ PDF đề bài kèm Lời giải chi tiết trên App Tri Thức Hub!
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
