
Đọc hiểu và thực hành tiếng Việt - Bài 3
Flashcard 60s: Kiến thức cốt lõi
Lật thẻ nhớ nhanhChỉ 1 phút nắm trọn định nghĩa, dạng bài và bí quyết làm bài trước khi đọc giải
Ghi nhớ & Mẹo giải nhanh: Đọc hiểu và thực hành tiếng Việt - Bài 3
Giải Bài tập 1 trang 17 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Trả lời câu hỏi Bài tập 1 trang 17 SBT Văn 6 Kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Gió lạnh đầu mùa trong SGK (tr. 67 - 72) và trả lời các câu hỏi
Câu 1
Sắp xếp lại các sự việc sau theo trình tự diễn biến của câu chuyện:
A. Hai chị em Sơn ra xóm chợ chơi và thấy những người bạn ở xóm chợ nghèo mặc những bộ quần áo bạc, vá nhiều chỗ; đặc biệt em Hiên chỉ mặc manh áo rách tả tơi, co ro chịu rét.
B. Mùa đông giá lạnh đã đến, hai chị em Sơn và Lan được mặc những bộ quần áo đẹp và ấm áp.
C. Chuyện cho áo đến tai người thân. Lo sợ bị mẹ mắng, Sơn và Lan đi tìm Hiên để đòi áo.
D. Chị Lan hăm hở về lấy áo cho Hiên, Sơn thấy lòng ấm áp, vui vui.
E. Sơn thấy động lòng thương Hiên, hỏi chị về việc đem cho Hiên cái áo bông cũ của người em đã mất.
F. Mẹ Hiên sang nhà Sơn trả lại chiếc áo bông.
G. Biết hoàn cảnh của gia đình Hiên, mẹ Sơn đã cho mẹ Hiên mượn tiền để may áo cho con
Phương pháp giải:
Đọc và sắp xếp lại các sự kiện theo trình tự diễn biến của câu chuyện
Lời giải chi tiết:
Sắp xếp lại các sự việc theo trình tự diễn biến của câu chuyện: B, A, E, Ð, C, F, G
Câu 2
Theo em, nhân vật Sơn là người như thế nào? Em dựa vào những sự việc, chi tiết nào trong tác phẩm để đưa ra nhận xét đó?
Phương pháp giải:
Tìm ra các chi tiết, sự việc trong tác phẩm để nêu nhận xét của bản thân
Lời giải chi tiết:
Em có thể đưa ra những nhận xét về nhân vật Sơn.
Ví dụ: Sơn là một bạn nhỏ rất tình cảm, giàu lòng trắc ẩn, biết quan tâm và yêu thương người thân, bạn bè. Em tự tìm các sự việc và chỉ tiết trong tác phẩm để giải thích, chứng minh cho ý kiến của mình.
Câu 3
Em đồng tình hay không đồng tình với hành động vội vả đi tìm Hiên để đòi lại chiếc áo bông của nhân vật Sơn? Vì sao?
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của bản thân việc đồng tình hay không đồng tình
Lời giải chi tiết:
Em có thể nêu ý kiến đồng tình hay không đồng tình với hành động vội vã đi tìm Hiên để đòi lại chiếc áo bông của nhân vật Sơn và lí giải theo quan điểm của mình.
Gợi ý: Em đồng tình với hành động của Sơn vì Sơn sợ bị mẹ mắng và có lẽ lúc đó Sơn mới hiểu rằng chiếc áo bông cô ấy là kỉ vật rất quý của gia đình.
Hoặc: Em không đồng tình vì Sơn đã cho Hiên chiếc áo bỏng và nhà Hiên rất nghèo...
Câu 4
Trong tác phẩm, em thích nhân vật nào nhất? Vì sao?
Phương pháp giải:
Lựa chọn nhân vật mình yêu thích và lí giải nguyên nhân
Lời giải chi tiết:
Bài mẫu:
Gấp trang sách lại, lòng em vẫn thấy ấm áp khi nghĩ tới tấm lòng của cậu bé Sơn trong câu chuyện về tấm lòng thảo thơm của cậu. Dù biết có thể bị mẹ trách phạt - chẳng có người mẹ nào không phiền lòng khi con cái tự ý đem cho người khác vật gì - nhất là trong tình cảnh cuộc sống càng ngày càng khó khăn. Nhưng bỏ qua tất cả những điều đó, Sơn đã sẵn lòng tặng Hiên chiếc áo, giúp đỡ chia sẻ với bạn, không hề toan tính. Có phải chỉ vì biết nghe trái tim mách bảo, mà Sơn đã không dửng dưng trước những mảnh đời cơ cực? Hành động của Sơn là hành vi nhân ái hoàn toàn tự nguyện, không chờ bé Hiên nhờ vả, không đợi mọi người xung quanh động viên - điều này đâu dễ có ở mỗi con người? Có thể nói, không phải tiền tài hay quyền lực, mà chính lòng yêu thương nhau mới giúp con người có được những hành động cao cả. Một chú bé như Sơn đáng quý hơn hẳn nhiều người lớn mà lãnh đạm phủi tay trước đồng loại bần cùng.
Câu 5
Nếu được đặt lại nhan đề cho tác phẩm, em sẽ chọn nhan đề gì? Giải thích lí do em chọn nhan đề đó.
Phương pháp giải:
Đặt tên cho tác phẩm theo suy nghĩ và giải thích lí do
Lời giải chi tiết:
Em đặt tên cho tác phẩm theo suy nghĩ và cảm nhận của mình.
trithuchub.com
Giải Bài tập 2 trang 17,18 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Trả lời câu hỏi Bài tập 2 trang 17,18 SBT Văn 6 Kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Cô bé bán diêm (từ Em quẹt que diêm thứ hai đến của em bé bán diêm) trong SGK (tr. 63) và trả lời các câu hỏi
Câu 1
Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích
Phương pháp giải:
Dựa vào mục giới thiệu về người kể chuyện và ngôi kể trong phần Tri thức ngữ văn của bài 1. Tôi và các bạn trong SGK để tìm ra câu trả lời
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích được kể theo ngôi thứ 3 - người kể giấu mình, quan sát và kể lại mọi sự việc trong câu chuyện theo cái nhìn khách quan nhất
Câu 2
Khi quẹt que diêm thứ hai, cô bé bán diêm đã “nhìn thấy" những hình ảnh gì?
Phương pháp giải:
Đọc đoạn trích từ “Em quẹt que diêm thứ hai...tiến về phía em bé”
Lời giải chi tiết:
Khi quẹt que điệm thứ hai, cô bé bán diêm đã “nhìn thấy” hình ảnh bàn ăn được bày biện rất đẹp và một con ngỗng quay đang nhảy ra khỏi đĩa, tiến về phía em.
Câu 3
Những hình ảnh hiện lên trong trí tưởng tượng của cô bé bán diêm khi quẹt que diêm thứ hai thể hiện ước muốn gì? Ước muốn đó cho thấy nỗi khổ nào của cô bé?
Phương pháp giải:
Đọc đoạn trích từ “Em quẹt que diêm thứ hai...cảnh nghèo khổ của em bé bán diêm”
Lời giải chi tiết:
Những hình ảnh hiện lên trong trí tưởng tượng của cô bé bán diêm khi quẹt que điểm thứ hai thể hiện ước muốn có được một bữa ăn ngon lành trong đêm Giáng sinh như bao nhiêu trẻ em khác. Ước muốn đó cho thấy có bé không chỉ bị rét mà còn rất đói.
Câu 4
Tác giả muốn nhấn mạnh điều gì khi miêu tả sự tương phản giữa “mộng mị” của cô bé bán diêm và thực tế ngoài đường phố?
Phương pháp giải:
Đọc hiểu đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Miêu tả sự tương phản giữa “mộng mị” của cô bé bán diêm và thực tế ngoài đường phố, tác giả muốn nhấn mạnh tình cảnh đáng thương của cô bé. Em gái nhỏ trong cảnh đói rét cùng khổ chỉ còa biết mong ước, tưởng tượng, khao khát,...
Câu 5
Theo em, vì sao khách đi đường “hoàn toàn lãnh đạm" trước tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm? Nếu là một người qua đường lúc đó, em sẽ làm gì?
Phương pháp giải:
Đọc hiểu đoạn trích. Liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
Khách đi đường “hoàn toàn lãnh đạm" trước tình cảnh đáng thương của cô bé bán diêm vì lúc đó họ chỉ nghĩ đến bản thân và gia đình mình; vì trái tim họ đã chai sạn, thờ ơ, vô cảm trước nổi khổ của người khác. Theo em, chúng ta không nên có thái độ thờ ơ vô tâm như vậy vì cùng là đồng loại với nhau, chúng ta phải biết yêu thương san sẻ với những người có hoàn cảnh khó khăn hơn, để giúp họ vơi đi phần nào nỗi buồn vì sự khó khăn, vất vả.
Câu 6
Tìm cụm danh từ trong những câu sau. Xác định trung tâm của cụm danh từ và những ý nghĩa mà trung tâm đó được bổ sung.
a. Em quẹt que điêm thứ hai, diêm cháy và sáng rực lên.
b. Bức tường như biến thành một tấm rèm bằng vải màn.
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về danh từ để làm bài
Lời giải chi tiết:
a. Cụm danh từ: que diêm thứ hai.
- Trung tâm của cụm danh tứ: Que diêm.
- Phần phụ sau: thứ hai, bổ sung cho danh từ trung tâm đặc điểm, hạn định danh từ ra khỏi sự vật cùng loại.
b. Cụm danh từ: một tấm rèm bằng vải màn.
- Trung tâm của cụm danh từ: tấm rèm.
- Phần phụ trước: một, chỉ số lượng.
- Phần phụ sau: bằng vải màn, nêu đặc điểm, chất liệu của tấm rèm
Câu 7
Dòng nào sau đây KHÔNG phải cụm danh từ?
A. Một con ngỗng quay
B. Ngỗng ta nhảy ra khỏi đĩa
C. Những bức tường dày đặc và lạnh lẽo
D. Mấy người khách qua đường
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về danh từ để làm bài
Lời giải chi tiết:
Đáp án B.
trithuchub.com
Giải Bài tập 3 trang 18 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Trả lời câu hỏi Bài tập 3 trang 18 SBT Văn 6 Kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Cô bé bán diêm (từ Em quẹt que diêm thứ ba đến Họ đã về chầu Thượng đế) trong SGK (tr 63 - 64) và trả lời các câu hỏi
Câu 1
Khi quẹt que diêm thứ ba, cô bé bán diêm đã “nhìn thấy” những hình ảnh gì?
Phương pháp giải:
Đọc đoạn trích từ “Em quẹt que diêm thứ ba…những ngôi sao trên trời”
Lời giải chi tiết:
Khi que diêm thứ ba cháy là lúc mộng tưởng hiện ra: cô bé bán diêm thấy một cây thông Nô-en lớn, được trang trí lộng lẫy với hàng ngàn ngọn nến sáng rực, lấp lánh trên cảnh lá xanh tươi và rất nhiều bức tranh màu sắc rực rỡ như những bức bày trong các tủ hàng
Câu 2
Tại sao cô bé bán diêm lại muốn quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao?
Phương pháp giải:
Đọc đoạn trích từ “Thế là em quẹt tất cả những que diêm còn lại…Họ đã về chầu Thượng đế”
Lời giải chi tiết:
Cô bé bán diêm muốn quẹt tắt cả những que diêm còn lại trong bao vì “Em muốn níu bà lại” Trong mộng tưởng, em đã được gặp lại người bà hiền hậu của mình và muốn được ở bên bà mãi mãi
Câu 3
Những lời nói trong tưởng tượng của cô bé bán diêm với người bà hiền hậu cho em cảm nhận như thế nào về cảnh ngộ của cô bé?
Phương pháp giải:
Đọc hiểu đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Những lời nói trong tưởng tượng của cô bé bán diêm với người bà hiền hậu trong trí tưởng tượng cho thấy cô bé có cảnh ngộ thật tội nghiệp, đáng thương. Cô bé ý thức được mộng tưởng về thực tế, Em biết là khi que diêm tẳt thì bà cũng biến mất, Bà là người thương yêu em nhất nhưng đã qua đời, Giờ đây, chẳng có ai quan tâm đến em, em muốn được gặp lại bà, về với bà để được sung sướng và hạnh phúc.
Câu 4
Nêu nhận xét của em về thái độ của nhà văn đối với cô bé bán diêm. Phân tích một chi tiết làm cơ sở cho nhận xét đó
Phương pháp giải:
Đưa ra một chi tiết làm cơ sở cho lời nhận xét và phân tích
Lời giải chi tiết:
Nhà văn An-đéc-xen đã thể hiện niềm cảm thông, thương yêu, xót xa trước cảnh ngộ của em bé tội nghiệp. Chính tình thương yêu ấy đã khiến nhà văn hình dung ra cảnh huy hoàng hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doa họ nữa
Câu 5
Theo em, hình ảnh người bà cầm tay cô bé bán diêm, rồi “hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe doạ họ nữa” là một cảnh ấm áp hay thương tâm? Vì sao?
Phương pháp giải:
Nêu và lí giải ý kiến của mình
Lời giải chi tiết:
Em hãy nêu và lí giải ý kiến của mình.
Gợi ý: Hình ảnh người bà cầm tay cô bé bán diêm, rồi “hai bà cháu bay vụt lên cao, cao mãi, chẳng còn đói rét, đau buồn nào đe dọa họ nữa" là một cảnh vừa ấm áp vừa thương tâm. Chính tình thương yêu đối với em bé bất hạnh đã khiến nhà văn tưởng tượng, miêu tả cảnh đẹp đẽ và ấm áp đó. Nhưng hình ảnh này thuần tuý chỉ là mộng tưởng. Thực tế là em bé bán diêm đã chết rét trong đêm giao thừa và không ai quan tâm đến em.
Câu 6
Tìm cụm danh từ trong những câu sau. Xác định trung tâm của cụm danh từ và những ý nghĩa mà trung tâm đó được bổ sung
a. Bỗng em thấy hiện ra một cây thông Nô-en.
b. Thế là em quẹt tất cả những que diêm còn lại trong bao.
Phương pháp giải:
Tìm và xác định
Lời giải chi tiết:
a. Cụm danh từ: một cây thông Nô-en.
- Trung tâm của cụm danh từ: cây thông.
- Phần phụ trước: một, bổ sung cho danh từ trung tâm ý nghĩa về số lượng.
- Phần phụ sau: Nó-en, bổ sung cho danh từ trung tâm đặc điểm, hạn định danh từ khỏi sự vật cùng loại.
b. Cụm danh từ: tất cả những que diêm còn lại trong bao.
- Trung tâm của cụm danh từ: que diêm.
- Phần phụ trước: tất cả, những, bổ sung cho danh từ trung tâm ý nghĩa về tổng lượng, số lượng.
- Phần phụ sau: còn lai trong bao, nêu đặc điểm, hạn định danh từ khỏi sự vật cùng loạ
Câu 7
Dòng nào sau đây KHÔNG phải một cụm danh từ?
A. Một nhà buôn giàu có
B. Những ngôi sao trên trời
C. Cũng biến đi mất như lò sưởi
D. Hai bà cháu
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đã học về danh từ để xác định
Lời giải chi tiết:
Đáp án C.
trithuchub.com
Giải Bài tập 4 trang 19 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Trả lời câu hỏi Bài tập 4 trang 19 SBT Văn 6 Kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Gió lạnh đầu mùa (từ Sơn bấy giờ mới chợt nhớ ra đến ấm áp vui vui) trong SGK (tr. 70 - 71) và trả lời các câu hỏi
Câu 1
Người kể chuyện trong đoạn trích có trực tiếp tham gia vào câu chuyện không? Đó là người kể chuyện ngôi thứ mấy?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích và xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện trong đoạn trích không trực tiếp tham gia vào câu chuyện. Đó là người kể chuyện ngôi thứ ba.
Câu 2
Sơn hiểu được điều gì khi chợt nhớ ra cảnh sống nghèo khổ của mẹ con bé Hiên?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Khi chợt nhớ ra cảnh sống nghèo khó của mẹ con bé Hiên, Sơn hiểu rằng mẹ Hiên không thể có tiền mua áo rét cho con
Câu 3
Vì sao Sơn nảy ra ý định rủ chị Lan về lấy chiếc áo bông cũ của em Duyên cho bé Hiên?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Sơn nảy ra ý định rủ chị Lan về lấy chiếc áo bông cũ của em Duyên cho bé Hiên vì thương bé Hiên phải chịu rét
Câu 4
Nêu những suy nghĩ, cảm xúc của Sơn trong đoạn trích. Miêu tả những suy nghĩ, cảm xúc đó, tác giả đã làm nổi bật được điều gì ở nhân vật này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích, tìm những câu văn miêu tả cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật Sơn
Lời giải chi tiết:
Em đọc kí đoạn trích, tìm những câu văn miêu tả cảm xúc, suy nghĩ của nhân vật Sơn (hiểu cảnh sống nghèo khổ của mẹ con bé Hiên, thương bé Hiên, vui sướng khi làm một việc tốt,...). Qua đó, có thể thấy tác giả nhấn mạnh lòng nhân hậu, sự quan tâm, yêu thương, chia sẻ của Sơn với những người nghèo khổ, đáng thương.
Câu 5
Em đã bao giờ trải qua cảm xúc giống như niềm vui của Sơn khi cùng chị mang chiếc áo bông cũ cho bé Hiên? Hãy chia sẻ vì sao em có hoặc chưa có trải nghiệm đó.
Phương pháp giải:
Liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
Những việc làm tốt, dù rất nhỏ bé, đều mang đến cho chúng ta niềm vui, sự tự hào về bản thân, Em có thể nhớ lại và chia sẻ cảm xức của mình. Nếu chưa bao giờ trải qua cảm xúc đó, em hãy học cách giúp đỡ, chia sẻ với mợi người xung quanh.
Câu 6
Tìm cụm danh từ trong những câu sau. Xác định trung tâm của cụm danh từ và những ý nghĩa mà trung tâm đó được bổ sung.
a. Một ý nghĩ tốt bỗng thoáng qua trong trí, Sơn lợi gần chị thì thầm.
b. Hay là chúng ta đem cho nó cái áo bông cũ, chị ạ
Phương pháp giải:
Đọc và xác định
Lời giải chi tiết:
a. Cụm danh từ: một ý nghĩ tốt.
- Trung tâm của cụm danh từ: ý nghĩ.
- Phần phụ trước: một, có ý nghĩa chỉ số lượng.
- Phần phụ sau: tốt, chỉ đặc điểm của ý nghĩ.
b. Cụm danh từ: cái áo bông cũ.
- Trung tâm của cụm danh từ: cái đó.
- Phần phụ sau: bông, cũ, chỉ đặc điểm của áo
Câu 7
Dòng nào sau đây KHÔNG phải cụm động từ?
A. Lại gần chị thì thầm
B. Đem cho nó cái áo bông cũ
C. Với lòng ngây thơ của tuổi trẻ
D. Đứng lặng yên đợi
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về động từ để xác định
Lời giải chi tiết:
Đáp án: C.
trithuchub.com
Giải Bài tập 5 trang 19 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Trả lời câu hỏi Bài tập 5 trang 19 SBT Văn 6 Kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Gió lạnh đầu mùa (từ Hai chị em lo lắng dắt nhau đến không sợ mẹ mắng ư?) trong SGK (tr. 72) và trả lời các câu hỏi
Câu 1
Tìm các từ ngữ miêu tả tâm trạng của hai chị em Sơn khi về nhà.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Tâm trạng của hai chị em Sơn khi về nhà được thể hiện qua các từ ngữ: “lo lắng dắt nhau lên về nhà”, “Lan dắt tay Sơn khép nép” bước vào nhà, hai chị em “ngạc nhiên đứng sững ra” khi thấy mẹ của Hiên trong nhà mình.
Câu 2
Thái độ của mẹ Sơn trong hai lần nói với các con khác nhau như thế nào?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Lần đầu, mẹ Sơn “nghiêm nghị” nói với hai con. Sau đó, mẹ Sơn “vẫy hai con lại gần” “âu yếm ôm vào lòng" và nói. Với các con, thái độ của mẹ Sơn vừa nghiêm khắc vừa ấm áp, yêu thương.
Câu 3
Vì sao khi về đến nhà, Sơn “sợ hãi, cúi đầu lặng im, nép vào sau lưng chị”?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Khi về đến nhà, Sơn "sợ hải, cúi đầu lặng im, nép vào sau lưng chị” vì Sơn đã biết lỗi của mình và sợ bị mẹ mắng. Có lẽ lúc đó Sơn mới hiểu rằng mẹ rất quý chiếc áo bông cũ ấy.
Câu 4
Việc mẹ Hiên sang nhà Sơn trả lại chiếc áo bông giúp em cảm nhận như thế nào về nhân vật này?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Mẹ Hiên sang nhà Sơn để trả lại chiếc áo bông mà Sơn đã cho Hiên, Mẹ Hiên dù rất nghèo và thương con nhưng không lợi dụng lòng tốt thơ ngây của trẻ nhỏ. Hành động này cho ta cảm nhận được cách cư xử đúng đắn và giàu lòng tự trọng của một người mẹ nghèo.
Câu 5
Nhận xét về cách ứng xử của mẹ Sơn với mẹ Hiên trong đoạn trích trên.
Phương pháp giải:
Đọc và nêu nhận xét
Lời giải chi tiết:
Mẹ của Sơn đã cho mẹ Hiên vay năm hào để mua áo rét cho con như một cách giúp đỡ chân tình. Mẹ Sơn là người phụ nữ nhân hậu, tốt bụng.
Câu 6
Theo em, điều gì sẽ xảy ra nếu mẹ Hiên không sang nhà Sơn để trả lại chiếc áo bông cũ?
Phương pháp giải:
Đọc và nêu suy nghĩ
Lời giải chi tiết:
Em có thể hình dung các sự việc có thế xảy ra nếu mẹ Hiên không sang nhà Sơn để trả lại chiếc áo bông cũ.
Gợi ý: Có thể mẹ Sơn sẽ phân tích cho hại con hiểu về ý nghĩa của chiếc áo bông cũ với gia đình, hoặc mẹ Sơn sẽ cùng hai con mang sang nhà Hiên một chiếc áo ấm khác.
Câu 7
Em có cho rằng cách kết thúc truyện của tác giả là hợp lí không? Vì sao?
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của bản thân
Lời giải chi tiết:
Em có thể đồng tình hoặc không đồng tình với cách kết thúc truyện của tác giả. Nhưng em cần lí giải được quan điểm của mình.
Gợi ý: Truyện kết thúc với hình ảnh người mẹ ôm con vào lòng và ngợi khen tấm lòng nhân hậu của các con “Hai con tôi quý quá". Đây là một kết thúc truyện hợp lí, trọn vẹn, giàu chất thơ, truyền đi thông điệp về tình người ấm áp.
Câu 8
Dòng nào sau đây KHÔNG phải một cụm động từ?
A. Lo lắng dắt nhau lẻn về nhà
B. Cái áo bông cũ
C. Đang ngồi ở cái ghế con
D. Cũng biến đi mất như lò sưởi
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về động từ để xác định
Lời giải chi tiết:
Đáp án B
Câu 9
Tìm một cụm tính từ trong đoạn trích. Với trung tâm của cụm tính từ đó, hãy tạo ra ba cụm tính từ khác.
Phương pháp giải:
Đọc và xác định
Lời giải chi tiết:
Em tìm một cụm tính từ trong đoạn trích. Với trung tâm của cụm tính từ đó, tạo ra ba cụm tính từ khác.
Gợi ý: khổ lắm, quý quá. Các cụm tình từ khác có thể tạo ra là: rất khổ, khó vô cùng, khổ quá,...
trithuchub.com
Giải Bài tập 6 trang 20 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Trả lời câu hỏi Bài tập 6 trang 20 SBT Văn 6 Kết nối tri thức
Đọc lại văn bản Lắc-ki thực sự may mắn (từ Nước mắt lưng tròng đến vắt ngang lưng con mèo) trong SGK (tr. 80 - 87) và trả lời các câu hỏi
Câu 1
Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể thứ ba – người kể giấu mình, không tham gia trực tiếp mà quan sát, chứng kiến và kể lại toàn bộ câu chuyện một cách khách quan.
Câu 2
Vì sao Gióc-ba chưa từng phủ nhận khi Lắc-ki tự nhận mình là một con mèo?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Gióc-ba chưa từng phủ nhận khi hải âu (Lắc-ki) tự nhận mình là một con mèo. vì Gióc-ba cảm thấy vui sướng khi Lắc-ki muốn được giống như đàn mèo đã chăm sóc, nuôi nấng, che chở, yêu thương mình. Điều đó chứng tỏ con hải âu nhỏ đã gắn bó, yêu quý và tự hào về Gióc-ba và đàn mèo
Câu 3
Chỉ ra các chi tiết thể hiện sự quan tâm, tình yêu thương mà Gióc-ba và đàn mèo dành cho Lắc - ki
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Gióc-ba và đàn mèo đã bảo vệ Lắc-ki từ khi chào đời; chăm sóc, yêu thương Lắc-ki vô điều kiện; hết lòng vì "hạnh phúc” của Lắc-ki;....
Câu 4
Đọc đoạn trích, em có thấy Lắc-ki là con hải âu “thực sự may mắn” không? Vì sao?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Lắc-ki là con hải âu "thực sự may mắn” vì đủ rất khác biệt nhưng vẫn được Gióc-ba và đàn mèo chấp nhận, bảo vệ, yêu thương.
Câu 5
Mèo Gióc-ba khẳng định rằng: "Thật dễ dàng để chấp nhận và yêu thương một kẻ nào đó giống mình, nhưng để yêu thương ai đó khác mình thực sự rất khó khăn”. Em có đồng tình với điều đó không? Vì sao?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích và nêu ý kiến của bản thân
Lời giải chi tiết:
Em có thể lựa chọn đồng tình hoặc không đồng tình với suy nghĩ của Gióc-ba. Khi lí giải ý kiến của mình, em cần lưu ý sự khác nhau giữa việc yêu thương ai đó giống mình (dễ dàng) và yêu thương ai đó khác biệt với mình (khó khăn).
Câu 6
Chỉ ra hai cụm danh từ trong các câu sau. Tác giả có dụng ý gì khi dùng hai cụm danh từ đó.
Và chúng ta yêu con bởi vì con là một con hải âu, Một con hải âu xinh đẹp.
Phương pháp giải:
Xác định và nêu tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Hai cụm danh từ trong hai câu là: một con hỏi âu, một con hải âu xinh đẹp.
- Gợi ý: Gióc-ba muốn giảng giải, nhấn mạnh với Lắc-ki một sự thật Lắc-ki không phải là mèo như chú nghĩ. Lắc-ki là một con hải âu, hơn nữa là một con hải âu rất xinh đẹp. Điều đó thật đáng tự hào và Lắc-ki phải sống cuộc đời của một con hải âu.
Câu 7
Tìm cụm động từ trong những câu sau. Xác định trung tâm của cụm động từ và những ý nghĩa mà trung tâm đó được bổ sung.
a. Chúng ta đã bảo vệ con từ khoảnh khắc con mổ vỡ lớp vỏ trứng ra đời.
b. Chúng ta yêu con như yêu một con hải âu.
c. Chùng ta cảm thấy con cũng yêu chúng ta như vậy.
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về động từ để làm bài
Lời giải chi tiết:
a. Cụm động từ: đã bảo vệ con từ khoảnh khắc con mổ vỡ lớp vỏ trừng ra đời.
- Trung tâm của cụm động từ: bảo vệ.
- Phần phụ trước: đã, chỉ quan hệ về thời gian, biểu hiện sự nhấn mạnh.
- Phần phụ sau: con, từ khoảnh khác con mổ vỡ lớp vỏ trứng ra đời, chỉ đối tượng và thời gian của hành động bảo vệ.
b. Cụm động từ: yêu con như yêu một con hải âu.
- Trung tâm của cụm động từ: yêu.
- Phần phụ sau: cơn, như yêu một con hỏi âu, chỉ đối tượng và sự so sánh của hành động yêu.
c. Cụm động từ: cảm thấy con cũng yêu chúng ta như vậy.
- Trung tâm của cụm động từ: cảm thấy.
- Phần phụ sau: con cũng yêu chúng ta như vậy, chỉ nội dung của hành động cảm thấy.
trithuchub.com
Giải Bài tập 7 trang 20,21 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Trả lời câu hỏi Bài tập 7 trang 20,21 SBT Văn 6 Kết nối tri thức
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
Tôi đến tận gốc chanh chăm chú theo dõi. Từng đợt, từng đợt, bảy tám con một lúc, những chú bọ ngựa bé tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu tình nghịch có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên trứng mẹ, cố rướn ra, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình... rồi nhẹ nhàng tọt khỏi ổ trứng người treo lơ lửng trên một sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió. Mới ra khỏi ổ trứng, các chú nằm đờ một lát, rồi ngọ ngoạy, các chú càng cứng càng cựa quậy thì sợi tơ càng dài ra, từ từ thả các chú xuống dưới. Cứ như là mẹ các chú đang ở đó, nhẹ nhàng bồng từng chú mà đặt xuống một cái nệm êm vậy.
Chú bọ ngựa con đầu đàn “nhảy dù” trúng một quả chanh non. Chú đứng hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm nhỏ xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ, ngước nhìn từng loạt, từng loạt đòn em mình đang “đồ bộ” xuống hết sức chính xác và mau lẹ. Chú đứng trên quỏ chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi bọ ngựa, hùng dũng như con sư tử đứng vờn quả cầu...
Đàn bọ ngựa mới nở chạy tíu tít, lập tức dàn quên ra khắp cây chanh, mỗi con mỗi ngả bắt đầu một cuộc sống dũng cảm, tự lập.
(Vũ Tú Nam, Cái trứng bọ ngựa, trích Những tác phẩm chọn lọc dành cho thiếu nhi - Hoa lá trong vườn, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2009, tr. 29)
Câu 1
Xác định ngôi kể của người kể chuyện trong đoạn trích
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích để xác định ngôi kể
Lời giải chi tiết:
Người kể chuyện theo ngôi thứ nhất, xưng tôi
Câu 2
Liệt kê một số chi tiết miêu tả đàn bọ ngựa con và chú bọ ngựa con đầu đàn.
Phương pháp giải:
Tìm các chi tiết miêu tả hình dáng, màu sắc, hoạt động của đàn bọ ngựa con và chú bọ ngựa con đầu đàn
Lời giải chi tiết:
Các chi tiết miêu tả đàn bọ ngựa con: “bé tí ti như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu tinh nghịch có đôi mắt thô lố lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình...”
Các chi tiết miêu tả chú bọ ngựa con đầu đàn: “hiên ngang trên quả chanh tròn xinh, giương giương đôi tay kiếm nhỏ xíu, mình lắc lư theo kiểu võ sĩ”…
Câu 3
Nhân vặt “tôi” đã rất chăm chú và kiên nhẫn khi quan sát những cái trứng bọ ngựa nở thành đàn bọ ngựa con. Em hãy chỉ ra một số chi tiết thể hiện điều đó.
Phương pháp giải:
Chú ý các chi tiết miêu tả miêu tả đàn bọ ngựa con từ khi bắt đầu chui ra khỏi ổ trứng đến khi có thể nhảy xuống và tỏa đi “bắt đầu một cuộc sống dũng cảm, tự lập”
Lời giải chi tiết:
Các chi tiết miêu tả đàn bọ ngựa con từ khi bắt đầu chui ra khỏi ổ trứng đến khi có thể nhảy xuống và toả đi "bắt đầu một cuộc sống dũng cảm, tự lập”. Mỗi “giai đoạn” đều được tái hiện rất tỉ mỉ, chi tiết.
Ví dụ: “lách khỏi kẽ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố trườn ra, thoát được cúi đầu, cái mình... rồi nhẹ nhòng tọt khỏi ổ trứng, người treo lơ lửng trên mội sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió...”
Câu 4
Cách quan sát, miêu tả của nhân vật “tôi” thể hiện tình cảm gì với các chú bọ ngựa con?
Phương pháp giải:
Đọc hiểu đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Cách quan sát chăm chú, kiên nhẫn: cách miêu tả rất chi tiết, sinh động của nhân vật “tôi” thể hiện sự tò mò, thích thú và tình cảm yêu quý dành cho các chú bọ ngựa con.
Câu 5
Hãy quan sát kĩ một hình ảnh thiên nhiên quanh em (đám mây, bông hoa, giọt sương, cây lá,..) hoặc một con vật nuôi và ghi lại vài điều thú vị mà em nhìn thấy, cảm thấy.
Phương pháp giải:
Liên hệ bản thân
Lời giải chi tiết:
Em có thể chọn quan sát kĩ một hình ảnh thiên nhiên quanh em như đám mây, bông hoa, giọt sương, cây lá,...; hoặc một con vật nuôi như chuột cảnh, chó, mèo, thỏ, gà, trâu, bò,... Sau đó, miêu tả lại hình ảnh thiên nhiên hoặc vật nuôi ấy và thể hiện suy nghĩ, cảm xúc của em.
Câu 6
Tìm và nêu tác dụng của từ láy trong đoạn văn sau:
Từng đợt, từng đợt, bảy tám con một lúc, những chú bọ ngựa bé tí tí như con muỗi, màu xanh cốm, ló cái đầu tinh nghịch có đôi mắt thô lố lách khỏi kẻ hở trên ổ trứng mẹ, cố rướn ra, cố trườn ra, thoát được cái đầu, cái mình... rồi nhẹ nhàng tọt khỏi ôt trừng, người treo lơ lửng trên một sợi tơ rất mảnh bay bay theo chiều gió.
Phương pháp giải:
Tìm từ láy và nêu tác dụ
Lời giải chi tiết:
Từ láy: tí tỉ, thổ lộ nhẹ nhàng, lơ lửng, bay bay.
=> Việc sử dụng các từ láy giúp miêu tả sinh động hình ảnh những chủ bọ ngựa vừa mới nở: nhỏ bé, tinh nghịch, khéo léo.
Câu 7
Tìm một câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh trong đoạn trích trên và chỉ ra tác dụng của biện pháp tu từ đó.
Phương pháp giải:
Xác định biện pháp tu từ so sánh và nêu tác dụng
Lời giải chi tiết:
Câu văn có sử dụng biện pháp tu từ so sánh: “Chú đứng hiên ngang trên quả chanh, mang đầy đủ dòng máu hiệp sĩ của nòi bọ ngựa, hùng dũng như con sư tử đứng vờn quả cầu.”
Hình ảnh bọ ngựa đứng trên quả chanh được so sánh với con sư tử đứng vờn quả cầu. Biện pháp tu từ so sánh đã tô đậm vẻ đẹp khoẻ khoắn, hùng dũng của chú bọ ngựa ngay từ lúc mới sinh ra.
trithuchub.com
Giải Bài tập 8 trang 21,22,23 Sách bài tập Ngữ văn 6 - Kết nối tri thức với cuộc sống
Đề bài
Trả lời câu hỏi Bài tập 8 trang 21,22,23 SBT Văn 6 Kết nối tri thức
Đọc hai đoạn trích sau và thực hiện yêu cầu nêu ở dưới
Đoạn trích 1
Rét dữ dội, tuyết rơi. Trời đã tối hẳn. Đêm nay là đêm giao thừa. Giữa trời đông gió rét, một em gói nhỏ đầu trần, chân đi đất, đang dò dẫm trong đêm tối.
Lúc ra khỏi nhà em có đôi giày vải, nhưng giày vải phỏng có tác dụng gì kia chứ! Giày ấy của mẹ em để lại, rộng quá, em đã liên tiếp làm văng mất cả hai chiếc khi em chạy quađường, vầ lúc hai chiếc xe ngựa đang phóng nước đại.
[...] Thế rồi em phải đi đất, chân em đỏ ửng lên, rồi tím bầm lại vì rét. Chiếc tạp đề cũ kĩ của em đựng đầy diêm và tay em còn cắm thêm một bao.
Em cố kiếm một nơi có nhiều người qua lại. Nhưng trời rét quá, khách qua đường đều rảo bước rất nhanh, chẳng di đoái hoài đến lời chào hàng của em.
Suốt ngày em chẳng bán được gì cả và chẳng ai bố thí cho em chút đỉnh. Em bé đáng thương, bụng đói rét vẫn lang thang trên đường. [...] Tuy nhiên, em không
thế nào về nhà nếu không bán được ít bao diêm, hay không di bố thí cho một đồng xu nào đem về; nhất định là cha em sẽ đánh em.
(Han Cri-xti-an An-đéc-xen, Cô bé bán diêm, Nguyễn Văn Hải - Vũ Minh Toàn địch, Ngữ văn 6, tập một, Sđd, tr. 61 - 62)
Đoạn trích 2
Trước cổng trường, bên kia đường phố, một cậu bé nạo ống khói" đang đứng, tay tựa vào tường, đầu gục vào tay. Người cậu đen ngòm những bồ hóng cũng như cái bị, mấy cái chổi và cái nạo của cậu và cậu khóc nức nở, não ruột quá chứng.
Hai ba bạn nữ sinh lớp hai lại gần, hỏi cậu tại sao mà khóc như vậy.
Nhưng cậu bé nạo ống khói không trả lời, và cứ khóc mãi.
Các bạn nữ sinh lại hỏi:
- Kìa , bạn nói đi, bạn làm sao vậy? Tại sao bạn khóc?
Cậu bé bỏ cánh tay xuống, để lộ gương mặt nom hiền hậu, kể là đi nạo mấy ống khói, được số tiền cộng lại là ba hào nhưng chả may rơi mất vì vô ý bỏ vào cái túi áo thủng. Và nay không dám trở về nhà chủ vì sợ bị đánh.
Nói rồi, cậu lại càng khóc thảm thiết hơn, đầu gục vào cánh tay như một kẻ tuyệt vọng.
|...] Một nữ sinh vào loại lớn, đội cái mũ có câm chiếc lông chim xanh, lấy hai đồng xu trong túi ra vớ nói:
- Mình chỉ có hai xu, nhưng chúng ta hãy góp nhau lại.
- Minh cũng có hai xu đây - một cô bé mặc áo đỏ nói. - Thế nào tất cả chúng ta cũng kiếm đủ ba hào!
[...] Số tiền ba hào đã đủ, nhưng xu vốn tiếp tục đổ ra như mưa. Những em bé không có tiền, cũng lách qua giữa các chị lớn, đem cho những chùm hoa nho nhỏ, gọi là cũng góp phần mình.
[...] Cậu bé nạo ống khói còn lại một mình trên đường phố, đứng lau nước mắt. Không những hai tay cậu đầy cả xu, mà các bạn nữ sinh còn luồng vào khuyết áo của
cậu, đút vào túi áo, và cả trong mũ của cậu không biết bao nhiêu là chùm hoa nho nhỏ.
(Ét-môn-đô đơ A-mi-xi, Cậu bé nạo ống khói, trích Những tấm lòng cao cả, Hoàng Thiếu Sơn dịch, NXB Văn học, Hà Nội, 2016 tr. 38 - 39)
Nhân vật cô bé bán diêm và cậu bé nạo ống khói có điểm gì giống và khác nhau? Hãy so sánh hai nhân vật theo sơ đồ gợi ý dưới đây

Phương pháp giải - Xem chi tiết
Đọc và chỉ ra điểm giống và khác nhau
Lời giải chi tiết
- Điểm giống và khác nhau giữa nhân vật cô bé bán diêm và cậu bé nạo ống khói:
+ Cả hai đều là nhân vật trẻ em được nhà văn miêu tả với dáng vẻ bên ngoài rất tội nghiệp. Hai nhân vật đều có hoàn cảnh sống rất khó khăn, đáng thương. Cả hai em đều không dám trở về nhà vì sợ bị đánh.
- Khác nhau:
+ Về dáng vẻ bên ngoài: Nhân vật cô bé bán diêm hiện ra qua chi tiết miêu tả trang phục, dáng vẻ giữa đêm giao thừa lạnh giá (đầu trần; chân đi đất, chân đó ửng, tím bầm; tạp dề cũ kĩ,...).
Nhân vật cậu bé nạo ống khói hiện ra qua chỉ tiết miêu tả dáng vẻ, hành động, tâm trạng (tay tựa vào tường, đầu gục, người đen ngòm, cứ khóc mãi, tuyệt vọng).
+ Cảnh ngộ: Cô bé bán diêm nghèo khổ, đói rét; không bán được bao diêm nào, đêm giao thừa nhưng không dám về nhà vì sợ cha đánh. Cậu bé nạo ống khói người đen ngòm vì vừa làm việc xong, được ba hào nhưng chẳng may rơi mất vì em vô ý bỏ tiền vào cái túi áo thủng. Cậu bé không dám về nhà chủ vì sợ bị đánh.
+ Thái độ, hành động của những người xung quanh đối với nhân vật: Có bé bán diêm không được ai đoái hoài tới, không ai bố thí cho em một đồng xu nào. Cậu bé nạo ống khói nhận được sự đồng cảm, yêu thương, chia sẻ của nhiều bạn học sinh. Hai tay cậu đẩy đồng xu và cậu còn nhận được những chùm hoa nho nhỏ.
trithuchub.com
Công cụ tra cứu bỏ túi cho Ngữ văn Lớp 6
Tra cứu nhanh công thức, bảng biểu và phương pháp giải miễn phí 24/7
Nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ & công thức làm bài đọc hiểu, viết đoạn văn.
Giải nghĩa các yếu tố Hán Việt thường gặp và sửa lỗi chính tả.
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, cuối kỳ các môn có lời giải chi tiết.
Đánh giá độ hữu ích của lời giải
Ý kiến của em giúp Tri Thức Hub nâng cao chất lượng bài giảng
Lời giải bài Đọc hiểu và thực hành tiếng Việt - Bài 3 có giúp em hiểu rõ phương pháp và tự làm được bài tập không?
Luyện trắc nghiệm Ngữ văn Lớp 6 Lớp LOP6
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Bài học cùng chuyên đề: Bài 3: Yêu thương và chia sẻ
Đề ôn luyện trắc nghiệm liên quan
Trắc nghiệm củng cố: Đọc hiểu và thực hành tiếng Việt - Bài 3
Bộ câu hỏi trắc nghiệm rèn luyện tư duy và ghi nhớ kiến thức cốt lõi.
Kho đề thi & Kiểm tra định kỳ Lớp 6
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, học kỳ và đề ôn luyện trắc nghiệm trực tuyến miễn phí.
Luyện đề thi Giữa kì & Học kì Ngữ văn Lớp 6 Lớp LOP6
Sau khi học xong "Đọc hiểu và thực hành tiếng Việt - Bài 3", bạn có thể thử sức ngay với kho đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết và đề thi học kì chuẩn phân phối chương trình Kết Nối Tri Thức. Hỗ trợ tải trọn bộ PDF đề bài kèm Lời giải chi tiết trên App Tri Thức Hub!
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
