
Đề thi học kì 1 Văn 11
Flashcard 60s: Kiến thức cốt lõi
Lật thẻ nhớ nhanhChỉ 1 phút nắm trọn định nghĩa, dạng bài và bí quyết làm bài trước khi đọc giải
Ghi nhớ & Mẹo giải nhanh: Đề thi học kì 1 Văn 11
Đề cương ôn tập học kì 1 Văn 11 - Cánh diều
A. NỘI DUNG ÔN TẬP
1. Phần đọc hiểu
a. Thơ và truyện thơ
- Truyện thơ thuộc loại hình tự sự, có cốt truyện, câu chuyện, nhân vật, lời kể,… nhưng lại được thể hiện dưới hình thức thơ. Với dung lượng tương đối lớn, truyện thơ có thể bao quát được nhiều sự kiện, con người, chi tiết cụ thể, sinh động của đời sống thường nhật. Truyện thơ hiện diện trong nhiều nền văn học, có lịch sử lâu đời, phát triển thành một số dòng riêng theo sự chi phối của các điều kiện văn hóa, xã hội cụ thể
- Truyện thơ dân gian do tầng lớp bình dân hoặc các trí thức sống gần gũi với tầng lớp bình dân sáng tác; lưu hành chủ yếu bằng truyền miệng nhưng cũng có khi thông qua các văn bản viết. Truyện thơ dân gian khai thác đề tài từ nhiều nguồn khác nhau như truyện cổ, sự tích tôn giáo hay những câu chuyện đời thường
- Thơ trữ tình thường có những đặc điểm chung như ngôn từ tươi sáng và tinh tế, tập trung vào cảm xúc cá nhân, diễn đạt tâm trạng, sử dụng hình ảnh mạnh mẽ, và thể hiện tương tác giữa tác giả và người đọc.
- Thơ trữ tình thường được sáng tác trong những khoảnh khắc đặc biệt trong cuộc sống, như khi tác giả trải qua cảm xúc mạnh mẽ. Phong cách biểu đạt thường sử dụng ngôn từ sâu sắc, tường thuật chân thực và có thể chứa nhiều hình tượng và phép tu từ để tạo nên một không gian tương tác tinh tế giữa tác giả và người đọc.
b. Thơ văn Nguyễn Du
Vận dụng những hiểu biết về bối cảnh lịch sử, tác giả, truyện thơ Nôm, thể loại thơ Đường luật để đọc hiểu những đoạn trích tiêu biểu trong Truyện Kiều, thơ chữ Hán của Nguyễn Du. Hiểu được vẻ đẹp tâm hồn, tài năng cùng những đóng góp to lớn của đại thi hào đối với sự phát triển của văn học dân tộc
Nguyễn Du – cuộc đời và sự nghiệp
c. Truyện
*Truyện ngắn
- Là thể loại tự sự cỡ nhỏ, đặc trưng nổi bật là sự ngắn gọn
- Thường chỉ xoay quanh một, hai tình huống diễn ra trong khoảng thời gian, không gian hạn chế
- Đòi hỏi sự chắt lọc, dồn nén của các chi tiết và việc vận dụng bút pháp chấm phá trong trần thuật
* Tiểu thuyết
- Là một thể loại văn xuôi có hư cấu, thông qua nhân vật, hoàn cảnh, sự việc để phản ánh bức tranh xã hội rộng lớn và những vấn đề của cuộc sống con người, biểu hiện tính chất tường thuật, tính chất kể chuyện bằng ngôn ngữ văn xuôi theo những chủ đề xác định.
- Giàu chất văn xuôi, tự sự
-Phản ánh nghệ thuật kể chuyện của nhà văn
-Có tính nghệ thuật hư cấu cao
- Có sự đang dạng trong màu sắc phẩm mỹ và mang bản chất tổng hợp
d. Văn bản thông tin
- Văn bản thông tin là một hình thức viết nhằm truyền đạt thông tin và kiến thức một cách chính xác và trung thực. Loại văn bản này rất phổ biến và hữu ích trong đời sống hàng ngày. Nó bao gồm nhiều thể loại khác nhau, như thông báo, chỉ dẫn, mô tả công việc, hướng dẫn sử dụng sản phẩm, lịch biểu, cơ sở dữ liệu, hợp đồng quảng cáo, các văn bản hành chính, từ điển và bản tin.
- Mục đích chính của văn bản thông tin là truyền đạt thông tin một cách khách quan và trung thực.
- Nhan đề của văn bản thông tin thường tập trung nêu bật đề tài của văn bản
- Bố cục văn bản thông tin thường có các phần: nhan đề, sa- pô; thời gian và nơi in văn bản; nội dung chính của văn bản
- Văn bản thông tin thường được trình bày bằng kênh chữ và có thể kết hợp với kênh hình
2. Phần tiếng Việt
a. Biện pháp lặp cấu trúc
b. Biện pháp tu từ đối
c. Ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
d. Lỗi về thành phần câu và cách sửa
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý
b. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật
c. Viết bài nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học
d. Viết bài thuyết minh tổng hợp
B. BÀI TẬP
1. Phần đọc hiểu
*Đề bài
Văn bản Sóng
Câu 1: “Dữ dội và dịu êm
Ồn ào và lặng lẽ”
Mở đầu khổ 1, tác giả đã nêu ra những trạng thái đối lập của:
A. Sóng
B. Người con gái trong tình yêu
C. Người con trai trong tình yêu
D. A và B đúng
Câu 2: Hai câu thơ sau sử dụng biện pháp nghệ thuật gì?
“Sông không hiểu nổi mình/ Sóng tìm ra tận bể”
A. Ẩn dụ, so sánh
B. Ẩn dụ, nhân hóa
C. So sánh, nhân hóa
D. So sánh, nghệ thuật đối lập
Câu 3: Chọn đáp án đúng về nỗi nhớ được diễn tả trong khổ thơ thứ năm:
A. Nỗi nhớ được diễn tả mãnh liệt, da diết hiển hiện trong mọi chiều kích của không gian, thời gian, trạng thái cảm xúc của cuộc sống
B. Nỗi nhớ bao trùm cả không gian, khắc khoải trong thời gian
C. Nỗi nhớ đi sâu vào ý thức, tiềm thức và đi cả vào trong giấc mơ
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 4: Những câu thơ dưới đây sử dụng thủ pháp nghệ thuật gì?
“Dẫu xuôi về phương Bắc
Dẫu ngược về phương Nam
Nơi nào em cũng nghĩ
Hướng về anh – một phương”
A. Phép điệp, nghệ thuật đối lập
B. Ẩn dụ, so sánh
C. Ẩn dụ, nhân hóa
D. Phép điệp, so sánh
Văn bản Lời tiễn dặn
Câu 5: Bối cảnh câu chuyện trong văn bản Lời tiễn dặn là gì?
A. Người con trai ra trận trong sự quyến luyến của mọi người
B. Người con gái về nhà chồng
C. Cô gái và chàng trai yêu nhau nhưng không đến được với nhau.
D. Đáp án khác
Câu 6: Đoạn trích cho biết điều gì về không gian tồn tại và đời sống văn hoá tinh thần của đồng bào dân tộc Thái
A. Tâm hồn đa sầu đa cảm
B. Khát khao hạnh phúc lứa đôi
C. Thủy chung, một lòng một dạ
D. Tất cả các đáp án trên
Văn bản Tôi yêu em
Câu 7: “Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai”
Câu thơ trên sử dụng biện pháp nghệ thuật nào?
A. So sánh
B. Ẩn dụ
C. Nhân hóa
D. Hoán dụ
Câu 8: Cách dùng từ “có lẽ, chưa tắt hẳn” thể hiện cảm xúc gì của tác giả?
A. Sự dè dặt
B. Thể hiện tình yêu âm ỉ, dai dẳng
C. Thể hiện sự buông bỏ
D. A và B đúng
Câu 9: Câu thơ nào trong bài thơ Tôi yêu em thể hiện nhân cách cao thượng của tác giả?
A. Tôi yêu em: đến nay chừng có thể/ Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
B. Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,/ Hay hồn em phải gợn bóng u hoài
C. Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng,/ Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,
D. Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,/ Cầu em được người tình như tôi đã yêu em
Văn bản Nỗi niềm tương tư
Câu 10: Quyết tâm đoàn tụ của hai người được thể hiện qua câu thơ nào?
A. Sao Khun Lú trên trời còn đợi
Áng mây kia vương vấn còn chờ
B. Không lấy được nhau mùa hạ, ta sẽ lấy nhau mùa đông.
Không lấy được nhau thời trẻ ta sẽ lấy nhau lúc góa bụa về già.
C. Chỉ cá liền với nước
Chỉ lúa liền với ruộng
D. Anh yêu em, lẽ tiễn đưa em đến tận nhà chồng
Câu 11: Giá trị nội dung của tác phẩm Nỗi niềm tương tư là gì?
A. Thể hiện rõ nét tâm trạng của chàng Tú Uyên đem lòng thương nhớ, tương tư nàng Giáng Kiều
B. Mang thông điệp về sự thủy chung trong tình yêu
C. Thể hiện tình cảm gia đình gắn bó
D. A và B đúng
Câu 12: Đặc sắc nghệ thuật của tác phẩm Nỗi niềm tương tư là gì?
A. Xây dựng hình tượng nhân vật độc đáo
B. Kết hợp yếu tố tự sự và trữ tình đặc sắc
C. Sử dụng nhiều điển tích điển cố
D. A và B đúng
Văn bản Trao duyên
Câu 13: Thúy Kiều dùng những từ như “cậy”, “thưa” cùng hành động “lạy” là muốn thể hiện điều gì?
A. Việc Kiều nhờ em rất thiêng liêng.
B. Kiều đặt Vân vào hoàn cảnh không thể từ chối.
C. Kiều đang trong một hoàn cảnh đặc biệt khác thường, nài ép Vân phải nhận.
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 14: Khi kể về mối tình với chàng Kim, Thúy Kiều đã nhắc đến điển tích điển cố, thành ngữ nào?
A. Đứt gánh tương tư, chắp nối, quạt ước chén thề
B. Mối tơ thừa, chắp mối, quạt ước chén thề
C. Đứt gánh tương tư, mối tơ thừa, chắp mối, quạt ước chén thề
D. Đứt gánh tương tư, quạt ước chén thề
Văn bản Đọc Tiểu Thanh kí
Câu 15: "Son phấn", "văn chương" là để nói về điều gì ở Tiểu Thanh?
A. Là cô gái xinh đẹp, tài hoa
B. Là cô gái điệu đà
C. Là cô gái tài năng
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 16: Việc sử dụng phép đối trong các câu thơ thực và luận thể hiện điều gì?
A. Thể hiện tấm lòng nhân đạo của tác giả
B. Thể hiện nỗi oán thán của nàng Tiểu Thanh với số phận
C. Thể hiện cái tài, cái sắc đi kèm với số phận bi thảm, đau khổ
D. Tất cả các đáp án trên
Văn bản Chí Phèo
Câu 17: Ý nghĩa tiếng chửi của Chí Phèo là:
A. Tiếng chửi trong vô thức của một tên say rượu
B. Khát khao được giao tiếp với mọi người của Chí Phèo
C. Thể hiện tâm trạng phẫn uất cùng cực của Chí
D. B và C đúng
Câu 18: Ý nghĩa chi tiết cái lò gạch bỏ hoang xuất hiện ở đầu và cuối tác phẩm Chí Phèo là:
A. Nhấn mạnh một lần nữa lai lịch của Chí Phèo
B. Gợi niềm thương cảm sâu sắc đối với số phận người nông dân nghèo bị tha hóa như Chí Phèo
C. Dự báo về tương lai đứa con Chí Phèo cũng sẽ bị cuộc đời bỏ quên
D. Đưa ra lời cảnh báo về một quy luật: còn tồn tại cái xã hội làng Vũ Đại thì còn có kẻ bị tha hóa, bi kịch như Chí Phèo
Văn bản Chữ người tử tù
Câu 19: Tình huống truyện của tác phẩm Chữ người tử tù là:
A. Huấn Cao đứng đầu một cuộc tạo phản chống lại triều đình
B. Cuộc gặp gỡ tình cờ, éo le và trở thành tri âm, tri kỉ trong một hoàn cảnh đặc biệt giữa Huấn Cao và quản ngục
C. Cảnh cho chữ, một cảnh tượng “xưa nay chưa từng có”
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 20: Việc xây dựng tình huống truyện đặc biệt có tác dụng:
A. Làm nổi bật vẻ đẹp hình tượng Huấn Cao
B. Thể hiện chủ đề tác phẩm: cả ngợi cái đẹp, cái thiện có thể chiến thắng cái xấu, cái ác ở ngay nơi bóng tối bao trùm, nơi cái ác ngự trị
C. Làm sáng tỏ lòng biệt nhỡn liên tài của quản ngục
D. Tất cả các đáp án trên
Văn bản Phải coi luật pháp như khí trời để thở
Câu 21: Ý nghĩa của việc nêu thông tin bằng cách kể chuyện là gì?
A. Làm cho thông tin thêm tính xác thực
B. Thu hút người đọc
C. Lập luận rõ ràng
D. A và B đúng
Văn bản Tạ Quang Bửu – người thầy thông thái
Câu 22: Điều gì khiến Giáo sư Lê Văn Thiêm kinh ngạc về Tạ Quang Bửu?
A. Vì thấy Tạ Quang Bửu hiểu biết rất nhiều lĩnh vực
B. Vì thấy Tạ Quang Bửu dù bận rộn với công việc vẫn dành ra thời gian để đọc sách.
C. Vì Tạ Quang Bửu rất giản dị
D. Vì Tạ Quang Bửu có một kho sách rất lớn
Văn bản tiếng Việt lớp trẻ bây giờ
Câu 23: Nội dung của phần sa pô là gì?
A. Đồng tình với lối nói, lối viết của giới trẻ hiện nay
B. Bất bình với lối nói, lối viết của giới trẻ hiện nay
C. Thắc mắc với lối nói, lối viết của giới trẻ hiện nay
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 24: Đâu là loại sáng tạo “lệch chuẩn” ngôn từ được đề cập trong bài viết là:
A. Sáng tạo ra nhiều kiểu nói, dựa trên hiện tượng đồng âm nối từ
B. Sử dụng “tiếng lóng”
C. Sử dụng “teencode”
D. Tất cả các đáp án trên
2. Phần tiếng Việt
a. Biện pháp lặp cấu trúc
Câu 1: Xác định câu văn KHÔNG sử dụng phép lặp cú pháp trong đoạn trích sau?
“Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa. Khi Nhật hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa."
(Tuyên ngôn độc lập - Hồ Chí Minh)
A. Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa
B. Sự thật là dân ta lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp.
C. Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị.
D. Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập
Câu 2: Lặp cấu trúc thường được dùng nhiều trong:
A. Phong cách ngôn ngữ chính luận
B. Phong cách ngôn ngữ văn chương
C. Phong cách ngôn ngữ báo chí
D. A và B đúng
Câu 3: Câu văn sau sử dụng phép liên kết gì?
Nghệ thuật nói nhiều với tư tưởng nữa, nghệ thuật không thể nào thiếu tư tưởng. Không tư tưởng, con người có thể nào còn là con người
A. Phép lặp từ ngữ
B. Phép trái nghĩa
C. Phép đồng nghĩa
D. Phép thế
b. Biện pháp tu từ đối
Câu 4: Đáp án nào dưới đây KHÔNG sử dụng phép đối?
A. Có bầu, có bạn, can chi tủi,
Cùng gió, cùng mây, thế mới vui.
(Muốn làm thằng Cuội – Tản Đà)
B. Còn bạc, còn tiền, còn đệ tử
Hết cơm, hết rượu, hết ông tôi.
(Bài 77: Thế gian biến đổi - Nguyễn Bỉnh Khiêm)
C. Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng.
D. Kể từ khi gặp chàng Kim
Khi ngày quạt ước khi đêm chén thề
(Nguyễn Du)
Câu 5: Câu nào là vế đối của câu: “Tết đến, cả nhà vui như tết”
A. Xuân đến, khắp nước vui như Tết
B. Xuân về, khắp nước trẻ cùng xuân
C. Xuân sang, khắp nước vui cùng Tết
D. Xuân qua, khắp nước trẻ hơn xuân
c. Đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết
Câu 6: Phương tiện sử dụng của ngôn ngữ nói là:
A. Âm thanh
B. Cử chỉ, điệu bộ
C. Nét mặt
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 7: Hạn chế của ngôn ngữ nói là:
A. Người nói và người nghe khó hiểu ý nhau
B. Khó phổ biến rộng và lưu giữ lâu dài
C. Khó khăn trong việc truyền tải
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 8: Phương tiện trong ngôn ngữ viết được kết hợp với:
A. Hình ảnh
B. Kí hiệu
C. Sơ đồ
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 9: Đặc điểm của ngôn ngữ viết là gì?
A. Được thể hiện qua chữ viết trong văn bản, hình thành một cách có chọn lọc kĩ càng, có suy nghĩ và căn chỉnh một cách cẩn thận
B. Được thể hiện qua hình vẽ, màu sắc, bố cục
C. Được thể hiện qua lời nói, truyền miệng từ người này sang người kia
D. Đáp án khác
Câu 10: Từ ngữ trong ngôn ngữ viết có đặc điểm gì?
A. Từ ngữ được thoải mái viết theo ý thích của người biên soạn
B. Từ ngữ được lựa chọn, thay thế nên có điều kiện đạt được tính chính xác, tránh các từ ngữ địa phương, tiếng lóng, tiếng tục
C. Từ ngữ được quy định theo từng địa phương, không thống nhất
D. Từ ngữ phải thay đổi theo ý độc giả
Câu 11: Ngôn ngữ viết thường là ngôn ngữ:
A. Dùng để trao đổi giữa hai người với nhau
B. Không trau chuốt, hoàn chỉnh
C. Được trau chuốt, hoàn chỉnh
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 12: Trong những trường hợp sau, trường hợp nào mang đặc trưng cơ bản của ngôn ngữ viết?
A. Bài báo ghi lại cuộc đàm thoại
B. Biên bản ghi lại những lời phát biểu trong cuộc họp
C. Lời thuyết trình theo một văn bản chuẩn bị trước
D. Đoạn đối thoại của các nhân vật trong tác phẩm văn học
Câu 13: So với ngôn ngữ nói, ngôn ngữ viết:
A. Được lựa chọn rất kĩ càng, chính xác
B. Các truyền đạt tới người tiếp nhận được cụ thể
C. Người đọc có thể xem đi xem lại nhiều lần
D. Tất cả các đáp án trên
d. Các hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường
Câu 14: Có những hiện tượng phá vỡ nguyên tắc trong ngôn ngữ nào?
A. Tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới
B. Sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh một đặc điểm nào đó của đối tượng miêu tả, thể hiện.
C. Cung cấp nét nghĩa mới cho từ ngữ nhằm đưa đến phát hiện bất nhờ về đối tượng được đề cập.
D. Tất cả các đáp án trên
Câu 15: Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều.
(Tràng giang)
Câu thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường nào?
A. Bổ xung chức năng mới cho dấu câu (khi trình bày văn bản trên giấy)
B. Sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh một đặc điểm nào đó của đối tượng miêu tả, thể hiện.
C. Tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới
D. Bổ xung chức năng mới cho dấu câu (khi trình bày văn bản trên giấy)
Câu 16: Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Vội vàng, Xuân Diệu)
Câu thơ trên sử dụng hiện tượng phá vỡ quy tắc ngôn ngữ thông thường nào?
A. Bổ xung chức năng mới cho dấu câu (khi trình bày văn bản trên giấy)
B. Sử dụng hình thức đảo ngữ để nhấn mạnh một đặc điểm nào đó của đối tượng miêu tả, thể hiện.
C. Tạo ra những kết hợp từ trái logic nhằm “lạ hóa” đối tượng được nói tới
D. Bổ xung chức năng mới cho dấu câu (khi trình bày văn bản trên giấy)
Lỗi về thành phần câu và cách sửa
Câu 17: Có thể đặt những câu hỏi nào khi gặp một câu khó hiểu?
A. Vì câu đó sử dụng những từ ngữ khó hiểu?
B. Vì câu thiếu thành phần chính?
C. Vì câu thiếu lô - gíc?
D. Tất cả các đáp án trê
Câu 18: Có thể sửa lỗi về thành phần câu bằng cách nào?
A. Bổ xung từ ngữ để làm thành phần bị thiếu
B. Cắt bớt từ ngữ để từ ngữ còn lại đảm nhận được vai trò của thành phần bị thiếu
C. Thay đổi trật tự từ ngữ để một từ ngữ nhất định đảm nhận được vai trò của thành phần bị thiếu
D. Tất cả các đáp án trên
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý
Đề 1: “Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết” (B.Babbles). Hãy trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.
Đề 2: Phân tích và làm sáng tỏ ý nghĩa của câu nói: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học)
Đề 3: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”. Viết bài văn nêu ý kiến của anh/chị về câu nói trên
b. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về khát khao tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ Sóng
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về cái đẹp được hiện lên qua tác phẩm Chữ người tử tù
Đề 3: Phân tích tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên
c. Viết bài nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học
Đề 1: Quê hương nếu ai không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người (Đỗ Trung Quân). Hai câu thơ trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về tình cảm quê hương?
Đề 2: Từ văn bản Chí Phèo, hãy trình bày suy nghĩ của em về số phận của người nông dân trong xã hội cũ
d. Viết bài thuyết minh tổng hợp
Đề 1: Thuyết minh về một lễ hội em được tham gia hoặc biết đến
Đề 2: Em hãy viết bài thuyết minh giới thiệu một số phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam
C. LỜI GIẢI CHI TIẾT
1. Phần đọc hiểu
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
19 |
20 |
21 |
22 |
23 |
24 |
|
C |
B |
D |
A |
C |
D |
B |
D |
D |
B |
D |
D |
D |
C |
A |
C |
D |
D |
D |
D |
B |
B |
D |
D |
2. Phần tiếng Việt
|
1 |
2 |
3 |
4 |
5 |
6 |
7 |
8 |
9 |
10 |
11 |
12 |
13 |
14 |
15 |
16 |
17 |
18 |
|
C |
D |
A |
A |
B |
D |
B |
D |
A |
B |
C |
C |
D |
D |
B |
C |
D |
D |
3. Phần làm văn
a. Viết bài văn nghị luận xã hội về một tư tưởng đạo lý
Đề 1: “Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết” (B.Babbles). Hãy trình bày suy nghĩ của anh/ chị về ý kiến trên.
1. Mở bài
Giới thiệu và dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: câu nói: “Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết”.
Lưu ý: Học sinh tự lựa chọn cách dẫn mở bài trực tiếp hoặc gián tiếp tùy thuộc vào năng lực của bản thân.
2. Thân bài
a. Giải thích
Ý câu nói nhắn nhủ đến những người mẹ dù cho có yêu thương con cái đến đâu đi chăng nữa thì hãy nghiêm khắc với con của mình, dạy chúng thành người thật tốt, hãy để chúng tự bước đi trên đôi chân của mình, tự lập với cuộc sống của chính mình.
b. Phân tích
Người mẹ nào cũng đều rất thương con, muốn mang đến cho con mình những điều tuyệt vời nhất, đẹp đẽ nhất để chúng được hưởng hạnh phúc trọn vẹn nhưng chính suy nghĩ, hành động bao bọc đó làm cho những người con không được va vấp với bên ngoài, không rút ra được những kinh nghiệm sống riêng cho bản thân, từ đây sẽ khó có thể có được thành công trong cuộc sống.
Người mẹ hãy là hậu phương cho những người con, hãy dạy chúng tự lập, tự đứng trên đôi chân của mình, tự tạo ra cho bản thân giá trị tốt đẹp để trở thành người công dân tốt, cống hiến cho xã hội.
Mẹ cha không thể theo ta đến hết đời, chỉ có thể dìu dắt con cái đi một đoạn đường ngắn, chính vì thế, việc dạy dỗ, uốn nắn con trở nên quan trọng hơn bao giờ hết đến chúng có thể thích nghi với cuộc sống khắc nghiệt ngoài kia.
c. Chứng minh
Học sinh tự lấy dẫn chứng về những người mẹ biết cách dạy con tự lập để minh họa cho bài làm văn của mình.
d. Phản đề
Tuy nhiên trong cuộc sống vẫn còn có nhiều người mẹ vô tâm, không yêu thương con mình, thậm chí là bỏ rơi con khi con còn rất nhỏ. Lại có những người mẹ quá yêu thương, cưng chiều con của mình khiến chúng trở nên hư hỏng,… Những trường hợp này thật đáng chỉ trích.
3. Kết bài
Khái quát lại vấn đề nghị luận: câu nói: “Sứ mạng của người mẹ không phải là làm chỗ dựa cho con cái mà là làm cho chỗ dựa ấy trở nên không cần thiết” đồng thời rút ra bài học và liên hệ bản thân.
Đề 2: Phân tích và làm sáng tỏ ý nghĩa của câu nói: “Đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông” (Nguyễn Bá Học)
1. Mở bài:
– Sức mạnh của ý chí quyết định sự thành bại trong mọi công việc. Thiếu ý chí thì sẽ khó vượt qua trở ngại để thành công.
– Dẫn câu danh ngôn.
2. Thân bài:
a. Giải thích ý nghĩa câu nói:
– Nghĩa đen: Đường đi có nhiều chướng ngại, vất vả. Ta muốn đến nơi phải quyết tâm vượt qua núi cao sông sâu.
– Nghĩa bóng:
+ Đường: Dẫn đến đích mà con người muốn đạt được.
+ Sông, núi: Những trở ngại lớn của hoàn cảnh khách quan.
+ Lòng người: Ý chí, nghị lực của con người.
– Sức mạnh của ý chí giúp con người vượt qua mọi khó khăn, trở ngại để thành công.
b. Vì sao đường đi không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông?
– Vì sao đường đi không khó vì những trở ngại khách quan? (Trong cuộc đời tuy có nhiều trở ngại thật, nhưng không phải là không thể chiến thắng. Núi cao đến mấy, sông rộng đến mấy, người ta vẫn có thể vượt qua. Cũng vậy, mọi khó khăn, gian lao trên đường đời chỉ là thử thách ý chí, nghị lực của ta chứ không thể làm cho ta lùi bước nếu ta quyết tâm).
– Vì sao đường đi lại khó vì lòng người ngại núi e sông? (Điều kiện quyết định để thực hiện ý muốn của mình là ý chí và nghị lực. Với lòng quyết tâm, con người có thể vượt qua thử thách để đạt mục đích mà mình đã chọn. Thiếu ý chí, thiếu nghị lực thì cho dẫu đường đời thuận lợi, cũng khó vượt qua để đến đích).
* Dẫn chứng:
– Trong sách vở, tác phẩm văn học.
– Trong lịch sử, trong thực tế (gương các danh nhân, các gương vượt khó trong cuộc sống…)
c. Rút ra bài học: Xem việc rèn luyện ý chí là không thể xao lãng. Chỉ có quyết tâm vượt khó mới đem lại thành công trên đường đời.
3. Kết bài:
– Câu danh ngôn là một chân lí, khẳng định vai trò của ý chí, quyết tâm và nghị lực trong cuộc sống.
– Liên hệ thực tế bản thân trong học tập và cuộc sống.
Đề 3: “Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi lòng vị tha, tình đoàn kết”. Viết bài văn nêu ý kiến của anh/chị về câu nói trên
A. Mở bài
- Trong cuộc sống nhiều khi người ta chỉ nghĩ đến ngợi ca lòng vị tha, tình đoàn kết mà ít chú ý đến phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt với con người. Hai vấn đề ấy thực chất cũng thống nhất như thứ tình cảm yêu- ghét nhất quán trong mỗi con người vậy. Có thể nói chúng quan trọng và cần thiết như nhau.
- Bởi vậy có ý kiến cho rằng “ Phê phán….đoàn kết”
B. Thân bài
1. Giải thích
a. Lòng vị tha, tình đoàn kết
- Lòng vị tha: là tấm lòng vì người khác, hiểu rộng hơn là bản thân luôn vì lợi ích chung của cộng đồng hay xã hội.
- Tình đoàn kết: là thứ tình cảm làm cho nhiều người liên hiệp với nhau, tạo thành sức mạnh kết nối, gắn bó trên cơ sở lí tưởng chung, lợi ích chung nào đó.
- Vì vậy có thể khẳng định, lòng vị tha và tình đoàn kết là những tình cảm cao đẹp của con người, có thể tạo nên mối quan hệ hết sức tốt đẹp, giữa người với người trong xã hội. Thậm chí, có thể hóa giải mọi sự ích kỉ, tư lợi. Từ đó con người có thể vượt qua được nhiều khó khăn, chướng ngại trong cuộc sống, sống đẹp hơn, có ích hơn.
b.Thái độ thờ ơ, lạnh nhạt
- Trong khi đó, sự thờ ơ, lạnh nhạt lại mang một giá trị ngược lại, bởi đó là thứ tình cảm mà ở đó con người ta không hề quan tâm tới, hoặc giả không có một chút tình cảm gì đối với con người và cuộc sống; không có cả những biểu hiện tình cảm thân mật, gần gũi trong giao tiếp, ứng xử giữa con người với con người.
- Vì thế, thái độ thờ ơ lạnh nhạt với con người không gì khác chính là dấu hiệu của thái độ sống ích kỉ, nhỏ nhen.
c. Phê phán… đoàn kết: thực chất là hai mặt của một vấn đề, đều chung một mục đích là xây dựng lối sống đúng đắn và cao đẹp.
2. Bàn luận
a. Chứng minh trong cuộc sống và văn học:
* Trong cuộc sống: (Có thể nêu những biểu hiện dễ thấy hoặc diễn đạt những suy nghĩ của cá nhân)
- Rất nhiều người có cuộc sống bấp bênh, khó khăn, thậm chí đau đớn, tủi nhục (mảnh đời lang thang, cơ nhỡ; những người bị bạo hành, đánh đập dã man; những tai nạn thương tâm, ...). Song mấy ai có thể chia sẻ hết. Điều đáng nói là, những biểu hiện đó diễn ra trước mắt, mà vẫn không ai lên tiếng, không ai đưa ra bàn tay giúp đỡ (đặc biệt những vụ bạo hành trẻ em xảy ra gần đây...)
- Có những kẻ lấy việc soi mói, dằn vặt những điểm yếu, vết thương, nỗi đau mặc cảm của người khác làm đề tài trao đổi, bàn luận, rồi rốt cục không giúp được gì, trái lại càng khiến họ cảm thấy bị xúc phạm, làm tổn thương hơn.
- Có những lời góp ý quá khắt khe, phủ sạch hoàn toàn, trù dập người khác, khiến tập thể tan rã, ảnh hưởng đến các mối quan hệ tốt đẹp.
→ Từ đó: Trong cuộc sống rất cần:
- Nhắc nhở, khuyên nhủ ai đó chưa biết quan tâm, cảm thông chia sẻ với những khó khăn, vất vả… của người thân hoặc có những lời lẽ, việc làm, ứng xử khiến cho người thân phải buồn khổ.
- Tỏ thái độ không đồng tình với những người vô tâm chạm vào nỗi đau của người khác
- Bất bình trước thái độ dửng dưng, giễu cợt, nhạo báng những người tàn tật
- Lên án những kẻ xúc phạm nhân phẩm, danh dự
* Trong văn học:
- Trong các sáng tác văn học dân gian: mẹ con Cám, Sọ Dừa,
- Tác phẩm của Thạch Lam (Nhà mẹ Lê, Một cơn giận,…)
- Trong “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố: vợ chồng Nghị Quế
- Những đứa con đại bất hiếu, những con người tham gia đám tang trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” (Trích “Số đỏ”) và thái độ của tác giả.
* Cách thức phê phán thái độ thờ ơ, lạnh nhạt: Phê phán trung thực, xuất phát từ thái độ thiện chí với tinh thần xây dựng
b. Bác bỏ những biểu hiện sai lệch:
- Lên án những kẻ ngụy biện cho thái độ thờ ơ lạnh nhạt (VD lấy lí do cuộc sống có quá nhiều sức ép: gia đình, công việc…)
- Lên án lối phê phán nhằm hạ thấp, xúc phạm
- Biểu hiện ngộ nhận: quan tâm, can thiệp quá sâu vào đời sống riêng tư là vi phạm quyền cá nhân, thực ra đó là lối sống “Cháy nhà hàng xóm bình chân như vại”
3. Bài học nhận thức và hành động
- Điều quan trọng là luôn biết nhận ra, biết xẩu hổ với những biểu hiện sống thờ ơ, lạnh nhạt của chính mình.
- Nghiêm khắc với chính bản thân, quyết tâm khắc phục, từ bỏ lối sống thờ ơ lạnh nhạt nếu mình đã vô tình mắc phải.
- Hành động tích cực để vươn tới một XH tốt đẹp (với bạn bè, người xung quanh mình…)
C. Kết luận
- Làm điều xấu tất nhiên là không tốt nhưng thấy cái xấu mà không phê phán, lên án thì cũng chưa phải là tốt.
- Ý kiến nói trên đúng vì có thể giúp mỗi cá nhân khắc phục cách ứng xử có tính chất cực đoan trước vấn đề đạo đức nhân sinh nảy sinh trong đời sống XH hiện nay.
b. Viết bài văn nghị luận về một tác phẩm nghệ thuật
Đề 1: Viết bài văn nghị luận về khát khao tình yêu của người phụ nữ trong bài thơ Sóng
1. Mở bài
- Giới thiệu về tác giả, tác phẩm: Xuân Quỳnh là một trong những nhà thơ nữ tiêu biểu nhất thời chống Mĩ cứu nước. Thơ Xuân Quỳnh là tiếng nói đầy cảm xúc, có sắc thái rất riêng, đậm chất nữ tính của một tâm hồn phụ nữ rất thông minh, sắc sảo, giàu yêu thương. “Sóng” được sáng tác năm 1967, là bài thơ đặc sắc viết về tình yêu, rất tiêu biểu cho phong cách thơ Xuân Quỳnh.
- Giới thiệu về luận đề: Bài thơ “Sóng” là tiếng lòng chân thành, bộc lộ vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu.
2. Thân bài
- Giới thiệu hình tượng sóng: Là một sáng tạo độc đáo của Xuân Quỳnh. “Sóng” là sự ẩn thân, hóa thân của nhân vật trữ tình “em”. Qua hình tượng sóng, Xuân Quỳnh diễn tả cụ thể, sinh động những trạng thái, cung bậc tình cảm, tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu: nhân hậu, khao khát yêu thương và luôn hướng tới một tình yêu cao thượng, lớn lao.
- Cảm nhận về vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu:
+Thể hiện tiếng nói của trái tim tuổi trẻ mang khát vọng tình yêu muôn thuở (Ôi con sóng ngày xưa/ Và ngày sau vẫn thế/ Nỗi khát vọng tình yêu/ Bồi hồi trong ngực trẻ).
+Khao khát khám phá sự bí ẩn của quy luật tình yêu nhưng không tìm thấy câu trả lời (Em cũng không biết nữa/ Khi nào ta yêu nhau).
+Bộc lộ một tình yêu sôi nổi, đắm say, nồng nàn, mãnh liệt, một nỗi nhớ cồn cào, da diết, chiếm lĩnh cả thời gian và không gian (Con sóng dưới lòng sâu/Con sóng trên mặt nước… Lòng em nhớ đến anh/ Cả trong mơ còn thức…).
+Luôn hướng tới một tình yêu thủy chung, son sắt (Nơi nào em cũng nghĩ/ Hướng về anh – một phương).
+Ước vọng có một tình yêu vĩnh hằng, bất tử để làm đẹp cho cuộc đời (Làm sao được tan ra/ Thành trăm con sóng nhỏ/ Giữa biển lớn tình yêu/ Để ngàn năm còn vỗ).
- Đặc sắc nghệ thuật: ẩn dụ (mượn hình tượng sóng để thể hiện tình yêu một cách sinh động, gợi cảm); thể thơ năm chữ với nhịp điệu linh hoạt, nhịp nhàng gợi âm vang của sóng; ngôn từ giản dị, trong sáng, hình ảnh thơ giàu sức gợi.
- Bàn luận chung: Bài thơ đã thể hiện nổi bật vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu: chân thành, say đắm, nồng nàn, mãnh liệt, thủy chung, trong sáng, cao thượng. Nó vừa mang nét đẹp tình yêu của người phụ nữ Việt Nam truyền thống, vừa có nét táo bạo, chủ động đến với tình yêu của người phụ nữ Việt Nam hiện đại.
3. Kết bài
- Đánh giá chung: “Sóng” là bài thơ tiêu biểu của Xuân Quỳnh và của thơ ca Việt Nam hiện đại viết về đề tài tình yêu.
- Khẳng định: Giá trị nhân văn của bài thơ chính là sự khắc họa vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ trong tình yêu.
Đề 2: Viết bài văn nghị luận về cái đẹp được hiện lên qua tác phẩm Chữ người tử tù
I. Mở bài
- Giới thiệu đôi nét về tác giả Nguyễn Tuân: Một cây bút tài hoa độc đáo, có vị trí quan trọng trong nền văn học hiện đại Việt Nam
- Khái quát chung về tác phẩm Một truyện ngắn tiêu biểu cho phong cách tài hoa nghệ sĩ của ông, được in trong tập Vang bóng một thời (1940)
II. Thân bài
1. Tình huống truyện
Không gian: nhà tù. Đây không phải là nơi dành cho những cuộc gặp gỡ.
Thời gian: những ngày cuối cùng trước khi ra pháp trường của Huấn Cao.
→ Không gian và thời gian góp phần tạo nên kịch tính cho tình huống.
- Cuộc gặp gỡ khác thường của hai con người khác thường :
→ Cuộc hội ngộ diễn ra giữa chốn ngục tù căng thẳng
2. Nhân vật Huấn Cao
a. Một người nghệ sĩ tài hoa
- Người khắp vùng tỉnh Sơn khen Huấn Cao là người:
Có tài viết chữ “rất nhanh và rất đẹp”.
“Chữ ông Huấn Cao đẹp lắm, vuông lắm … có được chữ ông Huấn mà treo là có một báu vật ở trên đời”.
b. Một con người có khí phách hiên ngang bất khuất
- Là thủ lĩnh của phong trào khởi nghĩa chống lại triều đình.
- Ngay khi đặt chân vào nhà ngục: Thản nhiên rũ rệp trên thang gông:
→ khí phách, tiết tháo của nhà Nho
- Khi được viên quản ngục biệt đãi: “Thản nhiên nhận rượu thịt” như “việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh”
→ phong thái tự do, ung dung, xem nhẹ cái chết.
- Trả lời quản ngục bằng thái độ khinh miệt: “Ngươi hỏi ta muốn gì ...vào đây”.
→ Không khuất phục trước cường quyền.
→ khí phách của một người anh hùng.
c. Một nhân cách, một thiên lương cao cả
- Tâm hồn trong sáng, cao đẹp: “Không vì vàng ngọc hay quyền thê mà ép mình viết câu đối bao giờ” → trọng nghĩa, khinh lợi, chỉ cho chữ những người tri kỷ.
- Khi chưa biết tấm lòng của quản ngục: xem y là kẻ tiểu nhân
- Khi biết tấm lòng”biệt nhỡn liên tài” của quản ngục: Huấn Cao nhận lời cho chữ
→ Chỉ cho chữ những người biết trân trọng cái tài và quý cái đẹp.
- Câu nói của Huấn Cao với quản ngục: “Thiếu chút nữa ... trong thiên hạ”
→ Sự trân trọng đối với những người có sở thích thanh cao, có nhân cách cao đẹp.
Huấn Cao là một anh hùng - nghệ sĩ, một thiên lương trong sáng.
3. Nhân vật quản ngục
a. Tấm lòng biệt nhỡn liên tài
- Trong những ngày Huấn Cao trong ngục, quản ngục luôn bày tỏ thái độ nghiêm kính khiêm nhường
- Dũng cảm biệt đãi Huấn Cao
- Cảm thấy tiếc nuối khi biết Huấn Cao sắp phải từ giữ cõi đời: “Bấy nhiêu ...vũ trụ”.
b. Sự khát khao và trân trọng cái đẹp
- Khát khao cái đẹp: mong ước của ông là “được treo ở nhà riêng một đôi câu đối” do chính tay Huấn Cao viết.
- Lo lắng nếu như không xin được chữ ông Huấn trước khi bị hành hình thì “ân hận suốt đời mất”
4. Cảnh cho chữ
- Thời gian: đêm trước khi Huấn Cao ra pháp trường chịu án chém, khi chỉ còn “vẳng có tiếng mõ trên vọng canh”
- Địa điểm: trại giam tỉnh Sơn
- Không gian: buồng tối chật hẹp, ẩm ướt...
- Đây là "cảnh tượng xưa nay chưa từng có"
Thân phận và hành động của người cho chữ và nhận chữ đặc biệt:
Xây dựng được các cặp phạm trù đối lập nhau
- Chi tiết quản ngục cúi đầu vái lạy người tử tù Huấn Cao: sự thức tỉnh trước cái đẹp, quản ngục đã thoát ra những cái tầm thường, ràng buộc để vươn tới cái cao đẹp.
→ Toàn bộ cảnh cho chữ là bài ca tôn vinh cái đẹp, cái thiện, cái thiên lương của con người trong hoàn cảnh tối tăm ngục tù bậc nhất.
III. Kết bài
Khẳng định những nét nghệ thuật đặc sắc làm nên thành công của tác phẩm
Chữ người tử tù là một văn phẩm xuất sắc đạt “gần đến sự toàn thiện, toàn mĩ” (Vũ Ngọc Phan)
Đề 3: Phân tích tâm trạng Thúy Kiều trong đoạn trích Trao duyên
1. Mở bài:
Giới thiệu vài nét đặc sắc nhất về tác giả, tác phẩm và vị trí của đoạn tích.
Dẫn dắt đặt vấn đề (theo yêu cầu đề ra).
2. Thân bài:
- Đoạn 1: Thúy Kiều nhờ Thúy Vân thay mình trả nghĩa cho Kim Trọng.
(“Cậy em em có chịu lời…phím đàn với mảnh hương nguyền ngày xưa”)
Kiều nhờ cậy Vân, lời nhờ cậy có sắc thái khác thường (cậy, chịu lời, lạy, thưa). Lời xưng hô của Kiều vừa như trông cậy, vừa như nài ép, phù hợp để nói về vấn đề tế nhị “tình chị duyên em”.
Nhắc nhở mối tình của mình với chàng Kim: thắm thiết nhưng mong manh, nhanh tan vỡ.
Cách nói của Kiều thể hiện sự thông minh khôn khéo, qua đó thể hiện tài năng bậc thầy trong việc sử dụng ngôn ngữ của Nguyễn Du.
+ Kiều trao duyên cho em. Chú ý cách trao duyên – trao lời tha thiết, tâm huyết; trao kỉ vật lại dùng dằng nửa trao, nửa níu – để thấy tâm trạng của Kiều trong thời khắc đoạn trường này: Kiều đang mâu thuẫn giữa hành động và lời nói, lí trí và tình cảm. Kiều trao duyên chứ không muốn trao tình.
- Đoạn 2: Tâm trạng của Kiều sau khi trao duyên
(Mai sau dù có bao giờ...thiếp đã phụ chàng từ đây)
Dự cảm về cái chết cứ trở đi, trở lại trong tâm hồn Kiều ; trong lời độc thoại nội tâm đầy đau đớn,Kiều hướng về người yêu với tất cả tình yêu thương và mong nhớ.
Từ chỗ nói với em Kiều chuyển sang nói với mình, nói với người yêu ; từ giọng đau đớn chuyển thành tiếng khóc, khóc cho mình, khóc cho mối tình đầu trong sáng, đẹp đẽ vừa mới chớm nở đã tan vỡ.
→ Với nghệ thuật miêu tả tinh tế diễn biến nội tâm nhân vật và ngôn ngữ độc thoại sinh động, đoạn trích Trao duyên đã ánh lên vẻ đẹp nhân cách Thúy Kiều thể hiện qua nỗi đau đớn khi tình yêu tan vỡ và sự hy sinh đến quên mình vì hạnh phúc của người thân.
3. Kết bài:
Tài năng xuất sắc của Nguyễn Du trong việc khám phá và thể hiện quy luật nội tâm sâu sắc của con người.
Đoạn trích thể hiện bi kịch tình yêu, thân phận bất hạnh và nhân cách cao đẹp của Thúy Kiều, qua đó thấy được cái nhìn hiện thực và nhân đạo của Nguyễn Du
c. Viết bài nghị luận về một vấn đề đặt ra trong tác phẩm văn học
Đề 1: Quê hương nếu ai không nhớ. Sẽ không lớn nổi thành người (Đỗ Trung Quân). Hai câu thơ trên gợi cho anh (chị) suy nghĩ gì về tình cảm quê hương?
A. Mở bài
- Quê hương mãi là nguồn cảm hứng vô tận cho văn thơ, nhạc, họa.
- Nghệ thuật là tiếng nói của tâm hồn mà một trong những tiếng nói tha thiết của tâm hồn là tình quê hương.
- Dẫn khổ thơ của Đỗ Trung Quân để đi đến luận điểm: Tình quê hương có vai trò rất lớn trong việc tôi luyện nên người.
B. Thân bài
1. Hai câu đầu gợi lên nhiều cách hiểu về quê hương:
- Quê hương hiểu theo nghĩa hẹp là quê cha đất tổ, gắn với gia đình, dòng họ, mồ mả, bàn thờ tổ tiên.
- Quê hương hiểu theo nghĩa rộng là đất nước.
- Nói “Quê hương mỗi người chỉ một” là nhấn mạnh sự duy nhất cũng như vai trò quan trọng của quê hương trong tình cảm của mỗi con người. “Như là chỉ một mẹ thôi”: khẳng định sự duy nhất nêu trên như một quy luật của tự nhiên về nguồn gốc con người. Đã là quy luật tự nhiên thì điều đó (mỗi người chỉ một quê hương) là không bao giờ thay đổi.
- Mặt khác còn là nói lên tình đất nước như tình mẫu tử, một tình cảm sâu nặng nhất của con người, của cả muôn loài.
- Tình yêu mẹ, yêu làng, yêu đất nước là thống nhất: Càng yêu gia đình thì càng yêu làng và càng yêu làng thì càng yêu đất nước. Trung thành với đất nước là “đại hiếu” (theo lời Phi Khanh nói với Nguyễn Trãi).
- Trong mối quan hệ đó, đôi khi trong một hoàn cảnh cụ thể vẫn nảy sinh mâu thuẫn, buộc người ta phải lựa chọn, lúc đó phải để tình đất nước lên trên (Nguyễn Trãi nén nỗi đau từ biệt cha quay về tìm đường cứu nước, các thanh niên từ biệt mẹ già, làng xóm, lên đường nhập ngũ ra tiền tuyến;...).
2. Hai câu sau tác giả muốn nói rõ vai trò quê hương đôi vỏi sự trưởng thành của mỗi con người:
a) Cần hiểu “nhớ quê” cho đầy đủ ỷ nghĩa:
- “Nhớ”: một biểu hiện của tình cảm lưu giữ rõ nét đến từng chi tiết con người, cảnh vật quê hương và lúc nào cũng nghĩ đến và tha thiết muốn gặp lại.
- Nhớ quê là không chỉ nói nhớ một vùng đất, một lãnh thổ mà nhớ nhiều về cội nguồn, lịch sử, văn hóa, thuần phong mĩ tục, về con người đang đổ mồ hôi sôi nước mắt cho quê hương, đất nước,...
- Không chỉ ôm nỗi nhớ suông, nhớ quê là phải làm gì cho quê hương, có hoài bão xây dựng quê hương.
b) “Quê hương nếu ai không nhớ, sẽ không lớn nổi thành người”:
- Với cách hiểu như trên thì thấy tình quê hương đất nước có ý nghĩa to lớn trong nhân cách một con người.
- Đối với tuổi trẻ, hai câu thơ cảnh tỉnh những kẻ không nhớ quê hương, cội nguồn và nhấn mạnh phải chăm lo bồi đắp tình cảm quê hương như đã nêu. Không nên chỉ chăm lo bồi dưỡng trí tuệ, sức khỏe, vật chất,...
(Có thể nêu dẫn chứng về số phận của những kẻ phản bội quê hương, đất nước).
C. Kết bài
- Tiếng nói tha thiết và độc đáo của Đỗ Trung Quân khiến bài thơ đã được phổ nhạc và được các thế hệ yêu mến, thuộc lòng
Đề 2: Từ văn bản Chí Phèo, hãy trình bày suy nghĩ của em về số phận của người nông dân trong xã hội cũ
1. Mở bài
- Giới thiệu tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo
- Dẫn dắt vấn đề cần nghị luận
2. Thân bài
- Qua nhân vật Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã phản ánh một cách chân thực khách quan trong từng chi tiết về nỗi thống khổ của người nông dân bị áp bức, bị lưu manh hóa trước Cách mạng.
- Nam Cao không nói về sưu thuế như Ngô Tất Tố, mà tác giả nói về số phận người lao động bị chà đạp ở hai bình diện:
+Bị tha hóa, lưu manh.
+ Muốn trở lại làm người lương thiện nhưng bị cự tuyệt.
- Nam Cao có cái nhìn mới mẻ, sâu sắc trong việc thể hiện nỗi đau khổ của người nông dân bị áp bức bóc lột trong xã hội cũ. Từ nỗi đau khổ của họ, nhà văn đã biểu hiện thái độ căm thù giai cấp địa chủ, cường hào đã đẩy người nông dân vào chỗ lưu manh hóa.
- Từ hình tượng Chí Phèo sau khi ở tù ra, Nam Cao đã phản ánh được quy luật ở nông thôn nước ta thời thuộc Pháp: người lương thiện bị xô đẩy vào con đường cùng. Họ đã phản kháng lại để tồn tại.
- Nam Cao bày tỏ sự cảm thương cho số phận đau khổ của người nông dân (qua nhân vật Chí Phèo) và tác giả đã viết những trang văn đầy xúc động. Người đọc cảm thương cho người cố nông phai sống trong trạng thái cùng khổ triền miên, bị cướp mất hình người và linh hồn người.
- Nam Cao đã chỉ ra được bản chất lương thiện của người lao động ẩn giấu trong con người lưu manh của họ. Tác giả khẳng định tình người, tình yêu đã sưởi ấm và làm sống dậy trong tâm hồn kẻ bất hạnh như Chí Phèo. Thị Nở và bao kiếp người cùng khốn trong xã hội cũ.
3. Kết bài
- Thể hiện thái độ trân trọng, xót thương của Nam Cao đối với nỗi thống khổ của người nông dân
- Lên án, tố cáo xã hội đương thời
d. Viết bài thuyết minh tổng hợp
Đề 1: Thuyết minh về một lễ hội em được tham gia hoặc biết đến
I. Mở bài
Giới thiệu lễ hội ghi lại những nét đẹp của phong tục truyền thống hoặc thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại.
II. Thân bài:
Giới thiệu những đặc điểm của lễ hội theo kết cấu thời gian kết hợp với kết cấu logic.
– Trình bày thời gian tổ chức lễ hội, địa điểm, nguồn gốc lễ hội:
Thời gian cụ thể (thời gian ấy gắn với ý nghĩa lịch sử như thế nào).
Địa điểm tổ chức lễ hội.
Nguồn gốc, lí do tổ chức lễ hội (tôn vinh nét đẹp phong tục truyền thống hay thể hiện khí thế sôi nổi của thời đại).
– Giới thiệu các công việc chuẩn bị cho lễ hội:
Chuẩn bị các tiết mục biểu diễn.
Chuẩn bị trang trí, tiến trình lễ hội (nếu là lễ hội truyền thống thì chuẩn bị cho việc rước kiệu, trang trí kiệu, chọn người,…).
Chuẩn bị về địa điểm…
– Giới thiệu diễn biến của lễ hội theo trình tự thời gian. Thường lễ hội có hai phần: phần lễ và phần hội.
Nếu là lễ hội tôn vinh nét đẹp phong tục truyền thống thì bao gồm: rước kiệu lễ Phật, dâng hương lễ vật, các hình thức diễn xướng dân gian, các đoàn khách thập phương.
Nếu là lễ hội thể hiện khí thế của thời đại: tuyên bố lí do; các đại biểu nêu ý nghĩa, cảm tưởng về lễ hội, các hoạt động biểu diễn (như đồng diễn, diễu hành, ca nhạc, các trò vui chơi,…)
– Đánh giá về ý nghĩa lễ hội.
III. Kết bài:
Khẳng định lại ý nghĩa lễ hội.
Chú ý: bài văn viết đúng với phong cách của văn thuyết minh, có thể kết hợp thêm các yếu tố miêu tả (đặc điểm, tiến trình của lễ hội), biểu cảm (nêu cảm nhận về ý nghĩa của lễ hội); trình bày sạch đẹp, logic.
Đề 2: Em hãy viết bài thuyết minh giới thiệu một số phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam
a. Mở bài:
Dẫn dắt và giới thiệu về vẻ đẹp phẩm chất của con người Việt Nam.
b. Thân bài:
- Nêu một số phẩm chất tiêu biểu của con người Việt Nam như chăm chỉ, sáng tạo, yêu nước, thủy chung,…
- Phân tích các phẩm chất ấy dựa trên các ví dụ, dẫn chứng cụ thể trong đời sống hằng ngày, trong học tập, lao động và chiến đấu.
- Phân tích, lí giải nguồn gốc của các phẩm chất đáng quý ấy.
- Phát biểu suy nghĩ, cảm nhận về những phẩm chất của con người Việt Nam.
c. Kết bài:
Khái quát lại về vai trò, ý nghĩa của những phẩm chất cao đẹp trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 1
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau :
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...
Cách mạng bùng lên
Rồi kháng chiến trường kỳ
Quê tôi đầy bóng giặc
Từ biệt mẹ tôi đi
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Giữa cuộc hành quân không nói được một lời
Đơn vị đi qua, tôi ngoái đầu nhìn lại...
Mưa đầy trời nhưng lòng tôi ấm mãi...
Hoà bình tôi trở về đây
Với mái trường xưa, bãi mía, luống cày
Lại gặp em
Thẹn thùng nép sau cánh cửa...
Vẫn khúc khích cười khi tôi hỏi nhỏ
Chuyện chồng con (khó nói lắm anh ơi!)
Tôi nắm bàn tay nhỏ nhắn ngậm ngùi
Em vẫn để yên trong tay tôi nóng bỏng...
Hôm nay nhận được tin em
Không tin được dù đó là sự thật
Giặc bắn em rồi quăng mất xác
Chỉ vì em là du kích, em ơi!
Đau xé lòng anh, chết nửa con người!
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
(Giang Nam, Tháng Tám ngày mai, NXB Văn học, 1962)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1: Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ trên.
A. Nhân vật cô bé nhà bên
B. Nhân vật anh
C. Tác giả
D. Cô du kích
Câu 2. Chỉ ra cách gieo vần trong đoạn thơ sau:
Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!
Có cô bé nhà bên
Nhìn tôi cười khúc khích...
A. Gieo vần chân
B. Gieo vần lưng
C. Gieo vần tiếp
D. Gieo vần chéo
Câu 3. Xác định biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau:
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
A. Ẩn dụ
B. Hoán dụ
C. Liệt kê
D. Đối lập
Câu 4. Nhân vật tôi từ biệt mẹ trong hoàn cảnh nào?
A. Khi quê hương đầy bóng giặc
B. Khi hòa bình lặp lại
C. Khi cùng cô bé nhà bên tham gia du kích
D. Khi cô bé nhà bên hi sinh
Câu 5. Anh/ chị hiểu như thế nào về những câu thơ sau:
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
A. Sự thay đổi trong nhận thức và tình cảm của nhân vật trữ tình.
B. Sự thay đổi trong quan niệm sống của nhân vật trữ tình.
C. Sự thay đổi hoàn cảnh sống của nhân vật trữ tình.
D. Sự thay đổi trong quan niệm về tình yêu của nhân vật trữ tình.
Câu 6. Từ “khúc khích” trong câu thơ “Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích” được hiểu như thế nào?
A. Diễn tả cảm xúc vui tươi, hồn nhiên, mừng rỡ.
B. Thể hiện niềm vui chiến thắng.
C. Diễn tả cảm xúc bâng khuâng trong lần gặp lại.
D. Thể hiện sự ngượng ngùng, e thẹn.
Câu 7. Hình ảnh cô bé nhà bên trong bài thơ gợi cho anh/ chị suy nghĩ gì về tuổi trẻ thời kì đấu tranh chống giặc ngoại xâm?
A. Lặng thầm, nhút nhát.
B. Bồng bột, dại khờ;
C. Nhiều khát khao, mơ tưởng;
D. Tuổi trẻ hồn nhiên, dũng cảm.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Nhận xét về tác dụng của biện pháp tu từ chêm xen trong đoạn thơ sau:
Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!)
Cũng vào du kích
Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích
Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!)
Câu 9. Bài thơ gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước?
Câu 10. Trong bài thơ “Quê hương”, nhà thơ Đỗ Trung Quân viết:
“Quê hương là chùm khế ngọt
Cho con trèo hái mỗi ngày
Quê hương là đường đi học
Con về rợp bướm vàng bay”
Liên hệ với đoạn thơ sau để nhận xét về tình cảm đối với quê hương của hai tác giả:
“Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường
Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ:
“Ai bảo chăn trâu là khổ?”
Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao
Những ngày trốn học
Đuổi bướm cầu ao
Mẹ bắt được...
Chưa đánh roi nào đã khóc!”
II. VIẾT (4,0 điểm)
Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về tính khiêm tốn của con người trong cuộc sống.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
A |
C |
A |
A |
A |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định nhân vật trữ tình trong bài thơ trên. A. Nhân vật cô bé nhà bên B. Nhân vật anh C. Tác giả D. Cô du kích |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nhân vật trữ tình.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình trong bài thơ trên: Nhân vật anh
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Chỉ ra cách gieo vần trong đoạn thơ sau: Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: “Ai bảo chăn trâu là khổ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao Những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được... Chưa đánh roi nào đã khóc! Có cô bé nhà bên Nhìn tôi cười khúc khích... A. Gieo vần chân B. Gieo vần lưng C. Gieo vần tiếp D. Gieo vần chéo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ
Xác định cách gieo vần.
Lời giải chi tiết:
Cách gieo vần trong đoạn thơ trên: Gieo vần chân
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Xác định biện pháp tu từ trong hai câu thơ sau: Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi... A. Ẩn dụ B. Hoán dụ C. Liệt kê D. Đối lập |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Xác định biện pháp tu từ.
Lời giải chi tiết:
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
Biện pháp tu từ trong hai câu thơ trên: Liệt kê
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Nhân vật tôi từ biệt mẹ trong hoàn cảnh nào? A. Khi quê hương đầy bóng giặc B. Khi hòa bình lặp lại C. Khi cùng cô bé nhà bên tham gia du kích D. Khi cô bé nhà bên hi sinh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định hoàn cảnh từ biệt mẹ của nhân vật tôi.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật tôi từ biệt mẹ trong hoàn cảnh: Khi quê hương đầy bóng giặc
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Anh/ chị hiểu như thế nào về những câu thơ sau: Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm Có những ngày trốn học bị đòn roi... Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất Có một phần xương thịt của em tôi. A. Sự thay đổi trong nhận thức và tình cảm của nhân vật trữ tình. B. Sự thay đổi trong quan niệm sống của nhân vật trữ tình. C. Sự thay đổi hoàn cảnh sống của nhân vật trữ tình. D. Sự thay đổi trong quan niệm về tình yêu của nhân vật trữ tình. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Xưa yêu quê hương vì có chim có bướm
Có những ngày trốn học bị đòn roi...
Nay yêu quê hương vì trong từng nắm đất
Có một phần xương thịt của em tôi.
Những câu thơ trên thể hiện: Sự thay đổi trong nhận thức và tình cảm của nhân vật trữ tình.
→ Đáp án A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Từ “khúc khích” trong câu thơ “Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích” được hiểu như thế nào? A. Diễn tả cảm xúc vui tươi, hồn nhiên, mừng rỡ. B. Thể hiện niềm vui chiến thắng. C. Diễn tả cảm xúc bâng khuâng trong lần gặp lại. D. Thể hiện sự ngượng ngùng, e thẹn. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Từ “khúc khích” trong câu thơ “Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích” được hiểu là: Diễn tả cảm xúc vui tươi, hồn nhiên, mừng rỡ.
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Hình ảnh cô bé nhà bên trong bài thơ gợi cho anh/ chị suy nghĩ gì về tuổi trẻ thời kì đấu tranh chống giặc ngoại xâm? A. Lặng thầm, nhút nhát. B. Bồng bột, dại khờ; C. Nhiều khát khao, mơ tưởng; D. Tuổi trẻ hồn nhiên, dũng cảm. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh cô bé nhà bên trong bài thơ gợi lên suy nghĩ về tuổi trẻ thời kì đấu tranh chống giặc ngoại xâm: Tuổi trẻ hồn nhiên, dũng cảm.
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Nhận xét về tác dụng của biện pháp tu từ chêm xen trong đoạn thơ sau: Cô bé nhà bên - (có ai ngờ!) Cũng vào du kích Hôm gặp tôi vẫn cười khúc khích Mắt đen tròn (thương thương quá đi thôi!) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Nhận xét về tác dụng của biện pháp tu từ chêm xen trong đoạn thơ.
- Thành phần chêm xen: có ai ngờ, thương thương quá đi thôi
- Tác dụng:
+ Nội dung: Bổ sung thông tin cần thiết (không ai ngờ được cô bé nhà bên cũng vào du kích); bộc lộ cảm xúc của nhân vật trữ tình về cô bé hàng xóm, đó là tình thương yêu, quý mến.
+ Nghệ thuật: làm cho câu thơ hài hòa, chặt chẽ về cấu trúc.
Câu 9: (0.5 điểm)
|
Bài thơ gợi cho anh/chị những suy nghĩ gì về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Bài thơ gợi những suy nghĩ về trách nhiệm của thế hệ trẻ đối với đất nước:
- Bài thơ thể hiện những tình cảm trong sáng và tình yêu quê hương, đất nước của thế hệ trẻ trong thời kì đất nước có chiến tranh.
- Thế hệ trẻ cần có những hành động, việc làm cụ thể để thể hiện tình yêu quê hương đất nước: rèn đức, luyện tài, làm những việc tốt….
Câu 10: (0.5 diểm)
|
Trong bài thơ “Quê hương”, nhà thơ Đỗ Trung Quân viết: “Quê hương là chùm khế ngọt Cho con trèo hái mỗi ngày Quê hương là đường đi học Con về rợp bướm vàng bay” Liên hệ với đoạn thơ sau để nhận xét về tình cảm đối với quê hương của hai tác giả: “Thuở còn thơ ngày hai buổi đến trường Yêu quê hương qua từng trang sách nhỏ: “Ai bảo chăn trâu là khổ?” Tôi mơ màng nghe chim hót trên cao Những ngày trốn học Đuổi bướm cầu ao Mẹ bắt được... Chưa đánh roi nào đã khóc!” |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Nhận xét về tình cảm đối với quê hương của hai tác giả:
- Quê hương trong trái tim mỗi tác giả là những hình ảnh gần gũi, những con người thân thương; những kỉ niệm tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng.
- Nhận xét: Đó là những tình cảm đẹp, chân thành, sâu sắc; là hành trang đi theo mỗi người trong suốt cuộc đời.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Anh/ chị hãy viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về tính khiêm tốn của con người trong cuộc sống. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về tính khiêm tốn của con người trong cuộc sống. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. * Triển khai vấn đề nghị luận - Giải thích: Khiêm tốn là gì? (là đánh giá đúng bản thân, không tự cao, tự đại cũng không hạ thấp mình) - Phân tích: Biểu hiện của tính khiêm tốn: + Người khiêm tốn là người đánh giá đúng bản thân; + Người khiêm tốn là người biết lắng nghe, tiếp thu những ý kiến của người khác, biết ghi nhận giá trị của người khác. - Lí giải, bình luận: Tại sao cần có tính khiêm tốn? + Đánh giá đúng năng lực bản thân và năng lực của người khác, học hỏi được nhiều điều hay lẽ phải, cơ hội thành công sẽ cao hơn; + Được mọi người yêu quý, tôn trọng, tin tưởng. + Khiêm tốn là một đức tính tốt đẹp. - Chứng minh: Học sinh lấy dẫn chứng thực tế về con người có tính khiêm tốn. - Nêu phản đề. - Bài học: * Kết thúc vấn đề nghị luận: Đánh giá khái quát về vấn đề. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 2
Đề thi
Môn: Ngữ văn lớp 11; Năm học 2022 - 2023
Thời gian làm bài: 90 phút - Không kể thời gian phát đề
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
Đời tôi, đi đây đó đã nhiều, nhưng lại rất hiếm dịp được thấy Hà Nội. Chỉ một lần thuở bé, rồi một lần hồi chiến tranh, và mấy năm sau này thêm đôi lần nữa. Thành thử, ở Hà Nội, ngoài hồ Hoàn Kiếm với cầu Long Biên, tôi chỉ đại khái biết một ngôi nhà là nhà ga Hàng Cỏ và một con đường là đường xe điện. Nhưng, mặc dù như vậy, mỗi khi nhắm mắt lại nhìn sâu vào những nẻo đường của ký ức, bao giờ tôi cũng thấy hiện lên, tuy rất đỗi mơ hồ, bóng dáng của Hà Nội phố xá. Cái thành phố sâu thẳm, xa lạ, chẳng chút thân thuộc ấy, từ lâu lắm rồi đã lẳng lặng ăn vào đời tôi như là một trong những miền đất thân yêu nhất, dẫu rằng đấy là một tình thân yêu tưởng như không đâu, một duyên nợ hầu như vô cớ. Không hẳn là một nỗi niềm mà chỉ là bâng quơ một cảm giác, không thành một câu chuyện mà chỉ như là một nốt sầu còn vương lại của thời trai trẻ chiến tranh, một thời tuổi trẻ đã hoàn toàn mai một nhưng dư âm vọng suốt đời. Như tiếng mưa rơi. Như tiếng gió lùa. Như tiếng lá rụng. Mà không bao giờ quên.
Từ bấy tới nay, thời gian mất đi đã hai chục năm tròn. Hà Nội thuở đó với Hà Nội bây giờ có lẽ đã như là một trời một vực.
Ngày ấy, từ mặt trận Quảng Trị, tôi lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp Bộ tư lệnh đang đóng ở rìa thủ đô. Khi chúng tôi ra tới nơi, thành phố đang ngất trời bom đạn. Đây thực sự là cuộc đụng đầu sống mái, một trận quyết chiến vì lẽ mất còn. Giữa huống cảnh chung nước sôi lửa bỏng như thế, chẳng dám màng gì một chuyến về quê, tôi chỉ xin được rảo vào phố để rải non chục lá thư của anh em đồng đội người Hà Nội đã gửi gắm. Tôi muốn trao thư tận tay các gia đình, để có thể nhận được ngay hồi âm mang ngược vào đơn vị cho lính ta sướng. Lựa ngày Nô-en, cấp trên thuận cho tranh thủ. Hạn đến 0 giờ phải trở về trình diện.
Tôi vào thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước.
Mặc dù không biết phố nào vào với phố nào, lại ôm trong mình những chín lá thư, nhưng thoạt đầu tôi nghĩ không việc gì phải lo. Chỉ cần hỏi tới một địa chỉ, rồi từ đấy lần lượt nhờ người ở địa chỉ trước đưa mình đến địa chỉ sau. Không dè, rốt cuộc, cả chín lá thư tôi đều phải lùa vào phòng qua khe cửa. Ngày hôm ấy, dường như cả Hà Nội đã khoá trái cửa, bỏ nhà đấy mà đi.
Xong được lá thư chót, trời đã tối sầm. Phố dài vắng ngắt ngâm mình trong mưa, tù mù những vùng đèn đường. Tôi hỏi được về Vọng. Một anh dân phòng diện ủng, vận áo tơi bạt, tận tình dẫn tôi đi một đoạn khá xa đường. Đến ngã ba nọ, trước khi chia tay, anh chỉ xuống cặp ray đường tầu điện chạy sát vỉa hè và bảo tôi cứ bám theo đó mà đi là đến.
Sụp mũ cối xuống, dựng cổ áo lên, tôi lần sâu vào trong màn mưa phùn mờ mỏng dưới trời đêm lạnh buốt. Hai vệt ray loáng ướt, chẳng khác nào một lối mòn độc đạo xuyên qua rừng rậm nhà cửa tối đen. Thành phố chiến tranh như bên bờ vực, hun hút hoang vắng. Tôi cắm cúi bước, thui thủi, tê dại. Thăm thẳm nối nhau những chặng đường khuya không ánh sáng đèn, không một bóng bộ hành, không bóng một hàng quán. Hơi thở lạnh ngắt của đêm mưa ngấm vào tận cái dạ dày tôi trống rỗng. Các khớp xương cóng nhức cứng đơ như đang rời cả ra và rơi rụng. Cơn sốt âm ỉ từ chiến trường dâng lên dọc sống lưng, tôi sởn gai ốc, và không ngớt rùng mình. Đầu óc chậm chạp chung chiêng, đầu gối những muốn khuỵu xuống. Đi chưa được mấy đường, tôi đã bắt đầu đếm bước. Màn đêm ướt át như đông lại. Không nhìn thấy gì trước mắt, suýt nữa thì tôi đã xô người tới va mặt vào một cái đầu tầu điện đen ngòm đậu chết cứng giữa lòng đường.
Chuệnh choạng, tôi rẽ lên vỉa hè, rồi lảo đảo tấp vào dưới mái hiên một ngôi nhà. Răng va lập cập trong miệng, tôi tựa lưng vào cánh cửa đóng chặt, rồi từ từ trượt người xuống, ngồi phệt lên cái bậc tam cấp ướt đẫm hơi mưa và lạnh như một cây nước đá. Rét mướt buốt tim, tôi rên hừ hừ và rồi cũng không rên nổi nữa. Cũng không sao ghìm lại được cơn run, cứ run bắn lên, run cầm cập. Thân nhiệt của mình lúc này có lẽ chỉ còn bằng với người đang ngắc ngoải, cái đầu đã tê cóng của tôi lờ đờ nghĩ, không khéo mà khốn đến nơi rồi, không khéo mà là một cơn ác tính. Những người bị sốt rét ác tính nằm chết trên võng giữa rừng sâu, còn mình thì chết ngồi, chắc thế, và sẽ hoá thành tảng đá co ro trước cửa nhà người ta.
Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm. Đã ướt lại ướt thêm một lượt nữa, tôi thở hắt, mặt mày xây xầm. Biết là cần phải dốc toàn lực bình sinh mà đứng dậy và bước đi, song hết rồi, nghị lực đã tê bại. Sinh lực xuống nhanh như mực nước trong một cái bình bị đập vỡ đáy, sự sống trong tôi xoay tròn một vòng và từ từ, lặng lẽ lật nghiêng. Đúng khi đó, sau lưng tôi, cửa kẹt mở. Tôi nghe thấy nhưng mà không ý thức được tiếng động ấy. Cơn choáng ngất gần như là một nỗi yếu mềm, một sự buông lơi, như thể một tiếng thở phào, nhẹ nhàng ru tôi ra khỏi tôi...
(Trích Khắc dấu mạn thuyền, Bảo Ninh, Nguồn https://kilopad.com/Tieu-thuyet-truyen-ngan-c197/doc-sach-truc-tuyen-khac-dau-man-thuyen-b9317)
Khoanh tròn vào chữ cái đứng trước phương án trả lời đúng:
Câu 1. Xác định ngôi kể của truyện.
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ ba
D. Kết hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
Câu 2. Tác giả chọn điểm nhìn nào?
A. Từ nhân vật tôi
B. Từ anh dân phòng
C. Từ cô gái Hà Nội
D. Từ một người giấu mình
Câu 3. Nhân vật tôi là ai?
A. Một người chiến sĩ
B. Một người Hà Nội
C. Một người dẫn đường
D. Một người lao công
Câu 4. Trong đoạn trích, bức tranh Hà Nội được miêu tả vào thời gian nào?
A. Một chiều thu
B. Một chiều đông
C. Một chiều xuân
D. Một chiều hè
Câu 5. Vì sao người lính bị ốm và thiếp đi trên hè phố?
A. Tuy đi đây đi đó nhiều, nhưng anh lính rất hiếm khi tới Hà Nội.
B. Anh muốn trao tận tay thư cho gia đình đồng đội của mình
C. Nhận nhiệm vụ lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp ở thủ đô.
D. Anh đội mưa, chịu cái rét lạnh buốt của mùa đông để đưa thư.
Câu 6. Câu văn nào sau đây sử dụng biện pháp tu từ chêm xen?
A. Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm
B. Thành phố chiến tranh như bên bờ vực, hun hút hoang vắng. Tôi cắm cúi bước, thui thủi, tê dại
C. Chuệnh choạng, tôi rẽ lên vỉa hè, rồi lảo đảo tấp vào dưới mái hiên một ngôi nhà.
D. Hai vệt ray loáng ướt, chẳng khác nào một lối mòn độc đạo xuyên qua rừng rậm nhà cửa tối đen
Câu 7. Dòng nào nêu đúng cảm nhận về khung cảnh Hà Nội trong câu văn sau: “Thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước.”?
A. Khung cảnh tĩnh lặng, đượm buồn, người đi vội vã
B. Khung cảnh đẹp, lãng mạn, phố xá tấp nập.
C. Bức tranh Hà Nội vào buổi chiều nên thơ, lãng mạn
D. Khung cảnh gợi sự buồn, cô đơn, con người vội vã, gấp gáp.
Câu 8. Trong đoạn trích trên, Bảo Ninh đã xây dựng tình huống truyện như thế nào?
A. Dù không biết đường đi Hà Nội, người lính cầm trên tay chín lá thư, nhưng nhờ sự nhiệt tình, anh không lo nghĩ nhiều, ung dung, vui vẻ bước đi.
B. Người lính đội mưa, chịu cái rét lạnh buốt của mùa đông để đưa thư. Cuối cùng anh bị sốt, ngất ngay trên đường đi.
C. Người lính nhận nhiệm vụ đi đưa thư, trên đường đi thì trời mưa phùn, đêm lạnh buốt, anh lính bị ốm và rồi thiếp đi trên hè phố.
D. Người lính ở Quảng Trị, nhận nhiệm vụ lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra Hà Nội họp, trên đường anh lính bị ốm và rồi thiếp đi trên hè phố.
Câu 9. Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của người lính lái xe trong đoạn trích trên?
Câu 10. Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống.
PHẦN II. VIẾT (5,0 điểm)
Viết bài văn nghị luận phân tích và đánh giá nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu (trích Khắc dấu mạn thuyền, Bảo Ninh).
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
Câu 8 (0.5đ) |
|
A |
A |
A |
B |
C |
A |
D |
C |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Câu 1. Xác định ngôi kể của truyện. A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Kết hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể.
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể: Thứ nhất
→ Đáp án A
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Tác giả chọn điểm nhìn nào? A. Từ nhân vật tôi B. Từ anh dân phòng C. Từ cô gái Hà Nội D. Từ một người giấu mình |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định điểm nhìn.
Lời giải chi tiết:
Tác giả chọn điểm nhìn từ nhân vật tôi
→ Đáp án A
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Nhân vật tôi là ai? A. Một người chiến sĩ B. Một người Hà Nội C. Một người dẫn đường D. Một người lao công |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý từ ngữ miêu tả nhân vật tôi.
Lời giải chi tiết:
Nhân vật tôi là một người chiến sĩ.
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Trong đoạn trích, bức tranh Hà Nội được miêu tả vào thời gian nào? A. Một chiều thu B. Một chiều đông C. Một chiều xuân D. Một chiều hè |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định thời gian.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích, bức tranh Hà Nội được miêu tả vào thời gian: Một chiều đông.
→ Đáp án B
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Vì sao người lính bị ốm và thiếp đi trên hè phố? A. Tuy đi đây đi đó nhiều, nhưng anh lính rất hiếm khi tới Hà Nội. B. Anh muốn trao tận tay thư cho gia đình đồng đội của mình C. Nhận nhiệm vụ lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp ở thủ đô. D. Anh đội mưa, chịu cái rét lạnh buốt của mùa đông để đưa thư. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Người lính bị ốm và thiếp đi trên hè phố vì: Nhận nhiệm vụ lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra họp ở thủ đô.
→ Đáp án C
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Câu văn nào sau đây sử dụng biện pháp tu từ chêm xen? A. Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm B. Thành phố chiến tranh như bên bờ vực, hun hút hoang vắng. Tôi cắm cúi bước, thui thủi, tê dại C. Chuệnh choạng, tôi rẽ lên vỉa hè, rồi lảo đảo tấp vào dưới mái hiên một ngôi nhà. D. Hai vệt ray loáng ướt, chẳng khác nào một lối mòn độc đạo xuyên qua rừng rậm nhà cửa tối đen |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định biện pháp chêm xem.
Lời giải chi tiết:
Câu văn sử dụng biện pháp tu từ chêm xen: Trên đầu tôi, mái tôn rách nát run bần bật. Dưới vẫn mưa gió. Gió phả mưa vào tận thềm
→ Đáp án A
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Dòng nào nêu đúng cảm nhận về khung cảnh Hà Nội trong câu văn sau: “Thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước.”? A. Khung cảnh tĩnh lặng, đượm buồn, người đi vội vã B. Khung cảnh đẹp, lãng mạn, phố xá tấp nập. C. Bức tranh Hà Nội vào buổi chiều nên thơ, lãng mạn D. Khung cảnh gợi sự buồn, cô đơn, con người vội vã, gấp gáp. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
khung cảnh Hà Nội trong câu văn sau: “Thành phố, dưới mưa chiều. Mưa phùn mùa đông buồn bã. Mái nhà, lòng đường, vòm cây một mầu thẫm ướt. Xe cộ phóng rất nhanh, người đi bộ gấp bước.: Khung cảnh gợi sự buồn, cô đơn, con người vội vã, gấp gáp.
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Trong đoạn trích trên, Bảo Ninh đã xây dựng tình huống truyện như thế nào? A. Dù không biết đường đi Hà Nội, người lính cầm trên tay chín lá thư, nhưng nhờ sự nhiệt tình, anh không lo nghĩ nhiều, ung dung, vui vẻ bước đi. C. Người lính nhận nhiệm vụ đi đưa thư, trên đường đi thì trời mưa phùn, đêm lạnh buốt, anh lính bị ốm và rồi thiếp đi trên hè phố. D. Người lính ở Quảng Trị, nhận nhiệm vụ lái xe đưa chỉ huy sư đoàn ra Hà Nội họp, trên đường anh lính bị ốm và rồi thiếp đi trên hè phố. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định tình huống truyện.
Đưa ra nhận xét.
Lời giải chi tiết:
Trong đoạn trích trên, Bảo Ninh đã xây dựng tình huống truyện: Người lính nhận nhiệm vụ đi đưa thư, trên đường đi thì trời mưa phùn, đêm lạnh buốt, anh lính bị ốm và rồi thiếp đi trên hè phố.
→ Đáp án C
Câu 9: (0.5 điểm)
|
Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp của người lính lái xe trong đoạn trích trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Anh là người lính nhiệt tình, biết hy sinh lợi ích cá nhân vì đồng đội:
+ Có cơ hội về Hà Nội nhưng anh không về thăm quê, chỉ xin được “rảo vào phố để rải non chục lá thư của anh em đồng đội người Hà Nội đã gửi gắm”.
+ Dù không biết đường đi Hà Nội, cầm trên tay chín lá thư, nhưng nhờ sự nhiệt tình, anh không lo nghĩ nhiều, ung dung, vui vẻ bước đi.
+ Anh đội mưa, chịu cái rét lạnh buốt của mùa đông để đưa thư. Cuối cùng anh bị sốt, ngất ngay trên đường đi.
Câu 10: (0.5 diểm)
|
Viết đoạn văn (khoảng 5 – 7 câu) nêu suy nghĩ của anh/chị về ý nghĩa của sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống. |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về ý nghĩa của sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Sự hi sinh thầm lặng trong cuộc sống: những hành động, những con người dũng cảm, sẵn sàng giúp đỡ người khác từ những hành động nhỏ nhất với tình yêu thương chân thành và cũng là những con người luôn có ý thức vươn lên xây dựng một xã hội tốt đẹp.
- Ý nghĩa của sự hy sinh thầm lặng
+ Người được chăm sóc sẽ cảm thấy được an ủi, đùm bọc, quan tâm, chia sẻ với mình cũng thật ấm lòng, là động lực giúp họ vượt qua khó khăn, nghịch cảnh.
- Người chấp nhận hy sinh cũng cảm thấy hạnh phúc vì sự cho đi đã làm cho người khác hạnh phúc và tốt đẹp hơn.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Viết bài văn nghị luận phân tích và đánh giá nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu (trích Khắc dấu mạn thuyền, Bảo Ninh). |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận phân tích và đánh giá nội dung đoạn trích ở phần đọc hiểu (trích Khắc dấu mạn thuyền, Bảo Ninh). |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. * Tóm tắt đoạn trích. Truyện kể về nhân vật tôi , anh đã đi đây đi đó rất nhiều, nhưng lại rất hiếm dịp thấy Hà Nội. Có một chuyến đi khiến anh nhớ mãi kí ức về Hà Nội . Ngày ấy, từ mặt trận Quảng Trị, anh đưa cán bộ ra thủ đô công tác, tiện anh vào thành phố chuyển mấy bức thư đồng đội anh gửi về cho tay gia đình. Tuy không biết đường đi, lang thang dưới mưa chiều, anh chuyển xong được lá thư chót, trời đã tối sầm. Cái lạnh buốt của mùa đông với cơn mưa phùn bất chợt khiến cơn sốt của anh trở lại, anh ngất đi. * Phân tích, đánh giá nội dung đoạn trích * Bức tranh Hà Nội * Hình ảnh người lính - Anh là người lính nhiệt tình, biết hy sinh lợi ích cá nhân vì đồng đội * Nhận xét , đánh giá về nghệ thuật của đoạn trích - Điểm nhìn trần thuật mang tính chân thực, gần gũi. *Nêu cảm nghĩ về thông điệp mà tác giả gửi gắm qua nhân vật trong cuộc sống hôm nay: Trong cuộc sống, chúng ta cần vượt lên trên những suy nghĩ ích kỉ, tầm thường để hướng tới sự, nhiệt tình thậm chí là hi sinh thầm lặng. Chính thái độ nhiệt tình, hi sinh thàm lặng của chúng ta sẽ khiến cho những người người mắc sai lầm tự thấy xấu hổ và quay đầu sửa chữa.
|
|
Kết bài |
0,5 |
- Đánh giá chung về đoạn trích và nêu cảm nghĩ của bản thân. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 3
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau:
(Lược dẫn: Con Mực là con chó có nhiều tật xấu. Người ta đã định giết thịt nó, nhưng vì nhiều lí do nên ngày xử con Mực liên tục bị hoãn lại. Cuối cùng, người ta quyết định sẽ giết con Mực để mừng người con trai tên Du xa nhà nhiều năm nay mới trở về).
Bữa ăn xong, con Hoa cầm bát cơm ra: một tay nó xách cái thúng như để rồi xếp bát. Thấy được ăn, tất cả thú tính của con Mực hoàn toàn nổi dậy. Nó nhảy tới vẫy đuôi hếch mõm nhìn và đợi. Cơm vừa đổ xuống nó vội vàng chúi mõm ăn ngay. Miếng chưa qua cổ thì cái thúng đã chụp quanh trên mình. Nó rít lên, vùng mạnh; nhưng Hoa đã tì cả người lên cái thúng rồi, và con Mực bị thu gọn ở trong vừa vặn đến nỗi không còn giẫy và kêu được. Lũ trẻ con réo ầm lên. Người ta lấy sẵn dao thớt và dây để trói. Phần mở thúng đã đành phải về Du: ông chủ đi vắng, cả nhà chỉ có chàng là đàn ông, mà không lẽ đi mượn hàng xóm trói giùm một con chó đã úp gọn gàng chỉ việc hơi hé cạp thúng lên, hễ chó thò đầu ra thì một đứa em đặt gậy lên cổ nó để chân chàng dận xuống. Nhưng tay chàng thấy run run. Và khi con chó vừa thò đầu ra thì nó quẫy luôn một cái mạnh, vùng ra được. Con Hoa tủm tỉm cười. Lũ em ngơ ngác nhìn theo con chó vừa ẳng ẳng vừa chạy ở ngoài vườn. Còn Du thì mặt đỏ như gấc chín. Chàng thấy mình yếu tay hơn cả con Hoa. Có lẽ nào chàng lại dịu lòng hơn cả một người con gái. Và tự nhiên chàng giận con Mực. Người ta còn lo con Mực sợ hãi mà đi mất. Quả nhiên suốt ngày hôm ấy nó không về. Nó vẩn vơ vườn hàng xóm, lẩn lút như một con chó trước khi hóa dại.
Người ta tưởng đã mất toi. Nhưng tối hôm ấy nó lần vào gầm giường rồi Du lại nghe thấy cái thứ tiếng gà gáy của nó rít lên ở phía ngõ.
Sáng hôm sau nó vẫn bỏ cơm. Trưa cũng thế. Và cứ thấy bóng người lại cúp đuôi chạy mất. Du thương hại sai người đem cơm đổ ra vườn. Một lúc sau Mực lại gần. Nó trông trước trông sau, đưa mõm rê trên những hạt cơm rồi vô cớ giật mình chạy thẳng. Có lẽ cái kỷ niệm khủng khiếp vừa lóe ra và đập mạnh vào thần kinh nó như luồng điện. Du thấy bồn chồn và vẩn vơ: thương, hối hận hay là thẹn.
Sau cùng thì chàng bực mình: chàng nhận ra rằng một con chó đã làm mất sự bình tĩnh của tâm hồn chàng. Và đột nhiên chàng muốn giết con Mực lắm. Chàng muốn có đủ can đảm để giết người. Phải dám giết mà không run tay khi cần phải giết. Còn làm được trò gì nữa nếu chỉ giết một con chó mà tim cũng đập?
Sự do dự đã hết rồi. Khi có một ý định thì ý định ấy chóng thành mạnh mẽ. Du thấy lòng cứng cỏi. Ðã có lúc chàng tưởng đến cái thú dí con dao vào súc thịt giẫy lên đành đạch để máu ấm phọt vào tay. Và chiều hôm ấy khi thấy con chó ở vườn thì chàng gần như mừng rỡ. Con vật khốn nạn đói và sợ đã mệt lử đi rồi. Nó hiện ngủ bên bờ giậu. Du cầm cái gậy to rón rén lại gần. Nhưng giơ gậy lên chàng bỗng thấy tim run một cái. Chàng tưởng như ngạt thở và ngừng lại một giây để nhìn con chó. Giấc ngủ của nó có lẽ đầy ác mộng vì thỉnh thoảng khắp mình nó lại giật lên. Du thấy lòng quả quyết tiêu tán hết. Nhưng con chó bỗng giật mình. Du hoảng hốt thẳng cánh vụt mạnh trên mình nó, bụng nó thót hẳn vào rồi lại phình ra như một khối cao su. Nó rống lên gượng dậy loạng choạng mấy vòng rồi chui bừa qua giậu trong khi Du vụt cuống cuồng theo xuống đất... Ðêm đã khuya. Du lại nghe tiếng Mực rống lên. Chàng thấy toát mồ hôi và nhất định không giết con chó nữa.
Nhưng trời gần sáng chàng còn đương mơ mộng, thì đã nghe tiếng Hoa gọi cuống cuồng lên. Con vật khốn nạn không biết mỏi mệt thế nào mà ngủ quên đi ngay ở giữa sân để đến nỗi bị Hoa úp được. Lần này thì người ta cẩn thận hơn. Hai ba người nắm vào hai đầu gậy tre ngáng sẵn bên cạnh thúng rồi Hoa mới hơi hé miệng thúng lên. Thấy sáng con Mực nhô ra ngoài cái mõm ướt phì phì. Hoa nhích lên tí nữa nhưng một cái gối đã tì sẵn trên thúng. Mực lách cả cái đầu ra. Cái gậy đè mạnh xuống. Con vật khốn nạn không còn kịp kêu.
- Ðè chặt, thật chặt, đừng buông nó ra nó cắn đấy!
Du kêu lên như thế nhưng tiếng chàng đã hơi run run. Con chó phì một cái nữa: hơi thở mới thoát ra một nửa bị tắc. Cái gậy đè sát đất, mắt nó trợn lên. Lòng đen ươn ướt cứ đờ dần rồi ngược lên lần một nửa vào mí trên. Lòng trắng đã hơi đục. Lúc Hoa trói xong cả chân trước, chân sau và buộc mõm rồi thì con chó đã mềm ra không còn cựa quậy nữa.
Du nghẹn ngào nén khóc...
(Trích Cái chết của con Mực, Tuyển tập Nam Cao, Nxb Văn học)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Truyện ngắn trên sử dụng người kể chuyện ở ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ ba
B. Ngôi thứ hai
C. Ngôi thứ nhất
D. Ngôi thứ nhất và thứ ba
Câu 2. Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào?
A. Điểm nhìn của nhân vật Hoa
B. Điểm nhìn của nhân vật Du
C. Điểm nhìn của người kể chuyện
D. Điểm nhìn của tác giả.
Câu 3. Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện?
A. Chỉ có lời nhân vật
B. Chỉ có lời người kể chuyện
C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật
D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả
Câu 4. Tình huống chính trong truyện ngắn trên là gì ?
A. Du trở về sau nhiều năm xa nhà
B. Cái chết của con Mực
C. Mọi người tìm cách giết con Mực
D. Du không nỡ giết con Mực
Câu 5. Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện?
A. Kể về quá trình giết chết con Mực và thái độ, tâm trạng của Du trước sự việc ấy.
B. Kể về việc Du trở về sau nhiều năm xa nhà và quá trình người ta giết con Mực để ăn mừng.
C. Kể về việc Du không dám ra tay giết con Mực.
D. Kể về thái độ thương tiếc và tâm trạng đau đớn, xót xa của Du trước cái chết của con Mực.
Câu 6. Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người như thế nào?
A. Một con người vừa tàn nhẫn. vừa giàu tình yêu động vật.
B. Một con người có lòng trắc ẩn, nhưng không có chính kiến.
C. Một con người có chính kiến, có lòng trắc ẩn.
D. Một người giàu tình yêu thương động vật.
Câu 7. Qua cái chết của con Mực, Nam Cao muốn gửi gắm thông điệp gì?
A. Không nên hành động theo đám đông mà hãy hành động theo lương tri
B. Không nên đối xử một cách tàn nhẫn với loài vật
C. Trước mọi sự việc, con người cần có sự quyết đoán, không nên do dự.
D. Con người cần biết tàn nhẫn thì mới có thể sống thanh thản
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện các yêu cầu:
Câu 8. Câu chuyện trên khiến bạn nhớ tới truyện ngắn nào của Nam Cao đã được học trong chương trình Ngữ Văn ở bậc THCS?
Câu 9. Bạn rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc truyện ngắn trên?
Câu 10. Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về vai trò của tình yêu thương trong cuộc sống? (Viết khoảng 5 – 7 dòng)
II. LÀM VĂN (4,0 điểm)
Bạn hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nam Cao ở truyện ngắn trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
C |
C |
C |
B |
A |
B |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định ngôi kể của truyện. A. Ngôi thứ nhất B. Ngôi thứ hai C. Ngôi thứ ba D. Kết hợp ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định ngôi kể.
Lời giải chi tiết:
Ngôi kể: thứ ba
→ Đáp án C
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Đoạn trích trên chủ yếu được kể từ điểm nhìn của nhân vật nào? A. Điểm nhìn của nhân vật Hoa B. Điểm nhìn của nhân vật Du C. Điểm nhìn của người kể chuyện D. Điểm nhìn của tác giả. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Xác định điểm nhìn.
Lời giải chi tiết:
Tác giả chọn điểm nhìn của người kể chuyện
→ Đáp án C
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói đúng về đặc điểm của lời kể trong truyện? A. Chỉ có lời nhân vật B. Chỉ có lời người kể chuyện C. Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật D. Bao gồm cả lời người kể chuyện, lời nhân vật và lời tác giả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Chú ý đặc điểm lời kể trong truyện
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm của lời kể trong truyện: Bao gồm cả lời người kể chuyện và lời nhân vật
→ Đáp án C
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Tình huống chính trong truyện ngắn trên là gì ? A. Du trở về sau nhiều năm xa nhà B. Cái chết của con Mực C. Mọi người tìm cách giết con Mực D. Du không nỡ giết con Mực |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định tình huống truyện
Lời giải chi tiết:
Tình huống chính trong truyện ngắn trên là: Cái chết của con Mực
→ Đáp án B
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Phát biểu nào sau đây nói lên nội dung tóm tắt của truyện? A. Kể về quá trình giết chết con Mực và thái độ, tâm trạng của Du trước sự việc ấy. B. Kể về việc Du trở về sau nhiều năm xa nhà và quá trình người ta giết con Mực để ăn mừng. C. Kể về việc Du không dám ra tay giết con Mực. D. Kể về thái độ thương tiếc và tâm trạng đau đớn, xót xa của Du trước cái chết của con Mực. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định nội dung chính
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính: Kể về quá trình giết chết con Mực và thái độ, tâm trạng của Du trước sự việc ấy.
→ Đáp án A
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người như thế nào? A. Một con người vừa tàn nhẫn, vừa giàu tình yêu động vật. B. Một con người có lòng trắc ẩn, nhưng không có chính kiến. C. Một con người có chính kiến, có lòng trắc ẩn. D. Một người giàu tình yêu thương động vật. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Qua quá trình tìm cách giết con Mực, bạn thấy nhân vật Du là một con người: Một con người có lòng trắc ẩn, nhưng không có chính kiến.
→ Đáp án B
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Qua cái chết của con Mực, Nam Cao muốn gửi gắm thông điệp gì? A. Không nên hành động theo đám đông mà hãy hành động theo lương tri B. Không nên đối xử một cách tàn nhẫn với loài vật C. Trước mọi sự việc, con người cần có sự quyết đoán, không nên do dự. D. Con người cần biết tàn nhẫn thì mới có thể sống thanh thản |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Qua cái chết của con Mực, Nam Cao muốn gửi gắm thông điệp: Không nên hành động theo đám đông mà hãy hành động theo lương tri
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Câu chuyện trên khiến bạn nhớ tới truyện ngắn nào của Nam Cao đã được học trong chương trình Ngữ Văn ở bậc THCS? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Liên hệ tới truyện ngắn cùng đề tài của Nam Cao.
Lời giải chi tiết:
Câu chuyện trên khiến ta nhớ tới truyện ngắn “Lão Hạc” đã được học ở lớp 8.
Câu 9: (1.0 điểm)
|
Bạn rút ra được bài học gì cho bản thân sau khi đọc truyện ngắn trên? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Học sinh được tự do rút ra bài học cho bản thân, miễn là tích cực và liên quan đến nội dung câu chuyện.
Gợi ý:
- Cần phải có chính kiến, lập trường vững vàng trước mọi sự việc trong mọi hoàn cảnh
- Cần phải hành động theo tiếng nói của lương tri
- Không a dua theo đám đông khi chưa suy xét kĩ càng
Câu 10: (1.0 diểm)
|
Từ truyện ngắn trên, bạn suy nghĩ gì về vai trò của tình yêu thương trong cuộc sống? (Viết khoảng 5 – 7 dòng) |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- HS bày tỏ suy nghĩ về về vai trò của tình yêu thương trong cuộc sống.
- Yêu cầu về hình thức: viết thành đoạn văn hoàn chỉnh (không xuống dòng, đảm bảo đủ số câu).
Gợi ý:
- Tình yêu thương giúp gắn kết con người lại với nhau
- Tình yêu thương giúp ta sống hạnh phúc, thanh thản
- Tình yêu thương giúp ta có sức mạnh để chiến thắng mọi thử thách, khó khăn.
II. VIẾT (4 điểm)
|
Bạn hãy viết một bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nam Cao ở truyện ngắn trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận phân tích, đánh giá chủ đề và những nét đặc sắc trong nghệ thuật xây dựng tình huống của Nam Cao ở truyện ngắn trên. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. * Phân tích các phương diện nghệ thuật đặc sắc: - Cốt truyện: + Truyện ngắn “cái chết của con Mực” kể về số phận của một con chó, được mọi người gọi với tên là Mực. Chính vì có nhiều tật xấu trong người nên con chó này đã được người ta định ngày giết, nhưng may mắn thay có nhiều lí do nên ngày xử con Mực liên tục bị hoãn lại. Nhưng rồi ngày giết thịt cuối cùng cũng tới, người ta lấy con Mực ra giết thịt để ăn mừng sự trở về sau nhiều năm xa nhà của người con trai tên Du. Và rồi chính Du là người được giao việc giết thịt nó, là một người sở hữu lòng yêu thương con vật tình cảm của Du dành cho con Mực cũng vậy, nhưng vì muốn bản thân là một con người mạnh mẽ trong mắt mọi người, đặc biệt muốn có tinh thần như bao người xung quanh nên anh cũng đã đồng tình để giết Mực. Nhưng sau đó mực bị bắt giết anh lại hối hận và nghẹn ngào khóc. + Cốt truyện được xây dựng dựa trên sự kiện chính là cái chết của con chó, một cốt truyện tương đối đơn giản nhưng lại có chiều sâu, đa nghĩa và có sức ám ảnh lớn, gây xúc động mạnh cho người đọc. - Nghệ thuật xây dựng tình huống: + Một trong những nét đặc sắc của nghệ thuật tự sự trong truyện ngắn này chính là nghệ thuật xây dựng tình huống độc đáo. Thông qua tình huống đó, tư tưởng của truyện được thể hiện một cách sâu sắc. + Tình huống chủ đạo của truyện chính là việc con Mực bị giết thịt. Tình huống đó đã làm toát lên tất cả tư tưởng chủ đạo của câu chuyện: sự vô tình của con người, sự trung thành tình nghĩa của con chó, từ đó con người soi lại chính mình, để nhận ra sự ích kỉ, sự vô tinh của chính mình. - Lời kể: + Lời kể từ điểm nhìn ngôi thứ ba, tkhiến câu chuyện có độ chân thực, tin cậy, đồng thời giúp cho nhân vật bộc lộ được cảm xúc, tâm trạng của mình một cách trực tiếp, gây ấn tượng mạnh cho người đọc. + Lời kể còn có sự kết hợp giữa lời người kể chuyện và lời nhân vật, sự kết hợp giữa các phương thức tự sự, biểu cảm và nghị luận, khiến cho câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn, giúp khắc họa rõ nét tính cách nhân vật, qua đó gửi gắm nhiều thông điệp sâu sắc. * Đánh giá: Trích đoạn nổi bật với những đặc sắc trong nghệ thuật kể chuyện và sự sâu sắc về chủ đề, chứa đựng nhiều bài học cuộc sống vô cùng giá trị. số phận của con Mực khi được đón nhận trong một ngôi làng với quan niệm mang tính tập quán cổ hủ, lay động vì sự nhu nhược của một cá nhân trước sức mạnh của tập thể. Đồng thời Cái chết của con Mực cũng là phương diện để phản ánh giá trị của bản thân trước sức mạnh của xã hội, đặc biệt là một xã hội đề cao tập quán. Cũng chính lối sống đó đã đưa loài người vào cạm bẫy của xã hội, họ sẵn sàng từ bỏ giá trị cốt lõi của bản thân để theo đuổi cái nhìn của người khác. Họ không muốn người khác xem thường, họ bắt chước theo sức mạnh của người khác để rồi sau những biến cố mà họ tự áp đặt cho bản thân vượt quá giới hạn để tìm lại sự hoàn lương cho con người mình. * Giá trị: Trích đoạn đem đến cho người đọc bài học nhân văn sâu sắc: trong cuộc sống, cần phải có lòng trắc ẩn, tình yêu thương, nhất là đối với những số phận bất hạnh; và dù trong bất cứ hoàn cảnh nào, hãy sống trọn tình, trọn nghĩa.
|
|
Kết bài |
0,5 |
- Đánh giá chung về đoạn trích và nêu cảm nghĩ của bản thân. |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 4
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (5,0 điểm)
Đọc văn bản sau :
CHỢ TÌNH KHAU VAI
(1) Chợ tình Kha Vai thuộc xã Khau Vai, huyện Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang. Đây là một phiên chợ tình độc đáo của Việt Nam nói riêng và thế giới nói chung.
(2) Mới 3 giờ chiều ngày 26/3 (âm lịch), phiên chợ Khau Vai nằm trong làng người Nùng, trong một thung lũng khá rộng và bằng phẳng đã chật người. Đủ màu sắc phục trang của các dân tộc H’Mông, Dao, Giáy, Tày, Nùng…khiến cả phiên chợ cứ rực lên như rừng hoa chuối. Các cô gái, chàng trai thậm chí cả người già, người trung tuổi ai nấy đều không giấu nổi được nét rạo rực, bồn chồn trên khuôn mặt, trong bộ quần áo mới phẳng phiu, có lẽ đã được dành cất cả năm đến phiên chợ trọng đại này mới đem ra dùng.
(3) Từ ngày hôm trước, lều quán đã được dựng khắp thung lũng nhưng nhiều nhất vẫn là những quán rượu ngô, thắng cố, nơi dừng chân đầu tiên của những cặp tình nhân trẻ cũng như già, mới cũng như cũ. Và cũng ngay từ chiều hôm trước, nhiều cặp vợ chồng, tình nhân vì đường xa, đã “xôi đùm, ngô nắm” lên yên ngựa hoặc thong thả theo đường núi cho kịp chợ tình trong tiếng khèn, tiếng sáo réo rắt suốt ngày đêm không tắt trên các triền núi xa xa dẫn đến Khau Vai ngày chợ.
(4) Cuộc sống ở vùng cao thường rất buồn tẻ. Cả năm mới có một phiên chợ, lại là phiên chợ tình, bởi vậy, có nhiều gia đình cả bố, mẹ, con dâu, con trai dắt díu nhau đến chợ vui như trảy hội. Thậm chí có nhiều cặp vợ chồng lấy nhau từ hơn chục năm nay, đã có với nhau bốn mặt con và sống cách chợ Khau Vai gần hai ngày đường cũng lặn lội đến đây tìm niềm vui…
(5) Bóng chiều chạng vạng bắt đầu đổ xuống thung lũng Khau Vai trong thanh âm nhộn nhịp tiếng nói cười, đi lại, gọi nhau và cả tiếng lục lạc, vó ngựa của phiên chợ lúc nào cũng nhộn nhịp đông vui nhất. Đó đây trong các lều quán bắt đầu xuất hiện các cặp tình nhân ngồi sát bên nhau, vừa chụm đầu trò chuyện vừa nhắm thức ăn và…uống rượu. Rượu được rót tràn bát, như tình cảm của người vùng cao lúc nào cũng lai láng không bến bờ. Họ uống cho ngày gặp lại sau một năm xa cách, có thể đằng đẵng, đầy nhớ nhung, đến khi nào không thể uống và không nên uống nữa, họ sẽ dắt tay nhau ra ngọn núi phía xa kia để tự tình thâu đêm đến sáng mới trở về với vợ, chồng mình.
(6) Những người già nhất xã Khau Vai bây giờ cũng không ai biết chợ tình Khau Vai có tự bao giờ. Chỉ biết rằng, từ lúc còn để chỏm họ đã thấy có chợ tình rồi. Truyền thuyết bắt nguồn phiên chợ là câu chuyện tình của một người con trai H’Mông và một người con gái Giáy yêu nhau. Song, tình yêu của họ đã gây ra hiềm khích giữa hai bộ tộc. Để tránh cuộc đối đầu đẫm máu, họ buộc phải rời xa nhau. Tuy nhiên, chàng trai và cô gái thề nguyền rằng, dù không lấy được nhau và phải lập gia đình với người khác thì mỗi năm họ sẽ gặp nhau một lần vào đêm 26/3 tại chợ Khau Vai bây giờ. Chợ tình Khau Vai được hình thành từ đó, mới đầu chỉ là nơi hẹn hò của những người đã lỡ dở tình duyên với nhau và là đêm chợ truyền thống của người dân tộc H’Mông nhưng sau đó được các dân tộc khác hưởng ứng. Đến bây giờ Khau Vai đã trở thành phiên chợ hẹn hò, tìm kiếm tình yêu của tất cả mọi người từ thanh niên cho đến người đã có gia đình.
(7) Phiên chợ tình Khau Vai càng về đêm càng trở nên sâu lắng, chỉ có tiếng trò chuyện thì thầm và tiếng khèn, tiếng hát réo rắt gọi bạn tình vang lên từ những ngọn núi, đồi xa xa. Du khách dẫu một lần đến với chợ tình Khau Vai hẳn sẽ không quên được những phút giây đầy thi vị này.
(Nguồn: Theo Lễ hội văn hoá và du lịch Việt Nam, NXB Lao Động, 2009, tr.131-133)
Câu 1. Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản?
A. Biểu Cảm
B. Nghị luận
C. Thuyết minh
D. Miêu tả
Câu 2. Hãy chỉ ra nội dung của đoạn 2,3,4,5.
A. Giới thiệu về phiên chợ
B. Giới thiệu, miêu tả về khung cảnh phiên chợ
C. Lời mời gọi du khách đến với phiên chợ.
D. Giới thiệu về chợ tình Khau Vai.
Câu 3. Đoạn (2) sử dụng tất cả bao nhiêu từ láy?
A. 3 từ
B .4 từ
C. 5 từ
D. 6 từ
Câu 4: Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau: “Đủ màu sắc phục trang của các dân tộc H’Mông, Dao, Giáy, Tày, Nùng…khiến cả phiên chợ cứ rực lên như rừng hoa chuối.”
A. So sánh, liệt kê
B. So sánh, từ láy
C. So sánh, ẩn dụ
D. So sánh.
Câu 5. Đâu không phải là thông tin giới thiệu về phiên chợ trong đoạn trích?
A. Thời gian, địa điểm tổ chức phiên chợ.
B. Nguồn gốc phiên chợ
C. Khung cảnh phiên chợ
D. Cảnh du khách đến phiên chợ
Câu 6. Tại sao tác giả lại cho rằng chợ tình Khau Vai là phiên chợ tình độc đáo?
A. Phiên chợ tổ chức mỗi năm chỉ một lần, vào ngày 26/3 hàng năm. Chợ tình là nơi để mọi người trao gửi yêu thương cho nhau.
B. Phiên chợ tổ chức quanh năm, nơi không chỉ dành cho việc mua bán mà còn để trao đổi yêu thương.
C. Phiên chợ tổ chức mỗi năm chỉ một lần. Chợ không mua bán hay trao đổi bất cứ loại hàng hoá nào mà người ta đến đây là để trao gửi yêu thương cho nhau.
D. Phiên chợ tổ chức mỗi năm chỉ một lần, là dịp để mọi người thể hiện tình cảm với nhau.
Câu 7. Trình tự triển khai thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản có tác dụng gì?
A. Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự thời gian, giúp người đọc nắm được diễn biến về phiên chợ.
B. Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự không gian, giúp người đọc nắm được diễn biến về phiên chợ.
C. Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự cảm xúc, bày tỏ thái độ thích thú đối với phiên chợ.
D. Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự thời gian, cảm xúc giúp người đọc cảm nhận về nét độc đáo của phiên chợ.
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 8. Sau khi đọc văn bản trên anh/chị suy nghĩ như thế nào về vai trò của Chợ tình Khau Vai đối với đời sống của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên vùng cao nguyên đá?
Câu 9. Bên cạnh chợ tình Khau Vai, Tây Bắc còn nổi tiếng với nhiều lễ hội độc đáo làm nên bản sắc văn hoá của vùng. Hãy kể tên một số lễ hội vùng Tây Bắc khác mà anh/chị biết.
Câu 10. Bài học ý nghĩa nhất mà anh/chị rút ra khi đọc văn bản trên là gì?
II. VIẾT (4,0 điểm)
Nếu một ngày cuộc sống của bạn bị nhuốm màu đen, hãy cầm bút và vẽ cho nó những vì sao lấp lánh.
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về câu nói trên.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
C |
B |
A |
A |
D |
C |
A |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Xác định phương thức biểu đạt chính của văn bản? A. Biểu Cảm B. Nghị luận C. Thuyết minh D. Miêu tả |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Thuyết minh
→ Đáp án C
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Hãy chỉ ra nội dung của đoạn 2,3,4,5. A. Giới thiệu về phiên chợ B. Giới thiệu, miêu tả về khung cảnh phiên chợ C. Lời mời gọi du khách đến với phiên chợ. D. Giới thiệu về chợ tình Khau Vai. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ
Xác định nội dung
Lời giải chi tiết:
Hãy chỉ ra nội dung của đoạn 2,3,4,5: Giới thiệu, miêu tả về khung cảnh phiên chợ
→ Đáp án B
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Đoạn (2) sử dụng tất cả bao nhiêu từ láy? A. 3 từ B. 4 từ C. 5 từ D. 6 từ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Xác định từ láy
Lời giải chi tiết:
Đoạn (2) sử dụng tất cả 3 từ láy.
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Chỉ ra biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau: “Đủ màu sắc phục trang của các dân tộc H’Mông, Dao, Giáy, Tày, Nùng…khiến cả phiên chợ cứ rực lên như rừng hoa chuối.” A. So sánh, liệt kê B. So sánh, từ láy C. So sánh, ẩn dụ D. So sánh. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu sau: “Đủ màu sắc phục trang của các dân tộc H’Mông, Dao, Giáy, Tày, Nùng…khiến cả phiên chợ cứ rực lên như rừng hoa chuối.”: So sánh, liệt kê
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Đâu không phải là thông tin giới thiệu về phiên chợ trong đoạn trích? A. Thời gian, địa điểm tổ chức phiên chợ. B. Nguồn gốc phiên chợ C. Khung cảnh phiên chợ D. Cảnh du khách đến phiên chợ |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Thông tin không phải giới thiệu về phiên chợ trong đoạn trích: Cảnh du khách đến phiên chợ
→ Đáp án D
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Tại sao tác giả lại cho rằng chợ tình Khau Vai là phiên chợ tình độc đáo? A. Phiên chợ tổ chức mỗi năm chỉ một lần, vào ngày 26/3 hàng năm. Chợ tình là nơi để mọi người trao gửi yêu thương cho nhau. B. Phiên chợ tổ chức quanh năm, nơi không chỉ dành cho việc mua bán mà còn để trao đổi yêu thương. C. Phiên chợ tổ chức mỗi năm chỉ một lần. Chợ không mua bán hay trao đổi bất cứ loại hàng hoá nào mà người ta đến đây là để trao gửi yêu thương cho nhau. D. Phiên chợ tổ chức mỗi năm chỉ một lần, là dịp để mọi người thể hiện tình cảm với nhau. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Chợ tình Khau Vai là phiên chợ tình độc đáo vì: Phiên chợ tổ chức mỗi năm chỉ một lần. Chợ không mua bán hay trao đổi bất cứ loại hàng hoá nào mà người ta đến đây là để trao gửi yêu thương cho nhau.
→ Đáp án C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Trình tự triển khai thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản có tác dụng gì? A. Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự thời gian, giúp người đọc nắm được diễn biến về phiên chợ. B. Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự không gian, giúp người đọc nắm được diễn biến về phiên chợ. C. Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự cảm xúc, bày tỏ thái độ thích thú đối với phiên chợ. D. Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự thời gian, cảm xúc giúp người đọc cảm nhận về nét độc đáo của phiên chợ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Trình tự triển khai thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản có tác dụng: Thông tin trong đoạn 2, 3, 4, 5 của văn bản được triển khai theo trình tự thời gian, giúp người đọc nắm được diễn biến về phiên chợ.
→ Đáp án A
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Sau khi đọc văn bản trên anh/chị suy nghĩ như thế nào về vai trò của Chợ tình Khau Vai đối với đời sống của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên vùng cao nguyên đá? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
HS trình bày suy nghĩ về vai trò của Chợ tình Khau Vai đối với đời sống của cộng đồng các dân tộc sinh sống trên vùng cao nguyên đá:
- Phiên chợ tình qua thời gian trở thành một lễ hội thực sự cho cả cộng đồng không riêng gì đôi lứa
- Là dịp để cho bà con đồng bào các dân tộc nơi đây giao lưu tìm hiểu những nét văn hoá riêng biệt, độc đáo nhằm thoả mãn nhu cầu: đồng cảm, thẩm mĩ, sáng tạo, đời sống tâm linh và tinh thần.
Câu 9: (0.5 điểm)
|
Bên cạnh chợ tình Khau Vai, Tây Bắc còn nổi tiếng với nhiều lễ hội độc đáo làm nên bản sắc văn hoá của vùng. Hãy kể tên một số lễ hội vùng Tây Bắc khác mà anh/chị biết. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Một số lễ hội vùng Tây Bắc:
- Lễ hội Hoa Ban của người Thái
- Lễ hội Lồng tồng của dân tộc Tày
- Lễ hội Cầu an bản Mường
- Lễ hội Cầu mưa
- Lễ hội đền Bắc Hà
Câu 10: (0.5 diểm)
|
Bài học ý nghĩa nhất mà anh/chị rút ra khi đọc văn bản trên là gì? |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý bài học rút ra từ văn bản:
- Ca ngợi tình yêu đôi lứa, trong sáng, thuỷ chung
- Tự hào, giữ gìn, phát huy, quảng bá bản sắc văn hoá dân tộc….
II. VIẾT (4 điểm)
|
Nếu một ngày cuộc sống của bạn bị nhuốm màu đen, hãy cầm bút và vẽ cho nó những vì sao lấp lánh. Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về câu nói trên. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về câu nói: Nếu một ngày cuộc sống của bạn bị nhuốm màu đen, hãy cầm bút và vẽ cho nó những vì sao lấp lánh. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. Giải thích ý kiến: - "Cuộc sống bị nhuốm màu đen": chỉ cuộc sống tối tăm, gặp nhiều sóng gió, khổ đau, bất hạnh, không hy vọng. - "Cầm bút và vẽ cho nó những vì sao lấp lánh" (tạo nên một bầu trời đêm thật đẹp): chủ động, tìm hướng khắc phục với tinh thần lạc quan biến những đau khổ thành niềm vui, thành công và hạnh phúc. => Ý nghĩa: Dẫu cuộc sống có tối tăm, đau khổ, bất hạnh đến đâu, mỗi con người cần chủ động thay đổi, làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn. Bàn luận: - Cuộc sống luôn có nhiều chông gai, thử thách, bất trắc do yếu tố khách quan, chủ quan mang đến với những tác động rủi ro, khiến con người cảm thấy đau khổ, tuyệt vọng. - Dù cuộc sống có đen tối, khổ đau nhưng con người không được bi quan, buông xuôi, đầu hàng số phận. Trong khó khăn, thử thách, con người nhận thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu của mình, có điều kiện tôi luyện bản lĩnh, rút ra được nhiều bài học kinh nghiệm,... làm tiền đề cho những thành công, hạnhphúc sau này. - Con người cần tin tưởng vào khả năng của bản thân, tự quyết định cuộc sống của mình. Bằng sự nỗ lực cố gắng, dũng cảm vượt qua thử thách, khổ đau, với ước mơ, hoài bão và những suy nghĩ, hành động tích cực, mỗi con người phải luôn hướng về phía trước để làm thay đổi cuộc đời ngày càng tốt đẹp hơn. - Cho dù nhiều lúc không thể thay đổi được số phận , nhưng mỗi người hoàn toàn có thể vượt lên số phận, bước qua nỗi đau, không khuất phục trước những sóng gió trong cuộc đời để đạt được hạnh phúc cho mình. - Nếu không dám đương đầu và vượt qua những thất bại, khổ đau thì con người sẽ bị nhấn chìm, gục ngã, mãi sống trong bất hạnh và sự tăm tối. => Khẳng định ý kiến trên là đúng đắn, sâu sắc, như một lời gợi mở, nhắc nhở về một phương châm sống tích cực khi đứng trước những khó khăn, thử thách trong cuộc sống. - Không phải lúc nào sự cố gắng cũng dẫn đến thành công, nhưng luôn nỗ lực và lạc quan ( cầm bút và vẽ những vì sao lấp lánh) trong mọi hoàn cảnh để không ân hận khi gặp thất bại. - Phê phán những người không có ý chí, tinh thần vượt khó, sống yếu đuối, cam chịu...hoặc có những hành động việc làm nhằm thoát khỏi hoàn cảnh sống đen tối theo theo hướng tiêu cực. (Lấy dẫn chứng minh họa cho các luận điểm) Bài học nhận thức: - Cuộc sống có thể đổ lên đầu bạn những rủi ro, tai ương, và đôi khi chúng ta lâm vào bế tắc - Phải có ý chí, nghị lực để vượt lên hoàn cảnh, vượt lên những khó khăn, gian nan phía trước. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 5
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (6,0 điểm)
Đọc đoạn trích sau :
Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật
Biết bao nhiêu hạnh phúc có trên đời
Dẫu phải khi cay đắng dập vùi
Rằng cô Tấm cũng về làm hoàng hậu
Cây khế chua có đại bàng đến đậu
Chim ăn rồi trả ngon ngọt cho ta
Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa
Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa
Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa
Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào
Ta nghẹn ngào, Đất Nước Việt Nam ơi!...
Ta lớn lên khao khát những chân trời
Những mảnh đất chân mình chưa bén được
Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực
Những ngàn sao trôi miết giữa màu xanh…
(Trích Mặt đường khát vọng, Nguyễn Khoa Điềm, NXB Văn nghệ giải phóng, 1974, tr.35-36)
Lựa chọn đáp án đúng:
Câu 1. Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì?
A. Miêu tả
B. Biểu cảm
C. Tự sự
D. Nghị luận
Câu 2. Niềm tin rất thật trong câu thơ “Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật” được hiểu là:
A. Niềm tin truyện cổ tích có thật trên đời.
B. Niềm tin cô Tấm được sẽ làm hoàng hậu sau khi trải qua những thử thách
C. Niềm tin đất đai cằn cỗi sẽ nở hoa nhờ công sức lao động của con người.
D. Niềm tin vào hạnh phúc, sự công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc sống
Câu 3. Những từ ngữ, hình ảnh nào sau đây không được lấy từ chất liệu văn học dân gian là:
A. Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực
B. Cô Tấm cũng về làm hoàng hậu
C. Cây khế chua có đại bàng đến đậu
D. Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa
Câu 4. Từ nào sau đây không phải từ láy?
|
A. Ngon ngọt |
B. Đất đai |
C. Khao khát |
D. Nghẹn ngào |
Câu 5. Hình ảnh nào không gợi lên khát khao của nhân vật trữ tình?
|
A. Những chân trời |
C. Những biển khơi |
|
B. Hoa của đất |
D. Những ngàn sao |
Câu 6. Hai câu thơ: “Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa/ Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa” đã sử dụng biện pháp tu từ nào?
|
A. So sánh |
C. Ẩn dụ |
|
B. Nói quá |
D. Nhân hoá |
Câu 7. Dòng nào sau đây nhận xét đúng về đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ?
A. Sử dụng thể thơ 8 chữ, bút pháp ước lệ tượng trưng, giàu sức biểu cảm, giọng thơ trầm lắng
B. Sử dụng thể thơ 8 chữ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, sử dụng nhiểu từ Hán Việt. nhịp điệu tươi vui
C. Sử dụng thể thơ tự do, chất liệu văn học dân gian, bút pháp tả cảnh ngụ tình
D. Sử dụng chất liệu văn học dân gian, giọng thơ trữ tình – chính luận
Trả lời câu hỏi/ Thực hiện yêu cầu:
Câu 8. Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung câu thơ: “Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa”?
Câu 9. Nêu tác dụng nghệ thuật của phép điệp trong các câu thơ sau:
Ta lớn lên khao khát những chân trời
Những mảnh đất chân mình chưa bén được
Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực
Những ngàn sao trôi miết giữa màu xanh…
Câu 10. Rút ra thông điệp ý nghĩa với anh/chị qua đoạn thơ trên. Lí giải.
II. VIẾT (4,0 điểm)
“Thơ là tiếng nói của thân phận con người.”
Trích Thơ là gì? - Phan Ngọc, Tạp chí văn học, 1994)
Anh/ Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) hãy làm sáng tỏ điều đó.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 (0.5đ) |
Câu 2 (0.5đ) |
Câu 3 (0.5đ) |
Câu 4 (0.5đ) |
Câu 5 (0.5đ) |
Câu 6 (0.5đ) |
Câu 7 (0.5đ) |
|
B |
D |
A |
A |
B |
C |
D |
Câu 1 (0.5 điểm)
|
Phương thức biểu đạt chính của văn bản là gì? A. Miêu tả B. Biểu cảm C. Tự sự D. Nghị luận |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định phương thức biểu đạt
Lời giải chi tiết:
Phương thức biểu đạt chính của văn bản: Biểu cảm
→ Đáp án B
Câu 2 (0.5 điểm)
|
Niềm tin rất thật trong câu thơ “Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật” được hiểu là: A. Niềm tin truyện cổ tích có thật trên đời. B. Niềm tin cô Tấm được sẽ làm hoàng hậu sau khi trải qua những thử thách C. Niềm tin đất đai cằn cỗi sẽ nở hoa nhờ công sức lao động của con người. D. Niềm tin vào hạnh phúc, sự công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc sống |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ
Vận dụng cách hiểu của bản thân để trả lời
Lời giải chi tiết:
Niềm tin rất thật trong câu thơ “Ta lớn lên bằng niềm tin rất thật” được hiểu là: Niềm tin vào hạnh phúc, sự công bằng và những điều tốt đẹp trong cuộc sống
→ Đáp án D
Câu 3 (0.5 điểm)
|
Những từ ngữ, hình ảnh nào sau đây không được lấy từ chất liệu văn học dân gian là: A. Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực B. Cô Tấm cũng về làm hoàng hậu C. Cây khế chua có đại bàng đến đậu D. Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn văn
Xác định những hình ảnh được lấy từ chất liệu văn học dân gian
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ, hình ảnh nào sau đây không được lấy từ chất liệu văn học dân gian là: Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực
→ Đáp án A
Câu 4 (0.5 điểm)
|
Từ nào sau đây không phải từ láy?
|
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản.
Xác định từ láy
Lời giải chi tiết:
Từ không phải từ láy: Ngon ngọt
→ Đáp án A
Câu 5 (0.5 điểm)
|
Hình ảnh nào không gợi lên khát khao của nhân vật trữ tình?
|
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh không gợi lên khát khao của nhân vật trữ tình: Hoa của đất
→ Đáp án B
Câu 6 (0.5 điểm)
|
Hai câu thơ: “Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa/ Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa” đã sử dụng biện pháp tu từ nào?
|
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Xác định biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Hai câu thơ: “Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa/ Hoa của đất, người trồng cây dựng cửa” đã sử dụng biện pháp tu từ ẩn dụ
→ Đáp án C
Câu 7 (0.5 điểm)
|
Dòng nào sau đây nhận xét đúng về đặc sắc nghệ thuật của đoạn thơ? A. Sử dụng thể thơ 8 chữ, bút pháp ước lệ tượng trưng, giàu sức biểu cảm, giọng thơ trầm lắng B. Sử dụng thể thơ 8 chữ, ngôn ngữ giàu hình ảnh, sử dụng nhiểu từ Hán Việt. nhịp điệu tươi vui C. Sử dụng thể thơ tự do, chất liệu văn học dân gian, bút pháp tả cảnh ngụ tình D. Sử dụng chất liệu văn học dân gian. giọng thơ trữ tình – chính luận |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời câu hỏi.
Lời giải chi tiết:
Nghệ thuật của đoạn thơ: Sử dụng chất liệu văn học dân gian, giọng thơ trữ tình – chính luận
→ Đáp án D
Câu 8 ( 0.5 điểm)
|
Anh/chị hiểu như thế nào về nội dung câu thơ: “Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa”? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Nội dung câu thơ: “Đất đai cỗi cằn thì người sẽ nở hoa”:
- Thiên nhiên khắc nghiệt, điều kiện tự nhiên không cho phép không phải là cản trở mà ngược lại, là thử thách để con người khẳng định mình. Con người nở hoa là con người sẽ tạo ra những thành quả lao động tốt đẹp trên chính mảnh đất cỗi cằn, khắc nghiệt.
- Câu thơ muốn nói đến chân lí: con người thành công khi nỗ lực vượt qua những thử thách, khó khăn trong cuộc sống.
Câu 9: (0.5 điểm)
|
Nêu tác dụng nghệ thuật của phép điệp trong các câu thơ sau: Ta lớn lên khao khát những chân trời Những mảnh đất chân mình chưa bén được Những biển khơi chứa mặt trời đỏ rực Những ngàn sao trôi miết giữa màu xanh… |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
- Chỉ ra phép điệp: điệp từ “những” kết hợp cấu trúc liệt kê: những chân trời, những mảnh đất…., những biển khơi…., những ngàn sao…
- Tác dụng:
+ Tạo nhịp điệu, âm hưởng cho đoạn thơ
+ Nhấn mạnh những khát khao lớn lao của con người muốn chinh phục những mảnh đất rộng lớn, những điều lớn lao trong cuộc sống.
Câu 10: (0.5 diểm)
|
Rút ra thông điệp ý nghĩa với anh/chị qua đoạn thơ trên. Lí giải. |
Phương pháp giải:
HS vận dụng kiến thức của bản thân để trả lời.
Lời giải chi tiết:
Gợi ý bài học rút ra từ văn bản:
- Cần có niềm tin vào những điều tốt đẹp trong cuộc sống, niềm tin vào chính nghĩa, cái thiện sẽ thắng cái ác.
- Cần biết ước mơ, dám khao khát những điều lớn lao.
- Cần quý trọng công sức lao động.
II. VIẾT (4 điểm)
|
“Thơ là tiếng nói của thân phận con người.” (Trích Thơ là gì? - Phan Ngọc, Tạp chí văn học, 1994) Anh/ Chị hiểu ý kiến trên như thế nào? Qua bài thơ Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) hãy làm sáng tỏ điều đó. |
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Viết bài văn nghị luận trình bày suy nghĩ về ý kiến: “Thơ là tiếng nói của thân phận con người.” |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
- Dẫn dắt và nêu vấn đề cần bàn luận |
|
Thân bài |
2,5 |
Thí sinh có thể triển khai theo nhiều cách, nhưng cần giới thiệu được vấn đề cần bàn luận, hệ thống luận điểm chặt chẽ, lập luận thuyết phục, sử dụng dẫn chứng hợp lí. Giải thích ý kiến: * Cắt nghĩa ý kiến: - Thơ là thể loại văn học sử dụng phương thức trữ tình để phản ánh cuộc sống. Thơ chủ yếu thể hiện tình cảm, tâm trạng của con người thông qua tổ chức ngôn từ đặc biệt, giàu nhạc tính, giàu hình ảnh và gợi cảm. - Thơ là tiếng nói của thân phận con người: + Là tiếng nói của tình cảm, thơ nhạy cảm với những cảnh đời, phận người; lắng sâu vào hồn người để lắng nghe những tâm tư thầm kín nhất của con người, biểu lộ những rung cảm sâu sắc nhất của thi nhân. + Thơ là tiếng nói đi từ trái tim nhà thơ đến trái tim người đọc. Người đọc thơ tìm thấy cảm xúc, tình cảm, tâm trạng, cuộc đời, số phận của mình in bóng trong trang thơ. * Lí giải ý kiến: Ý kiến của Phan Ngọc là ý kiến đúng đắn và xác đáng vì: - Xuất phát từ đặc trưng của thơ: Thơ cũng như bất cứ một loại hình nghệ thuật nào khác là tấm gương phản chiếu hiện thực đời sống, con người. Thơ cũng chính là cuộc đời, thơ ăn sâu bén rễ vào mảnh đất hiện thực để nói lên tiếng lòng của thi sĩ về kiếp nhân sinh, trong đó điều khiến nhà thơ luôn đau đáu, trăn trở chính là thân phận con người. - Xuất phát từ chức năng của văn học: Văn học nói chung và thơ nói riêng luôn giúp con người được sống, được biết nhiều cuộc đời, khái quát được số phận, bản chất của con người; đặc biệt khám phá được chiều sâu trong thế giới tinh thần của con người. Từ đó, khả năng thấu hiểu và đồng cảm với con người sâu sắc hơn. - Xuất phát từ khát vọng của người viết: Nhà thơ luôn mang trong mình một con mắt tinh tế, một trái tim nhạy cảm, những điều trông thấy về cuộc sống, đặc biệt những nỗi đau, bất công, oan trái mà thân phận người phải đối diện luôn khiến nhà thơ đau đớn lòng, từ đó làm nên những trang thơ day dứt về thân phận người. Nhà thơ muốn đưa những tình cảm chân thật, thiết tha nhất của mình vào từng câu chữ để khẳng định được tài năng và giá trị tác phẩm, để người đọc thêm cảm thông cho nỗi lòng thi nhân, rút ngắn khoảng cách giữa người sáng tạo nghệ thuật với người thưởng thức nghệ thuật, giúp tác phẩm đạt được ý nghĩa nghệ thuật vị nhân sinh hơn. - Xuất phát từ thực tiễn: trong sáng tác thơ ca từ xưa tới nay, những tác phẩm có giá trị đều là những tác phẩm có tư tưởng sâu sắc được tạo nên từ trái tim giàu cảm xúc của người cầm bút. Những tác phẩm vượt qua được sự đào thải khắc nghiệt của thời gian là những tác phẩm viết về thân phận con người với tất cả sự nâng niu và ngợi ca. Chứng minh qua Đọc Tiểu Thanh kí (Nguyễn Du) - Giới thiệu tác giả, tác phẩm. - Thân phận của con người qua bài thơ “Đọc Tiểu Thanh kí” (Nguyễn Du) 4 câu thơ đầu: Thân phận của nàng Tiểu Thanh. -Nguyễn Du thấu hiểu nỗi oan khiên của Tiểu Thanh qua mảnh giấy tàn trước song cửa sổ. Chữ độc đứng đầu dòng thơ nhấn mạnh tâm thế của tác giả - đó là tâm thế xót thương trong nỗi cô đơn. Chữ độc và chữ nhất trong câu thơ chữ Hán cũng là để nói một lòng đau tìm gặp một hồn đau. - Nguyễn Du nhắc đến cuộc đời Tiểu Thanh bằng những ẩn dụ tượng trưng quen thuộc, son phấn là biểu tượng cho sắc đẹp, văn chương là ẩn dụ cho tài năng của Tiểu Thanh. Đời Tiểu Thanh là điển hình của hai nỗi oan lớn: hồng nhan bạc phận, tài mệnh tương đố. Người đẹp như nàng mà bất hạnh, chết yểu.Có tài thơ văn như nàng mà bị dập vùi. 4 câu thơ sau: Thân phận của những người tài hoa bạc mệnh nói chung và niềm mong ước được tri âm của Nguyễn Du ở hậu thế. - Về nỗi hận: Nguyễn Du đã từ cái hận của Tiểu Thanh mà nghĩ đến cái hận muôn đời. Từ nỗi đau riêng của Tiểu Thanh mà quy thành nỗi đau từ cổ chí kim của bao kiếp người tài hoa. Nỗi hận trở nên quá lớn khó mà hỏi trời được - Về nỗi oan: là cái án phong lưu. Khách phong lưu mà phải khổ, phải mang cái án oan lạ lùng vì nết phong nhã. Tự đặt mình cùng hội cùng thuyền với Tiểu Thanh, Nguyễn Du đã tự phơi bày lòng mình cùng nhân thế. Đó chính là tâm sự chung của những người mắc kỳ oan. - Về tâm sự của Nguyễn Du: Ông không hỏi quá khứ, hiện tại mà hỏi tương lai; không hỏi trời, đất mà lại hỏi người đời. Hỏi ba trăm năm sau, thiên hạ có ai khóc Tố Như? Niềm tự thương kết tụ thành một lời thắc mắc lơ lửng giữa không trung mà chẳng ai có thể giải đáp được vì thế tự đau đến cực độ. Nghệ thuật: thơ chữ Hán uyên bác, tài hoa; phép đối cân chỉnh; ngôn ngữ giàu tính triết lí; hình ảnh đẹp, nhiều nghĩa hàm ẩn, ngôn ngữ giàu sức gợi; sự phá luật ở hai câu kết: hai câu kết là câu hỏi, mở ra những hướng liên tưởng khác nhau ở người đọc… Đánh giá, nâng cao vấn đề: - Khẳng định ý kiến xác đáng, đúng đắn của Phan Ngọc về vai trò quan trọng của thơ ca. Đó là tiếng lòng, là lời tâm sự, sẻ chia về những kiếp người trôi nổi vô định, thấp cổ bé họng, mong manh, đáng thương mà nổi bật nhất là thân phận của người phụ nữ. - Ca dao than thân, yêu thương tình nghĩa là nơi gửi gắm tiếng lòng của mọi kiếp người, đặc biệt là tiếng lòng của người phụ nữ. Đó là những số phận bất hạnh, chịu nhiều bất công, ngang trái. Đọc Tiểu Thanh kí là tác phẩm thể hiện những cảm xúc, suy tư của Nguyễn Du về số phận bất hạnh của những người phụ nữ có tài sắc trong xã hội phong kiến. - Ý nghĩa: Đối với nhà thơ: Làm thơ không chỉ truyền đến người đọc tình yêu với nghệ thuật, cái đẹp mà còn khiến người đọc thấu hiểu và thương cảm trước thân phận con người. Để đạt được điều ấy, mỗi nhà thơ cần có tài năng, tấm lòng và sự trải nghiệm sâu sắc. Một tác phẩm thơ chân chính và mang đầy đủ giá trị nghệ thuật là một bài thơ chan chứa tình cảm, cảm xúc mà tình cảm đó là những rung động sâu sắc nhất của thi nhân trước cuộc đời, trước số phận con người. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Khẳng định lại vấn đề |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ pháp Tiếng Việt. - Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ, sáng tạo. |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản:
Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm
Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?
- Chưa đâu! Và ngay cả trong những ngày đẹp nhất
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...
Những ngày tôi sống đây là ngày đẹp hơn tất cả
Dù mai sau đời muôn vạn lần hơn!
Trái cây rơi vào áo người ngắm quả,
Đường nhân loại đi qua bóng lá xanh rờn,
Mặt trời đến mỗi ngày như khách lạ
Gặp mỗi mặt người đều muốn ghé môi hôn...
…
Không ai có thể ngủ yên trong đời chật
Buổi thuỷ triều vẫy gọi những vầng trăng,
Mỗi gié lúa (1) đều muốn thêm nhiều hạt,
Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm (2)
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt,
Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng...
(Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?, Chế Lan Viên, NXB Văn học, 2002, tr.354, 355)
Chú thích:
- Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn, nhà nghiên cứu lý luận, nhà phê bình văn học nghệ thuật. Bài thơ “Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?” được sáng tác khi cả nước đang trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, cứu nước.
(1) gié lúa: bông lúa.
(2) trầm: gỗ lâu năm, có mùi hương thoang thoảng dễ chịu.
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. (0,5đ)
Câu 2. Nêu những từ ngữ cảm thán thể hiện cảm xúc của tác giả khi viết về Tổ quốc trong hai dòng thơ đầu. (0,5đ)
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê đối với việc thể hiện nội dung chính trong đoạn thơ sau: (1đ)
Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc,
Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn,
Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc,
Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng...
Câu 4. Nhận xét suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua những hệ thống hình ảnh kết hợp động từ muốn, nằm mơ trong đoạn thơ sau: (1đ)
Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt
Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm
Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt
Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng...
Câu 5. Theo anh/chị, tuổi trẻ cần làm gì để thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh (trình bày khoảng 5-7 dòng)? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) cảm nhận về tình cảm của tác giả đối với đất nước được thể hiện trong khổ thơ đầu bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Của tác giả Chế Lan Viên.
Câu 2. (4,0 điểm) Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) về vai trò của lí tưởng sống đối với tuổi trẻ.
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1. Xác định thể thơ của văn bản trên. |
Phương pháp giải:
Chú ý số dòng trong bài, số từ trong câu
Lời giải chi tiết:
Thể thơ tự do
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2. Nêu những từ ngữ cảm thán thể hiện cảm xúc của tác giả khi viết về Tổ quốc trong hai dòng thơ đầu. |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về từ ngữ cảm thán
Lời giải chi tiết:
Những từ ngữ cảm thán thể hiện cảm xúc của tác giả khi viết về Tổ quốc trong hai dòng thơ đầu: Hỡi, thế này chăng.
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3. Nêu tác dụng của biện pháp tu từ liệt kê đối với việc thể hiện nội dung chính trong đoạn thơ sau: Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc, Nguyễn Du viết Kiều, đất nước hoá thành văn, Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào cửa Bắc, Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng... |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về phép tu từ liệt kê
Chỉ ra các từ ngữ biểu hiện của phép tu từ liệt kê trong đoạn thơ và nêu tác dụng
Lời giải chi tiết:
- Các từ ngữ biểu hiện của phép tu từ liệt kê trong đoạn thơ: Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Hưng Đạo; (hoặc: làm thơ, đánh giặc, viết Kiều).
- Tác dụng: Thể hiện niềm tự hào về những danh nhân, anh hùng của đất nước; niềm vui sướng, yêu mến thiết tha đối với lịch sử, truyền thống, Tổ quốc; tạo giọng điệu hào hùng cho đoạn thơ.
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4. Nhận xét suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua những hệ thống hình ảnh kết hợp động từ muốn, nằm mơ trong đoạn thơ sau: Mỗi gié lúa đều muốn thêm nhiều hạt Gỗ trăm cây đều muốn hoá nên trầm Mỗi chú bé đều nằm mơ ngựa sắt Mỗi con sông đều muốn hoá Bạch Đằng... |
Phương pháp giải
Phân tích tác dụng của điệp từ “muốn”, “mỗi”
Cho biết cụm từ “nằm mơ” gợi nhớ đến nhân vật lịch sử nào
Từ đó suy ra suy nghĩ, tình cảm của tác giả dành cho đất nước
Lời giải chi tiết:
Suy nghĩ, tình cảm của tác giả được thể hiện qua những hệ thống hình ảnh kết hợp động từ muốn, nằm mơ trong đoạn thơ: khát khao được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước; bộc lộ tình yêu đối với Tổ quốc.
Câu 5: (1đ)
|
Câu 5. Theo anh/chị, tuổi trẻ cần làm gì để thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh (trình bày khoảng 5-7 dòng)? |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức và nội dung đoạn văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn
Lời giải chi tiết:
HS trình bày suy nghĩ của bản thân về những việc tuổi trẻ cần làm để thể hiện lòng biết ơn đối với thế hệ cha anh. Có thể theo hướng: tham gia các hoạt động tưởng nhớ các anh hùng liệt sĩ, tri ân các thương bệnh binh, người có công với đất nước; học tập và lao động chăm chỉ góp phần dựng xây đất nước giàu đẹp; rèn luyện sức khoẻ, sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc;...
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. (2,0 điểm) Anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) cảm nhận về tình cảm của tác giả đối với đất nước được thể hiện trong khổ thơ đầu bài thơ Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng? Của tác giả Chế Lan Viên. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của đoạn văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết đoạn văn phân tích một bài thơ
Lời giải chi tiết:
a. Xác định được yêu cầu về hình thức, dung lượng của đoạn văn
Bảo đảm đúng yêu cầu về hình thức và dung lượng (khoảng 150 chữ) của đoạn văn. Học sinh có thể trình bày đoạn văn theo cách diễn dịch, quy nạp, tổng - phân - hợp, móc xích hoặc song hành.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Phân tích, đánh giá về nội dung và nghệ thuật văn bản phần Đọc hiểu.
c. Viết đoạn văn đảm bảo các yêu cầu
Lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp, kết hợp chặt chẽ lí lẽ và dẫn chứng trên cơ sở đảm bảo các nội dung sau:
* Nội dung:
+ Tự hào về lịch sử dân tộc, yêu quê hương đất nước.
+ Thể hiện niềm tự hào về những danh nhân, anh hùng của đất nước (Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Nguyễn Huệ, Hưng Đạo); niềm vui sướng, yêu mến thiết tha đối với lịch sử, truyền thống, Tổ quốc (Hỡi sông Hồng tiếng hát bốn nghìn năm/Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng?).
+ Bài thơ là khúc ca đẹp về lí tưởng sống, lí tưởng cách mạng, về khao khát được cống hiến cho cuộc đời, cho đất nước.
* Nghệ thuật:
+ Thể thơ tự do.
+ Giọng thơ hào hùng, âm hưởng ngợi ca.
+ Sử dụng nhiều biện pháp tu từ.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết câu trong đoạn văn.
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
đ. Sáng tạo
- Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề cần nghị luận, có cách diễn đạt mới mẻ.
Hướng dẫn chấm:
- HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh.
Câu 2.
|
Câu 2. (4,0 điểm) Hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 500 chữ) về vai trò của lí tưởng sống đối với tuổi trẻ. |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài văn về một vấn đề liên quan đến tuổi trẻ
Lời giải chi tiết:
a. Bảo đảm bố cục và dung lượng của bài văn nghị luận
Bảo đảm yêu cầu về bố cục và dung lượng (khoảng 400 chữ) của bài văn.
b. Xác định đúng vấn đề cần nghị luận
Vai trò của lí tưởng sống đối với tuổi trẻ.
c. Viết được bài văn nghị luận đảm bảo các yêu cầu
Lựa chọn được các thao tác lập luận phù hợp; kết hợp nhuần nhuyễn lí lẽ và dẫn chứng; trình bày được hệ thống ý phù hợp theo bố cục ba phần của bài văn nghị luận. Có thể triển khai theo hướng:
* Mở bài: Giới thiệu vấn đề nghị luận.
* Thân bài: Triển khai vấn đề nghị luận
- Giải thích: Lý tưởng sống hay lẽ sống là cái đích cuộc sống mà mỗi người khát khao muốn đạt được.
- Bàn luận:
+ Người sống có lí tưởng không bị dao động về lập trường, tư tưởng, không bỏ cuộc, lầm đường dù có khó khăn gian khổ, kiên định con đường mình đã chọn.
+ Lí tưởng giúp con người không ngừng hoàn thiện mình mỗi ngày, hoàn thiện nhân cách, nhận ra giá trị của chính mình, sống tích cực, lạc quan; có mục đích để phấn đấu vươn lên, nỗ lực hành động, vượt qua những giới hạn của bản thân và kiến tạo những giá trị tốt đẹp, lan tỏa lối sống cống hiến trong cộng đồng.
- Mở rộng vấn đề, trao đổi với quan điểm trái chiều hoặc ý kiến khác
* Kết bài: Khái quát vấn đề nghị luận.
Lưu ý: HS có thể bày tỏ suy nghĩ, quan điểm riêng nhưng phải phù hợp với chuẩn mực đạo đức và pháp luật.
d. Diễn đạt
Đảm bảo chuẩn chính tả, dùng từ, ngữ pháp tiếng Việt, liên kết văn bản
Hướng dẫn chấm: Không cho điểm nếu bài làm mắc quá nhiều lỗi chính tả, ngữ pháp.
đ. Sáng tạo
Thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận; có cách diễn đạt mới mẻ.
Hướng dẫn chấm:
- HS huy động được kiến thức và trải nghiệm của bản thân để bàn luận về vấn đề cần nghị luận; có cách nhìn riêng, mới mẻ về vấn đề nghị luận; có sáng tạo trong viết câu, dựng đoạn, làm cho lời văn có giọng điệu, hình ảnh.
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
NẠN BUÔN NGƯỜI: TỪ BẪY VIỆC NHẸ LƯƠNG CAO ĐẾN NỘP MÌNH CHO TỘI PHẠM
Ban Thời sự - Thứ bảy, ngày 30/07/2022 11:46 GMT+7
Khoảng 1 triệu người bị mua bán trên thế giới mỗi năm
Khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhất là các nước Tiểu vùng sông Mekong (trong đó có Việt Nam), tình hình tội phạm mua bán người ngày phức tạp, tinh vi. Tiếp cận, rủ rê, lôi kéo đi du lịch, đi làm thuê thu nhập cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp... nhưng để lừa bán, ép buộc, cưỡng bức lao động. Nhiều đường dây buôn bán người bất hợp pháp liên tục bị triệt phá nhờ sự phối hợp chặt chẽ của cơ quan chức năng của Việt Nam với các cơ quan nước ngoài trong việc giải cứu, bảo vệ, hỗ trợ nạn nhân.
Đây là một nhiệm vụ khó khăn phức tạp, đặc biệt là trong xu thế tình hình tội phạm trên thế giới và khu vực ngày càng gia tăng. Theo ước tính của Liên Hợp Quốc (LHQ), mỗi năm trên thế giới có khoảng 800.000 đến 1 triệu người bị mua bán. Như vậy có khoảng 3.000 người bị mua bán mỗi ngày. Song số vụ việc được đưa ra “ánh sáng” vẫn ở mức thấp so với thực tế và những đối tượng này vẫn nhởn nhơ ngoài vòng pháp luật.

Khách quan mà nói, rõ ràng đây là thách thức với bất kỳ quốc gia nào. Cơ quan Cảnh sát châu Âu ước tính rằng hơn 90% người di cư, trên hành trình đi tìm “miền đất hứa”, đã ít nhất một lần sử dụng “dịch vụ” của những kẻ buôn người.
Hơn 150 quốc gia ở tất cả các châu lục đang phải đối mặt với loại hình tội phạm mua bán người. Theo thống kê của LHQ, có khoảng gần 25 triệu nạn nhân của nạn mua bán người trên khắp thế giới, trong đó có lao động cưỡng bức, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc…
Tuy nhiên, chỉ có khoảng 50.000 nạn nhân mua bán người được phát hiện, trong khi số tội phạm bị xử lý chỉ ở mức 3.500 trong số khoảng 510 đường dây buôn người trên toàn cầu. Trong số nạn nhân này, gần một nửa là phụ nữ, và 20% là trẻ em gái.
Đại dịch COVID-19 đã làm trầm trọng thêm và tạo ra các lỗ hổng cho nạn mua bán người như tạo thêm bất ổn, nghèo đói, khiến các nhóm dễ bị tổn thương dễ trở thành các con mồi của các tổ chức tội phạm. Đại dịch khiến các nạn nhân giảm 73% khả năng tiếp cận các dịch vụ y tế, 70% khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, 63% khả năng tiếp cận các trợ giúp pháp lý. Báo cáo của UNODC trích dẫn thống kê từ 1 tổ chức nhân quyền, số vụ mua bán người tại Mỹ trong giai đoạn dịch COVID-19 đã tăng 185% so với trước đó.
Những năm gần đây, khu vực châu Á - Thái Bình Dương, nhất là các nước Tiểu vùng sông Mekong (trong đó có Việt Nam), tình hình tội phạm mua bán người rất phức tạp. Số nạn nhân bị mua bán khoảng là 11,7 triệu người, trong đó 55% là phụ nữ và trẻ em gái; 45% là nam giới.
Do siêu lợi nhuận thu được từ hoạt động mua bán người; tình trạng mất cân bằng về giới và các tác động khác, các hoạt động mua bán người ở Việt Nam cũng vì thế mà gia tăng về số vụ và tính chất phức tạp. Gần 85% số vụ mua bán người ra nước ngoài, tập trung chủ yếu qua các tuyến biên giới giữa Việt Nam với Campuchia, Lào và Trung Quốc, trong đó, sang Trung Quốc chiếm 75%,

Gần 85% số vụ mua bán người ra nước ngoài, tập trung chủ yếu qua các tuyến biên giới giữa Việt Nam với Campuchia, Lào và Trung Quốc, trong đó, sang Trung Quốc chiếm 75%
Nhiều thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo tinh vi của các đường dây tội phạm
Kể từ năm 2011, Việt Nam đã có Luật phòng chống mua bán người, các quy định để xử lý loại tội phạm nguy hiểm và phi nhân tính này. Cơ quan chức năng cũng nỗ lực trong việc ngăn chặn và xử lý nghiêm các vụ việc mua bán người.
Tuy nhiên, việc đi lại giữa các quốc gia, các châu lục ngày càng mở rộng như hiện nay một mặt tạo điều kiện thúc đẩy các hoạt động giao thương, du lịch ngày càng thuận lợi; mặt khác nó cũng khiến cho hoạt động mua bán người ngày càng trở nên tinh vi và phức tạp, khó đối phó.
Phần lớn nạn nhân bị lừa bán sang Campuchia thời gian gần đây đều thông qua mạng xã hội. Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa gạt nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trái phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm.
Họ vừa là nạn nhân, vừa vi phạm pháp luật. Việc giải cứu họ khỏi những
“miệng hố tử thần” vì thế tùy thuộc rất nhiều vào sự phối hợp của lực lượng chức năng sở tại.
Ông Lương Thanh Quảng, Phó Cục trưởng Cục Lãnh sự, Bộ Ngoại giao cho biết thêm: “Việc triển khai công tác này là rất khó khăn do liên quan đến các đường dây tội phạm nguy hiểm, đồng thời cũng cần phải được tổ chức nhanh chóng. Nhưng với sự phối hợp chặt chẽ của các cơ quan chức năng trong nước và sự hợp tác tích cực của phía bạn, cuối cùng ta đã kịp thời hoàn tất việc giải cứu công dân”
Việc điều tra, xử lý các đối tượng theo đúng tội danh mua bán người cũng không đơn giản. Bởi các đối tượng sử dụng những thủ đoạn tiếp cận, lừa đảo, tổ chức mua bán tinh vi, lại diễn ra trên nước khác.
[...]
(https://bom.so/OtblZC)
Câu hỏi:
Câu 1: Văn bản Nạn buôn bán người: Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? (0,5đ)
Câu 2: Biểu đồ, bản đồ ở phần một có tác dụng gì trong việc truyền tải thông tin? (0,5đ)
Câu 3: Nhận xét cách đặt nhan đề văn bản và thái độ, quan điểm của người viết đối với nạn buôn người (0,5đ)
Câu 4: Văn bản trên cung cấp cho em những thông tin, nhận thức bổ ích gì? Hãy chia sẻ ngắn gọn điều đó (1đ)
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trái phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm không? Vì sao? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. (2,0 điểm) Quan sát 2 bức hình sau và thực hiện yêu cầu kế tiếp


a. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa tố cáo của từng bức hình
b. Có thể dùng 2 bức hình trên minh họa cho nội dung nào cho văn bản Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm
Câu 2. (4,0 điểm)
Hãy lựa chọn thể loại (văn bản thông tin/ văn bản nghị luận) để tạo lập văn bản về nạn buôn người nhằm mục đích cảnh báo cho các nạn nhân ham việc nhẹ lương cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp tại Việt Nam.
Yêu cầu: đặt tiêu đề cho văn bản, phối hợp sử dụng yếu tố biểu cảm, miêu tả, thuyết minh và yếu tố phi ngôn ngữ trong văn bản
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1: Văn bản Nạn buôn bán người: Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc lại kiến thức về hình thức truyền tải trong văn bản thông tin
Lời giải chi tiết:
Yếu tố để người đọc dễ nắm bắt thông tin trong văn bản: Số liệu, hình ảnh, tiêu đề đoạn in đậm
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2: Biểu đồ, bản đồ ở phần một có tác dụng gì trong việc truyền tải thông tin? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Quan sát, chú ý tên và nội dung của biểu đồ
Lời giải chi tiết:
Tác dụng của biểu đồ, bản đồ: Cụ thể hóa số liệu nạn buôn người trên thế giới và Việt Nam
Câu 3 (1 điểm)
|
Câu 3: Nhận xét cách đặt nhan đề văn bản và thái độ, quan điểm của người viết đối với nạn buôn người (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Nhận xét nhan đề hướng tới đối tượng nào, mục đích là gì?
Chú ý những từ ngữ bày tỏ thái độ, quan điểm của người viết
Lời giải chi tiết:
- Nhan đề: Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm là lời cảnh báo cho nhiều người nhẹ dạ, ham làm giàu nhanh; gợi ra hành trình dẫn mình vào hang cọp của nhiều người
- Quan điểm: Kiên quyết chống nạn buôn người; cảnh báo cho cả xã hội nguy cơ tiềm ẩn trong đời sống
- Thái độ: Tố cáo tội ác, lên án kẻ phạm tội (để lừa bán, ép buộc, cưỡng bức lao động; lao động cưỡng bước, nô lệ tình dục, buôn bán nội tạng, bắt cóc…)
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4: Văn bản trên cung cấp cho em những thông tin, nhận thức bổ ích gì? Hãy chia sẻ ngắn gọn điều đó (1đ) |
Phương pháp giải
Học sinh dựa vào kiến thức nền, vốn sống của bản thân
Tóm tắt những thông tin bản thân tiếp nhận được sau khi đọc văn bản
Lời giải chi tiết:
Tham khảo gợi ý: văn bản cung cấp thông tin về:
+ Về thực trạng đáng báo động của nạn buôn người trên thế giới, Việt Nam
+ Mức độ tinh vi của kẻ phạm tội
+ Khó khăn trong phòng chống…
Câu 5: (1đ)
|
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Các đối tượng sử dụng thông tin giả để dụ dỗ, tạo lòng tin, lừa nạn nhân. Nhẹ dạ với lời hứa việc nhẹ, lương cao, nhiều người vượt biên trái phép, tự nạp mình cho đường dây tội phạm không? Vì sao? (1đ) |
Phương pháp giải:
Học sinh dựa vào kiến thức nền, vốn sống của bản thân
Liên hệ với thực tế để đưa ra quan điểm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- Em đồng ý/ không đồng ý với nhận định của tác giả
- HS chú ý tìm thêm dữ liệu để bảo vệ ý kiến cá nhân
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. a. Phân tích ngắn gọn ý nghĩa tố cáo của từng bức hình b. Có thể dùng 2 bức hình trên minh họa cho nội dung nào cho văn bản Từ bẫy “việc nhẹ lương cao” đến nạp mình cho tội phạm |
Phương pháp giải:
a. Rút ra nội dung chính của từng bức hình
Từ đó đưa ra đánh giá về mức độ cảnh cáo của từng bức hình
b. Xem lại câu 4 phần đọc hiểu
Từ đó đưa ra kết luận về việc có thể sử dụng 2 bức hình để minh họa không
Lời giải chi tiết:
a. Bức hình 1: tính cảnh cáo cao (mặt nạn nhân: nhẹ dạ, hí hửng, hớn hở; âm mưu từ cần câu, ẩn dưới mặt nước là con cá mập với hàm răng sắc nhọn…)
Bức 2: ám ảnh người xem vì tính bất nhân. Hình ảnh em nhỏ ngây thơ trước âm mưu của kẻ bất nhân: chúng bắt tay nhau vì tiền
b. Có thể dùng 2 bức hình trên minh họa cho nội dung: hành vi buôn bán người ngày càng tinh vi, xảo quyệt,…
Câu 2.
|
Câu 2. (4,0 điểm) Hãy lựa chọn thể loại (văn bản thông tin/ văn bản nghị luận) để tạo lập văn bản về nạn buôn người nhằm mục đích cảnh báo cho các nạn nhân ham việc nhẹ lương cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp tại Việt Nam. Yêu cầu: đặt tiêu đề cho văn bản, phối hợp sử dụng yếu tố biểu cảm, miêu tả, thuyết minh và yếu tố phi ngôn ngữ trong văn bản |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài văn (thông tin hoặc nghị luận)
Lời giải chi tiết:
|
Hãy lựa chọn thể loại (văn bản thông tin/ văn bản nghị luận) để tạo lập văn bản về nạn buôn người nhằm mục đích cảnh báo cho các nạn nhân ham việc nhẹ lương cao, xuất khẩu lao động với chi phí thấp tại Việt Nam. |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
Đặt tiêu đề ngắn gọn khớp với nội dung, mục đích văn bản |
|
Thân bài |
2,5 |
Gồm các nội dung chính: - Thực trạng buôn người tại Việt Nam (sử dụng số liệu) - Phân tích các nguyên nhân - Cảnh báo qua nhận diện kẻ buôn người và “mồi nhử” - Đề xuất một số giải pháp khả thi Lưu ý: - Văn bản nghị luận: cần có lí lẽ, dẫn chứng… - Văn bản thông tin cần đảo bảo tính chính xác của số liệu thông tin; bộc lộ quan điểm, đảm bảo tính khách quan. |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thể hiện quan điểm cá nhân - Lên án hành động vô nhân đạo |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại (thông tin/ nghị luận) - Vận dụng linh hoạt các yếu tố hỗ trợ: biểu cảm, miêu tả… |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc ngữ liệu sau và trả lời câu hỏi kế tiếp
“NGHE LÉN” MUÔNG THÚ TRÒ CHUYỆN
(Lê My)
11/03/2023 05:34 GMT + 7
TTCT - Tất nhiên các nhà khoa học không phải nghe cá voi rù rì hay ong mật thủ thỉ để cho vui, họ còn muốn hiểu “tiếng nói” của chúng. Những khám phá mới có thể sẽ buộc con người xem xét lại mối quan hệ giữa mình với những loài khác.
Suốt hàng thế kỷ, loài người thậm chí chẳng hề biết đến sự tồn tại của những âm thanh mà tai người không nghe được - dơi líu ríu trong sóng siêu âm (nằm dưới ngưỡng nghe). Nhưng khả năng nghe của chúng ta đã cải thiện cùng với sự trên ngưỡng nghe của người) hay voi rỉ tai nhau những bí mật ở mức hạ âm (nằm phát triển vượt bậc của công nghệ. Ngày nay, thiết bị ghi âm được lắp đặt ở khắp mọi nơi từ Bắc Cực đến Amazon, biển dữ liệu thu được sẽ được được trí tuệ nhân tạo (AI) xử lý, đưa con người tiến gần hơn với mong ước muôn đời: nói chuyện với động vật.
Nâng trình “nghe lén”
Loài chuột dũi trụi lông (Heterocephalus glaber) tuy không có gì để nhìn, nhưng chúng có nhiều điều để nói. Loài gặm nhấm nhăn nhúm màu hồng này sống thành từng đàn lớn dưới lòng đất, đứng đầu là nữ hoàng, giống như nhiều loài kiến hay mối. Và chúng tương tác với nhau bằng những âm thanh phức tạp: huýt sáo, réo rắt và líu lo, gừ gừ, nấc và rít.
Khi hai chú chuột gặp nhau trong một đường hầm tối, chúng lịch sự chào nhau. “Chúng sẽ tạo ra một tiếng chít khe khẽ, và kế đến là tiếng chít chít lặp đi lặp lại”, theo Alison Barker, nhà thần kinh học tại Viện Nghiên cứu não bộ Max Planck (Đức). Đan cài trong những cuộc đàm thoại hằng ngày là vô số mẩu thông tin xã hội.
“Tiếng chào hỏi, mà tôi ngỡ rằng khá là cơ bản, hóa ra lại phức tạp vô cùng - Barker nói với The New York Times. Mỗi cá thể chuột sở hữu “giọng nói riêng. Chưa hết, mỗi đàn chuột còn có “phương ngữ” để phân biệt với đàn khác - một kiểu “di sản văn hóa” gắn với mỗi triều đại chuột chúa...
Ghi âm thôi thì chưa đủ, bởi muốn giải mã ý nghĩa của mỗi tiếng kêu, người ta cần biết được bối cảnh của nó. Ví dụ, để tìm hiểu âm thanh của loài dơi ăn quả Ai Cập, nhóm của Yossi Yovel đã sử dụng cả máy quay và micro. Sau đó, các nhà nghiên cứu đã dùng thuật toán để liên kết những âm thanh cụ thể (khoảng 15.000 tiếng kêu!) với các tương tác xã hội cụ thể đã được camera quay lại. Hóa ra, dơi tranh cãi vì thức ăn; chúng có sự phân biệt giới tính trong khi giao tiếp; chúng có tên riêng - hay đúng hơn là “tiếng gọi đặc trưng”. Như các mẹ bỉm sữa, dơi mẹ cũng đổi giọng khi nói chuyện với “em bé” của chúng.
Năm 2019, nhóm nghiên cứu tại Đại học Washington (Mỹ) đã ra mắt phần mềm DeepSqueak, sử dụng học máy để phân biệt giữa tiếng kêu trầm bổng khi các loài gặm nhấm cảm thấy dễ chịu với tiếng kêu dài và phẳng khi chúng đang bất ổn.
Những đội ngũ khác thì phát triển các hệ thống tự động nhận biết gà hoặc heo bị khó ở thông qua tiếng kêu. Còn có dự án tham vọng hơn: tìm hiểu cú pháp trong tiếng kêu của cá nhà táng và thậm chí tạo ra loại công nghệ cho phép con người… đáp lời
Minh họa _ Phillip Lay, Observer Design

Giao tiếp khác loài
Nếu việc giao tiếp người - thú thực sự xảy ra, hẳn nó sẽ không giống cách mà chàng Dar - “Chúa tể muông thú” của truyền hình thập niên 2000, ra lệnh cho động vật bằng thần giao cách cảm - mà gần hơn với bác sĩ Dolittle: chịu khó học ngôn ngữ của các loài vật.
“Chúng ta chưa có trong tay cuốn từ điển Tiếng cá nhà táng, nhưng giờ đây chúng ta đã có những nguyên liệu thô để tạo ra một thứ như thể” – Karen Bakker viết trong quyển The Sounds of Life (Âm thanh Cuộc sống), xuất bản tháng 10-2022.
Một dự án có tên viết tắt là CETI đang tập hợp các chuyên gia lớn trong lĩnh vực học máy, sinh học biển, robot, ngôn ngữ học, mật mã học... để giải mã tiếng kêu của cá nhà táng. Loài thú có vú khổng lồ sống dưới biển này phát ra các chuỗi âm thanh “click” được sắp xếp một cách có chủ ý (giống như mã Morse). Mục tiêu của CETI là giao tiếp với một con cá voi đến mức có thể trao đổi ý tưởng và kinh nghiệm vào năm 2026.
CETI, do nhà sinh vật học biển David Gruber dẫn dắt, đang đổ mọi nỗ lực xuống vùng biển ngoài khơi đảo quốc Dominica, nơi có một quần thể cá nhà táng đã được khoa học nghiên cứu kỹ lưỡng. Dự án sử dụng các trạm nghe dưới nước, máy bay không người lái, những con cá - máy mềm dẻo bơi lội giữa đàn cá voi để thu thập âm thanh và video...
“Đây sẽ là bộ dữ liệu về hành vi động vật lớn nhất từng được ghi lại” – Tom Mustill, một nhà làm phim về thiên nhiên, nói với The Guardian. Mustill từng suýt bị đè nát - hoặc được tha mạng - bởi một con cá voi lưng gù hồi năm 2015. Tháng 9-2022, ông xuất bản cuốn How to Speak Whale (Cách nói tiếng cá voi).
CETI sẽ xây dựng một mô hình mô phỏng hệ thống liên lạc của cá nhà táng, Mustill lý giải trong sách. Để kiểm tra hệ thống này, họ sẽ xây dựng các chatbot. Để đánh giá độ chính xác của mô hình, họ sẽ dự đoán lời-sắp-nói của một con cá voi đã xác định. Họ cũng phát đi những tiếng kêu để xem liệu cá voi có phản ứng như mong đợi hay không. Và bằng cách nghe lén cá voi con học nói, máy móc và cả con người sẽ có thể tự “dạy” bản thân tiếng cá voi.
Nghiên cứu về tiếng ong (bao gồm các vị trí và rung động khác nhau) cũng được giới thiệu trong cuốn sách của Bakker. Một nhóm nghiên cứu ở Đức đã tạo ra con ong-máy, tên RoboBee, và “cấy” nó vào một tổ ong. Robot có khả năng thực hiện vũ điệu lắc lư của ong mật để yêu cầu chúng ngừng di chuyển. Nó đã có thể chỉ cho lũ ong biết đường bay đến nguồn mật hoa do nhóm nghiên cứu sắp đặt (mặc dù kết quả tuyệt đỉnh này chỉ xảy ra một lần duy nhất, và họ không chắc lý do thành công hay làm thế nào để thành công lần nữa). Nhìn về tương lai, con người có thể sẽ kiểm soát loài ong ở một mức độ chưa từng có.
Vì vậy, chẳng bất ngờ khi những nghiên cứu dạng này đặt ra rất nhiều câu hỏi về triết học và đạo đức.
Loài người sẽ nói gì với động vật?
Có thể sẽ có một hệ thống “phát thanh” nhằm cảnh báo ong mật tránh xa những nguồn hoa bị ô nhiễm thuốc trừ sâu. Nhưng cũng có thể sẽ có một hệ thống ra lệnh cho chim bồ câu mang dịch bệnh đến chỗ kẻ thù.
Động vật, khi được thừa nhận khả năng ngôn ngữ phong phú - một biểu hiện của trí năng, có thể trở nên đồng đẳng với loài người, thậm chí có thể chữa lành những thương tổn lâu nay. Tuy nhiên cũng tồn tại rủi ro rằng con người sẽ tăng cường sự thống trị của mình trên Trái đất.
Nhưng Mustill có lý do để lạc quan, vì những dự án như CETI được vận hành trên các nguyên tắc open source (nguồn mở) - bất cứ ai cũng có thể sử dụng dữ liệu và công cụ của họ. “Đó là một cách vừa thúc đẩy sự hợp tác vừa cho phép sự giám sát, bởi vì một trong những biện pháp bảo vệ duy nhất chống lại sự trục lợi là tính công khai.
Mặt khác, Mustill ví von việc trò chuyện với cá voi sẽ giông giống việc các nhà truyền giáo gặp gỡ người dân bản địa. “Bên cạnh những rung cảm tốt đẹp, chúng ta vô tình chuyển giao những thứ khác nữa khi ta tiếp xúc với những thế giới từng sống tách biệt. Nếu cá nhà táng biết nói chuyện với nhau và truyền đạt những thông tin vốn định hình văn hóa và hành động của chúng, và chúng ta sẵn sàng nói chuyện với chúng, liệu chúng có sẵn sàng để được nói chuyện không?”.
Cũng với ngần ấy nỗi lo về động vật bị ngược đãi, việc chúng ta học cách giao tiếp với các loài khác dường như là một điều tốt. Khi Roger Payne ghi âm tiếng kêu của cá voi và phát hành album Songs of the Humpback Whale (Bài hát của cá voi lưng gù) năm 1970, phong trào chấm dứt ngành săn bắt cá voi thương mại đã nhận sự ủng hộ mạnh mẽ khắp thế giới.
Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, người ta gắn phụ đề cho những cảnh quay trong lò mổ. Giống như cách mạng nhân quyền, động vật có thể đấu tranh cho mình bằng cách lên tiếng. Chiếc áo bằng da có lẽ sẽ không còn sành điệu nữa, nếu những con bò có thể nói lời cuối cùng trước khi vào lò. Nhưng chúng ta liệu sẽ lắng nghe?
(https://bom.so/hxXxbS)
Câu hỏi:
Câu 1: Văn bản “Nghe lén” muông thú trò chuyện sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? (0,5đ)
Câu 2: Vì sao các nhà khoa học khao khát nghe và hiểu tiếng của muông thú (0,5đ)
Câu 3: Tác giả muốn nói điều gì với độc giả qua đoạn sau đây? Câu hỏi cuối đoạn có tác dụng gì? (0,5đ)
Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, người ta gắn phụ đề cho những cảnh quay trong lò mổ. Giống như cách mạng nhân quyền, động vật có thể đấu tranh cho mình bằng cách lên tiếng. Chiếc áo bằng da có lẽ sẽ không còn sành điệu nữa, nếu những con bò có thể nói lời cuối cùng trước khi vào lò. Nhưng chúng ta liệu sẽ lắng nghe?
Câu 4: Văn bản trên cung cấp cho em những thông tin, nhận thức bổ ích gì? Hãy chia sẻ ngắn gọn điều đó (1đ)
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Tất nhiên các nhà khoa học không phải nghe cá voi rù rì hay ong mật thủ thỉ để cho vui, họ còn muốn hiểu “tiếng nói” của chúng. Những khám phá mới có thể sẽ buộc con người xem xét lại mối quan hệ giữa mình với những loài khác không? Vì sao? (1đ)
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1. Đọc ngữ liệu sau và ghi lại ngắn gọn nội dung, cảm xúc thể hiện trong bài thơ (2đ)
Tiếng kêu cứu (Thế Thành)
Tôi đã nghe rừng đổ máu
Những gốc cây trơ màu xương, cốt
Diệp lục kia dẫu thốt kêu lên
Còn ai nghe, còn ai đến cứu rừng
Tôi đã nghe lời đại dương
Trong sâu thẳm tận cùng tuyệt vọng
Ôi loài cá chỉ còn tăm
Trong sách đỏ ngàn năm ai biết
Tôi đã nghe… những tiếng chim
Trên bầu trời xáo xác tìm nơi đậu
Cánh mòn mỏi biết về đâu
Hệ sinh thái ngày ngày đang hủy hoại
Tôi đã nghe con người nói
Vì môi trường, vì nòi giống trần gian
Những ai nghe cuộc sống, môi sinh
Tất cả đang bình chân như vại
(https://born.so/JAaQ5S)
Câu 2. (4,0 điểm)
Tự đặt tiêu đề và viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về cách ứng xử hợp lý nhất của con người với tự nhiên
Yêu cầu: sử dụng một số thông tin ở văn bản đọc và bài thơ trong bài viết của mình
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Câu 1 (0,5 điểm)
|
Câu 1: Văn bản “Nghe lén” muông thú trò chuyện sử dụng hình thức, yếu tố nào để người đọc dễ nắm bắt thông tin? (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc lại kiến thức về các yếu tố bổ trợ trong văn bản thông tin
Lời giải chi tiết:
Văn bản sử dụng nhiều số liệu, hình ảnh, tiêu đề đoạn in đậm để người đọc dễ nắm bắt thông tin
Câu 2 (0,5 điểm)
|
Câu 2: Vì sao các nhà khoa học khao khát nghe và hiểu tiếng của muông thú (0,5đ) |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và tìm kiếm thông tin
Lời giải chi tiết:
Các nhà khoa học khao khát nghe và hiểu tiếng của muông thú vì mong muốn hiểu chúng, để con người có ứng xử hợp lí
Câu 3 (0,5 điểm)
|
Câu 3: Tác giả muốn nói điều gì với độc giả qua đoạn sau đây? Câu hỏi cuối đoạn có tác dụng gì? (0,5đ) Hãy tưởng tượng một ngày nào đó, người ta gắn phụ đề cho những cảnh quay trong lò mổ. Giống như cách mạng nhân quyền, động vật có thể đấu tranh cho mình bằng cách lên tiếng. Chiếc áo bằng da có lẽ sẽ không còn sành điệu nữa, nếu những con bò có thể nói lời cuối cùng trước khi vào lò. Nhưng chúng ta liệu sẽ lắng nghe? |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức đọc hiểu
Dựa vào nội dung toàn đoạn nói riêng và nội dung toàn văn bản, phân tích tác dụng của câu hỏi tu từ
Lời giải chi tiết:
- Khi nghe và hiểu âm thanh của loài vật bị giết thịt. Chắc chắn con người sẽ thay đổi nhiều ham muốn và sở thích của mình
- Câu hỏi: Nhưng chúng ta liệu sẽ lắng nghe? Tác động vào nhận thức của người đọc, tạo nên cuộc đối thoại ngầm… khiến mỗi độc giả sẽ tự đối thoại với mình về vấn đề tác giả nêu ra trong đoạn
Câu 4 (1 điểm)
|
Câu 4: Văn bản trên cung cấp cho em những thông tin, nhận thức bổ ích gì? Hãy chia sẻ ngắn gọn điều đó (1đ) |
Phương pháp giải
Dựa vào các luận điểm của văn bản
Dựa vào kiến thức và trải nghiệm của bản thân
Lời giải chi tiết:
- HS tham khảo gợi ý:
+ Các nhà khoa học đã nghiên cứu về âm thanh của muông thú như thế nào?
+ AI góp phần vào công trình nghiên cứu nghe tiếng muôn loài vật
+ Lợi ích khi có cuộc giao tiếp khác loài…
Câu 5: (1đ)
|
Câu 5: Em có đồng ý với nhận định của tác giả: Tất nhiên các nhà khoa học không phải nghe cá voi rù rì hay ong mật thủ thỉ để cho vui, họ còn muốn hiểu “tiếng nói” của chúng. Những khám phá mới có thể sẽ buộc con người xem xét lại mối quan hệ giữa mình với những loài khác không? Vì sao? (1đ) |
Phương pháp giải:
Dựa vào lập luận của tác giả và trải nghiệm của cá nhân
Lời giải chi tiết:
- HS trả lời theo trải nghiệm cá nhân
- Chú ý tìm thêm dữ liệu để bảo vệ ý kiến cá nhân
II. VIẾT (6,0 điểm)
Câu 1 (2 điểm)
|
Câu 1. Đọc ngữ liệu sau và ghi lại ngắn gọn nội dung, cảm xúc thể hiện trong bài thơ (2đ) |
Phương pháp giải:
Đọc bài thơ, chú ý nhan đề bài thơ
Chú ý các chi tiết miêu tả nỗi đau của thiên nhiên và của chính tác giả
Rút ra thông điệp tác giả muốn gửi gắm
Lời giải chi tiết:
Bài thơ Tiếng kêu cứu của tác giả Thế Thành miêu tả nỗi đau, tiếng kêu khóc tuyệt vọng của những cánh rừng, của chính tác giả trước hiện trạng thiên nhiên bị tàn phá. Qua đó, tác giả mong muốn mọi người cùng chung tay bảo vệ môi trường
Câu 2.
|
Câu 2. (4,0 điểm) Tự đặt tiêu đề và viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về cách ứng xử hợp lý nhất của con người với tự nhiên Yêu cầu: sử dụng một số thông tin ở văn bản đọc và bài thơ trong bài viết của mình |
Phương pháp giải:
Xác định yêu cầu về hình thức, nội dung của bài văn
Dựa vào kiến thức và kĩ năng viết bài nghị luận
Lời giải chi tiết:
|
Tự đặt tiêu đề và viết bài luận thể hiện suy nghĩ của em về cách ứng xử hợp lý nhất của con người với tự nhiên Yêu cầu: sử dụng một số thông tin ở văn bản đọc và bài thơ trong bài viết của mình |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
Đặt tiêu đề ngắn gọn: hướng vào việc hiểu, bảo vệ thiên nhiên |
|
Thân bài |
2,5 |
Gồm các nội dung chính” - Vai trò của thiên nhiên đối với sự sống của con người - Nêu, phân tích hiện trạng của thiên nhiên - Đề xuất ứng xử phù hợp Lưu ý: - Văn bản nghị luận: cần có lí lẽ, dẫn chứng… - Văn bản thông tin cần đảm bảo tính chính xác của số liệu thông tin; bộc lộ quan điểm, đảm bảo tính khách quan |
|
Kết bài |
0,5 |
- Thể hiện quan điểm cá nhân - Lên án hành động vô nhân đạo |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể (thông tin/ nghị luận) - Vận dụng linh hoạt các yếu tố hỗ trợ: biểu cảm, miêu tả… |
trithuchub.com
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 9
Đề thi
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Đọc văn bản sau:
SỰ THẬT GÂY SỐC VỀ TÁI CHẾ RÁC THẢI NHỰA
Trung tâm Liêm chính khí hậu mới đây công bố báo cáo tiết lộ sự thật gây sốc về tái chế nhựa, loại vật liệu được sản xuất chủ yếu từ dầu và khí đốt, trong bối cảnh số lượng nhựa dự kiến sẽ tăng gấp ba lần trên toàn cầu vào năm 2060.
Rác thải nhựa hiện là nguồn gây ô nhiễm carbon nghiêm trọng, thúc đẩy quá trình biến đổi khí hậu của Trái đất. Ngoài ra, phần lớn rác thải nhựa trôi ra đại dương và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các sinh vật biển.
Phần lớn không thể tái chế
Theo báo cáo của Trung tâm Liêm chính khí hậu (CCI) thuộc Viện Quản trị và Phát triển bền vững Mỹ, hơn 99% nhựa được sản xuất bằng nhiên liệu hóa thạch và phần lớn chúng không thể "tái chế" theo nghĩa được xử lý và biến thành sản phẩm hoàn toàn mới. Thông tin này được lưu trong tài liệu của Cơ quan Bảo vệ môi trường của Mỹ trong ít nhất 30 năm qua.
Báo The Hill cho biết mặc dù một số địa phương và thành phố tại Mỹ đã triển khai không ít chương trình thu thập các loại nhựa nhưng chúng cũng không thể tái chế toàn bộ số rác thải nhựa mà con người thải ra. Thay vào đó, những loại nhựa không thể tái chế sẽ được đốt hoặc được đưa vào những bãi chôn lấp.
Ô nhiễm rác thải nhựa đang gia tăng với tốc độ chưa từng thấy. Ảnh: TTXVN
Về mặt lý thuyết, nhiều loại nhựa thông dụng trong đời sống hằng ngày có thể tái chế được. Nhưng chỉ có khoảng 1/10 số nhựa sản xuất từng được tái chế một lần và chỉ 1% số nhựa được tái chế hai lần. Hơn nữa, chi phí của quy trình tái sản xuất các sản phẩm từ rác thải nhựa còn cao hơn chi phí của quy trình sản xuất các sản phẩm nhựa hoàn toàn mới. "Tạo ra một sản phẩm nhựa mới sẽ rẻ hơn so với việc thu thập và tái chế hoặc tái sử dụng lại nhựa cũ. Đây là một vấn đề mang tính hệ thống" - ông Kristian Syberg, nhà nghiên cứu về ô nhiễm nhựa tại Đại học Roskilde (Đan Mạch), phân tích.
Ngoài vấn đề chi phí, chị Magdalena Klotz, nghiên cứu sinh ngành thiết kế hệ thống sinh thái tại Viện Công nghệ liên bang Thụy Sĩ (ETH) ở Zurich (Thụy Sĩ), cho biết các nhà sản xuất không thể tạo ra nhiều sản phẩm bằng nhựa tái chế nên thị trường dành cho loại nhựa này bị hạn chế. Chị Klotz và các cộng tác viên của chị chỉ ra rằng 80% số nhựa ở Thụy Sĩ được gom để tái chế thì chỉ nhiều nhất 20% trong số đó sẽ trở thành các sản phẩm nhựa tái chế.
(Trích theo Uyên Phương – Báo Tuổi Trẻ online ngày 20/02/2024)
Thực hiện các yêu cầu sau:
Câu 1. Xác định đề tài của đoạn trích trên.
Câu 2. Theo đoạn trích trên, rác thải nhựa gây ra tác hại thế nào đối với môi trường sống của chúng ta?
Câu 3. Anh/chị đánh giá như thế nào về những số liệu tái chế được thống kê qua câu văn: “Nhưng chỉ có khoảng 1/10 số nhựa sản xuất từng được tái chế một lần và chỉ 1% số nhựa được tái chế hai lần”?
Câu 4. Chỉ ra và nêu vai trò của phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn bản.
Câu 5. Qua văn bản, anh/chị hãy nêu suy nghĩ về việc “tái chế” có phải là câu trả lời cho vấn đề rác thải nhựa hiện nay không? Vì sao? (Trình bày khoảng 5-7 dòng)
II. PHẦN VIẾT
Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo đã mang đến nhiều cơ hội cũng như thách thức đối với xã hội hiện đại. Lĩnh vực này có tiềm năng thay đổi cách nghĩ và cách sống của chúng ta; đồng thời cũng phát sinh nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải đối mặt và giải quyết.
Anh/chị hãy viết một bài văn nghị luận (khoảng 600 chữ) trả lời câu hỏi: Làm thế nào để người trẻ có thể thích ứng, tồn tại và phát triển trong thời đại trí tuệ nhân tạo lên ngôi?
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định đối tượng được đề cập tới
Cách giải:
Đề tài của đoạn trích là vấn đề rác thải nhựa và thực trạng tái chế rác thải nhựa trên thế giới hiện nay.
Câu 2:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định các tác hại chính của rác thải nhựa
Cách giải:
Rác thải nhựa gây ra hai tác hại chính:
- Rác thải nhựa gây ô nhiễm carbon nghiêm trọng, góp phần thúc đẩy biến đổi khí hậu.
- Phần lớn rác thải nhựa trôi ra đại dương, gây ảnh hưởng nặng nề đến môi trường biển và sinh vật biển.
Câu 3:
Phương pháp:
Chỉ ra số liệu mà cần phân tích, đánh giá ý nghĩa và tác dụng của những số liệu đó.
Cách giải:
- Các số liệu cho thấy tỉ lệ nhựa được tái chế là vô cùng thấp, gần như không đáng kể so với lượng nhựa được sản xuất ra (1/10 và 1%).
- Điều này cho thấy việc tái chế nhựa không hiệu quả, đồng thời phản ánh mức độ báo động của vấn đề ô nhiễm rác thải nhựa hiện nay.
Câu 4:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về phương tiện phi ngôn ngữ để phân tích tác dụng
Cách giải:
- Phương tiện giao tiếp phi ngôn ngữ: Hình ảnh “Ô nhiễm rác thải nhựa đang gia tăng với tốc độ chưa từng thấy.”
- Tác dụng:
+ Giúp người đọc hình dung trực quan, sinh động về thực trạng ô nhiễm rác thải nhựa mà văn bản đang đề cập.
+ Nhấn mạnh mức độ nghiêm trọng của ô nhiễm rác thải nhựa và tác động mạnh đến nhận thức của người đọc.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Nêu quan điểm (đồng tình / không đồng tình).
- Giải thích lí do cho lựa chọn đó
- Rút ra bài học, đề xuất.
Cách giải:
Qua văn bản, có thể thấy "tái chế" không phải là câu trả lời triệt để cho vấn đề rác thải nhựa. Bởi lẽ, thực tế chỉ một phần rất nhỏ nhựa được tái chế, chi phí lại cao hơn sản xuất mới và thị trường cho sản phẩm nhựa tái chế còn hạn chế. Do đó, bên cạnh nỗ lực tái chế, chúng ta cần phải tập trung vào các giải pháp căn cơ hơn như giảm thiểu tiêu thụ nhựa dùng một lần, tăng cường sử dụng các vật liệu thân thiện môi trường, và quan trọng nhất là thay đổi nhận thức, thói quen của người tiêu dùng.
II. PHẦN VIẾT
Phương pháp:
Dàn ý:
a. Mở bài
- Giới thiệu vấn đề nghị luận và nêu quan điểm
b. Thân bài
* Giải thích
Trí tuệ nhân tạo (AI)
* Phân tích:
- Cơ hội AI mang lại
+ Mở ra nhiều ngành nghề mới, tăng năng suất lao động.
+ Hỗ trợ học tập, sáng tạo, rút ngắn quá trình tìm kiếm và xử lý thông tin.
+ Tạo điều kiện để người trẻ tiếp cận tri thức toàn cầu, không giới hạn thời gian – không gian.
- Thách thức đặt ra
+ Nguy cơ mất việc làm ở những công việc lặp lại, thiếu sáng tạo.
+ Cạnh tranh gay gắt hơn: ai không đổi mới sẽ bị thay thế.
+ Sự ỷ lại vào công nghệ làm giảm khả năng tư duy độc lập.
+ Nguy cơ lệ thuộc, mất định hướng, “đánh mất chính mình”.
* Bình luận: Đưa ra giải pháp
- Chủ động học tập và cập nhật công nghệ
- Phát triển các kỹ năng mà AI khó thay thế
- Định hướng nghề nghiệp linh hoạt
- …
c. Kết bài
Khẳng định lại vấn đề nghị luận và đưa ra thông điệp
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong thời đại hiện nay, trí tuệ nhân tạo (AI) đang phát triển với tốc độ chưa từng có, len lỏi vào mọi lĩnh vực của đời sống. Từ giáo dục, công nghiệp đến y tế, AI dần trở thành công cụ quan trọng hỗ trợ con người. Trước sự bùng nổ ấy, một câu hỏi lớn đặt ra: Làm thế nào để người trẻ có thể thích ứng, tồn tại và phát triển trong thời đại AI lên ngôi? Theo tôi, người trẻ muốn tiến xa thì phải biết làm chủ công nghệ, rèn luyện năng lực tư duy và xây dựng bản lĩnh cá nhân.
Trước hết, ta cần hiểu AI là gì? Trí tuệ nhân tạo (Artificial Intelligence) là công nghệ mô phỏng trí tuệ con người, có khả năng học hỏi, phân tích dữ liệu và đưa ra quyết định. Nếu trước đây máy móc chỉ làm những công việc lặp lại theo lập trình, thì nay AI có thể sáng tạo nội dung, viết văn, vẽ tranh, thậm chí đưa ra chiến lược và dự đoán. AI không chỉ thay đổi cách làm việc mà còn ảnh hưởng đến cách mỗi cá nhân học tập và suy nghĩ.
Sự phát triển mạnh mẽ của AI mang đến nhiều cơ hội. Một là, AI mở ra những ngành nghề mới: lập trình ứng dụng AI, phân tích dữ liệu, kỹ sư robot… Những nghề này đang trở thành xu hướng và có thu nhập cao. Hai là, AI hỗ trợ đáng kể trong học tập và sáng tạo. Chỉ cần vài từ khóa, ta có thể tìm được hàng nghìn tài liệu trong vài giây. Thay vì mất hàng giờ phân tích số liệu, AI có thể giúp xử lý nhanh và chính xác. Ba là, AI cho phép người trẻ tiếp cận tri thức toàn cầu mà không bị giới hạn bởi không gian hay thời gian. Mỗi bạn trẻ chỉ cần một chiếc laptop và kết nối Internet là đã có thể học từ các trường đại học hàng đầu thế giới, tham gia khóa học online, hoặc làm việc từ xa cho doanh nghiệp nước ngoài.
Tuy nhiên, đi cùng với cơ hội là nhiều thách thức không thể xem nhẹ. Rất nhiều công việc mang tính lặp lại như nhập liệu, hỗ trợ khách hàng, chỉnh sửa văn bản… đang dần bị thay thế bởi AI. Cạnh tranh trong thị trường lao động trở nên gay gắt hơn bao giờ hết: người nào không đổi mới sẽ tụt lại phía sau. Bên cạnh đó, sự tiện lợi của AI dễ khiến con người ỷ lại và giảm khả năng tư duy độc lập. Nhiều bạn trẻ sử dụng AI để hoàn thành bài tập thay vì học và phát triển kiến thức thật. Tệ hơn, sự phụ thuộc vào AI có thể khiến chúng ta mất phương hướng và đánh mất giá trị cá nhân. Công nghệ sinh ra để phục vụ con người, nhưng nếu sử dụng sai cách, con người lại trở thành nô lệ của công nghệ.
Vậy, người trẻ cần làm gì để thích ứng và phát triển trong thời đại AI? Trước hết, phải chủ động học tập và cập nhật công nghệ. Biết sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ thay vì phó mặc cho AI làm thay mình. Tiếp theo, người trẻ cần phát triển những kỹ năng mà AI khó có thể thay thế, như tư duy phản biện, sáng tạo, giao tiếp và cảm xúc. Đó là những năng lực chỉ con người mới có. Ngoài ra, mỗi người cần có định hướng nghề nghiệp linh hoạt: sẵn sàng thay đổi, học thêm kỹ năng mới, kết hợp AI vào công việc của mình. Điều quan trọng hơn cả là xây dựng bản lĩnh cá nhân, biết chọn lọc thông tin và giữ đạo đức khi sử dụng AI.
Tóm lại, trí tuệ nhân tạo không phải là mối đe dọa nếu chúng ta biết làm chủ nó. Người trẻ không thể đứng ngoài sự phát triển của công nghệ mà cần xem AI như một trợ thủ đắc lực để nâng cao năng lực và giá trị bản thân. Trong thời đại AI lên ngôi, điều quan trọng nhất không phải là ai giỏi công nghệ hơn, mà là ai sử dụng công nghệ thông minh hơn.
Đề thi học kì 1 Văn 11 Cánh diều - Đề số 10
Đề thi
I. Đọc hiểu
Đọc văn bản sau:
Phi hành gia Valentina Tereshkova - bóng hồng đầu tiên bay vào vũ trụ
"Con chim không thể bay chỉ bằng một cánh. Hành trình vào vũ trụ của con người không thể phát triển thêm nữa nếu không có sự tham gia tích cực của phụ nữ".
Hành trình từ cô công nhân dệt may trở thành nhà du hành vũ trụ
Valentina Tereshkova sinh ra ở ngôi làng nhỏ Maslennikovo, nằm gần thành phố Yaroslavl, Nga vào ngày 6/3/1937. Cha bà là một người lái máy kéo, còn mẹ làm việc trong một nhà máy dệt. Khi học xong, bà làm việc ở một nhà máy dệt, sau đó đi học nghề kĩ sư.
Thích nhảy dù từ khi còn trẻ, Tereshkova bắt đầu học nhảy dù tại một câu lạc bộ bay địa phương. Bà thực hiện cú nhảy đầu tiên ở tuổi 22 vào tháng 5/1959.
Cùng lúc ấy ở Nga, sau chuyến bay của Yuri Gagarin vào năm 1961, Sergey Korolyov, kĩ sư trưởng của chương trình vũ trụ Liên Xô, nghĩ tới việc đưa một phụ nữ lên vũ trụ. Với niềm đam mê được khám phá bầu trời, Valentina Tereshkova nhanh chóng có tên trong danh sách gồm 58 cô gái trẻ đầu tiên đăng ký tham gia chương trình nghiên cứu không gian vũ trụ của Liên Xô.
[…] Rốt cuộc, Valentina Tereshkova đã vượt qua hơn 400 ứng cử viên để trở thành người thực hiện chuyến bay lịch sử trên tàu vũ trụ Vostok 6 vào ngày 16/6/1963. Vào thời điểm được chọn làm phi hành gia, bà vẫn đang làm công nhân dệt may ở một địa phương […]
Chuyến bay lịch sử của “Chim mòng biển”
Sau khi tận mắt được chứng kiến buổi phóng của sứ mệnh Vostok-5 tại Sân bay vũ trụ Baikonur vào ngày 14/6/1963, Tereshkova bước vào giai đoạn hoàn tất việc chuẩn bị cho chuyến bay của chính mình.
Sáng 16/6/1963, Tereshkova cùng với Solovyova - phi hành gia dự bị của bà, đều mặc đồ du hành vũ trụ rồi được đưa đến bệ phóng bằng xe buýt.
Sau khi hoàn thành việc kiểm tra hệ thống liên lạc và hỗ trợ sự sống, Tereshkova tiến vào bên trong tàu vũ trụ, cố định vị trí. Trước lúc con tàu cất cánh, nhiều người vẫn còn nhớ những cảm xúc mãnh liệt của Tereshkova: "Hỡi bầu trời, hãy ngả mũ!".
Sau 2 giờ đếm ngược, Vostok-6 cất cánh mà không gặp bất kỳ sự cố nào. Sau vài giờ, Tereshkova đã liên lạc được với nhà du hành Bykovsky thuộc sứ mệnh Vostok-5. Đây là lần thứ 2 trong lịch sử hai tàu vũ trụ có người lái ở trong không gian cùng một lúc. Với ký hiệu cuộc gọi vô tuyến là "Chaika" (chim mòng biển), Tereshkova đã trở thành người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ khi bà 26 tuổi.
Trong gần 6 thập kỷ kể từ khi Tereshkova lần đầu tiên mạo hiểm bước vào vũ trụ, đã có thêm 64 phi hành gia nữ tiếp bước bà, như một lời khẳng định cho tầm quan trọng và vị trí của "phái đẹp". Cho đến nay, phụ nữ đã chiếm hơn 10% tổng số các phi hành gia vũ trụ.
(Theohttps://dantri.com.vn/khoa-hoc-cong-nghe/phi-hanh-gia-valentina-tereshkova-bong-hong-dau-tien-bay-vao-vu-tru-20230308051546629.htm)
Thực hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 5:
Câu 1. Nêu thông tin chính mà văn bản đề cập đến.
Câu 2. Chỉ ra các yếu tố hình thức của văn bản thông tin được thể hiện qua văn bản.
Câu 3. Nhận xét hiệu quả của cách tổ chức thông tin trong văn bản.
Câu 4. Phân tích mối liên hệ giữa các phần trong việc thể hiện thông tin chính của văn bản.
Câu 5. Viết đoạn văn (khoảng 150 chữ) phân tích ý nghĩa của sự kiện “Valentina Tereshkova - bóng hồng đầu tiên bay vào vũ trụ” đối với ngành khoa học vũ trụ nói riêng và nhân loại nói chung?
II. Viết
Anh chị hãy viết một bài thuyết minh giới thiệu về một số phẩm chất là thế mạnh của các bạn trẻ hiện nay.
Đáp án
I. Đọc hiểu
Câu 1:
Phương pháp:
Đọc kĩ văn bản để xác định thông tin chính
Cách giải:
Văn bản đề cập đến hành trình trở thành nữ phi hành gia đầu tiên trên thế giới của Valentina Tereshkova.
Câu 2:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các đặc điểm hình thức của văn bản nghị luận để xác định
Cách giải:
- Nhan đề "Phi hành gia Valentina Tereshkova - bóng hồng đầu tiên bay vào vũ trụ": nêu lên đối tượng và sự kiện chính.
- Sapo (đoạn mở đầu): Trích dẫn câu nói của Tereshkova, khái quát tầm quan trọng của phụ nữ trong hành trình khám phá vũ trụ.
- Đề mục: "Hành trình từ cô công nhân dệt may trở thành nhà du hành vũ trụ" và "Chuyến bay lịch sử của Chim mòng biển": giúp tổ chức thông tin theo các chủ đề nhỏ, mạch lạc.
Câu 3:
Phương pháp:
Vận dụng kiến thức về các cách tổ chức thông tin
Cách giải:
- Văn bản tổ chức thông tin theo trình tự thời gian.
- Hiệu quả của cách tổ chức thông tin này:
+ Cho người đọc nắm được đặc điểm về hành trình cuộc đời và hành trình bay vào vũ trụ của Valentina Tereshkova: Từ cô công nhân trở thành một nhà du hành vũ trụ; từ khi bà chuẩn bị cho chuyến bay vào vũ trụ đến khi hoàn thành chuyến bay.
+ Cho chúng ta biết được một số thông tin về lịch sử bay vào vũ trụ của nữ giới kể từ lần đầu tiên của Valentina Tereshkova.
Câu 4:
Phương pháp:
Căn cứ vào nội dung văn bản để chỉ ra mối liên hệ giữa các phần trong việc thể hiện thông tin chính
Cách giải:
- Các phần trong văn bản có mối quan hệ chặt chẽ với nhau:
+ Phần sa-pô khái quát nội dung chính của văn bản,
+ phần hai thông tin về cuộc đời của Valentina Tereshkova,
+ phần ba thông tin về chuyến bay vào vũ trụ của Valentina Tereshkova
+ phần bốn là phần kết luận về số lượng những chuyến bay vào vũ trụ của nữ giới.
→ Cả bốn phần đều tập trung làm sáng tỏ thông tin chính của văn bản: nói về người phụ nữ đầu tiên bay vào vũ trụ.
Câu 5:
Phương pháp:
Gợi ý:
- Đối với ngành khoa học vũ trụ, những ghi chép về chuyến bay của bà đã đem lại những thông tin mới về vũ trụ, đưa hành trình khám phá vũ trụ lên những bước tiến mới; là động lực thúc đẩy ngành khoa học vũ trụ phát triển.
- Đối với nhân loại: Góp phần đẩy mạnh sự bình đẳng giới trong xã hội, thúc đẩy vai trò của nữ giới trong ngành khoa học vũ trụ nói riêng và các ngành khoa học nói chúng; giáo dục về sức mạnh của lòng đam mê và sự quyết tâm của con người,…
Cách giải:
Chuyến bay của Valentina Tereshkova năm 1963 không chỉ là một cột mốc cá nhân mà còn mang ý nghĩa to lớn đối với ngành khoa học vũ trụ và toàn nhân loại. Về mặt khoa học, sự kiện này chứng minh khả năng thích nghi và đóng góp của phụ nữ trong môi trường vũ trụ khắc nghiệt, mở ra một hướng phát triển mới cho các sứ mệnh không gian có sự tham gia của cả hai giới. Đối với nhân loại, Tereshkova đã trở thành biểu tượng cho sự bứt phá giới hạn, phá vỡ định kiến về vai trò của phụ nữ trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Hành trình từ một cô công nhân dệt may trở thành phi hành gia của bà là minh chứng hùng hồn cho sức mạnh của ước mơ và lòng quyết tâm, truyền cảm hứng cho hàng triệu người, đặc biệt là phụ nữ trên toàn thế giới, dám theo đuổi đam mê và khẳng định giá trị của bản thân. Sự kiện này, vì thế, đã vượt ra ngoài khuôn khổ của một thành tựu khoa học đơn thuần, trở thành một câu chuyện cổ vũ tinh thần bình đẳng và khát vọng chinh phục của con người.
II. Viết
Phương pháp:
1. Mở bài
Dẫn dắt và giới thiệu về vẻ đẹp phẩm chất là thế mạnh của các bạn trẻ hiện nay.
2. Thân bài
* Nêu một số phẩm chất của các bạn trẻ hiện nay:
+ Tinh thần sáng tạo và đổi mới: Không ngừng tìm tòi, ứng dụng công nghệ, tạo ra những giá trị mới.
+ Tính độc lập và tư duy phản biện: Dám nghĩ, dám làm, dám lên tiếng và bảo vệ chính kiến.
+ Khả năng thích nghi và hội nhập nhanh: Linh hoạt trước sự thay đổi, tự tin hội nhập quốc tế.
+ Trách nhiệm xã hội và lòng nhân ái: Quan tâm đến cộng đồng, môi trường và các vấn đề xã hội.
* Phân tích các phẩm chất ấy dựa trên các ví dụ, dẫn chứng cụ thể trong đời sống hằng ngày, trong học tập, lao động
- Trong học tập, nghiên cứu:
+ Sinh viên tham gia các cuộc thi KHKT trong nước và quốc tế, sáng chế robot, ứng dụng AI.
+ Các bạn trẻ khởi nghiệp (start-up) với những mô hình kinh doanh sáng tạo.
- Trong lao động, sản xuất:
+ Những kỹ sư, lập trình viên trẻ tạo ra sản phẩm công nghệ "Make in Vietnam".
+ Nông dân trẻ ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất nông nghiệp.
- Trong đời sống xã hội:
+ Hình ảnh các tình nguyện viên áo xanh trong đại dịch COVID-19, trong các chiến dịch Mùa hè xanh.
+ Phong trào bảo vệ môi trường, nói không với rác thải nhựa do giới trẻ khởi xướng.
* Phân tích, lí giải nguồn gốc của các phẩm chất đáng quý ấy
- Ảnh hưởng từ truyền thống dân tộc: Tinh thần hiếu học, cần cù, yêu nước được kế thừa và phát huy trong bối cảnh mới.
- Tác động của thời đại công nghệ 4.0: Internet và mạng xã hội mở ra cơ hội tiếp cận tri thức toàn cầu, hình thành tư duy mở.
- Sự giáo dục và định hướng từ gia đình, nhà trường: Chú trọng phát triển toàn diện, khuyến khích sự sáng tạo và tư duy độc lập.
* Phát biểu suy nghĩ, cảm nhận về những phẩm chất của các bạn trẻ hiện nay
- Đây là những phẩm chất đáng quý, là "nguyên khí" của quốc gia trong kỷ nguyên số.
- Tạo nên một thế hệ trẻ năng động, tự tin, không ngại thách thức, mang trong mình khát vọng cống hiến và kiến tạo.
3. Kết bài
- Khẳng định lại ý nghĩa to lớn của những phẩm chất tốt đẹp nơi giới trẻ.
- Nhấn mạnh vai trò của họ trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước
Cách giải:
Bài viết tham khảo:
Trong dòng chảy bất tận của thời gian, mỗi thế hệ đều mang trong mình một sứ mệnh riêng, một vẻ đẹp riêng. Và thế hệ trẻ hôm nay, những chủ nhân tương lai của đất nước, đang từng bước khẳng định mình bằng một hành trang vô cùng quý giá: những phẩm chất tốt đẹp và nổi bật, vừa kế thừa tinh hoa truyền thống, vừa mang hơi thở của thời đại mới. Họ không chỉ là niềm hy vọng, mà còn là lực lượng tiên phong, đang kiến tạo nên một diện mạo mới cho dân tộc Việt Nam.
Bước sang thế kỷ XXI, giới trẻ Việt Nam đã phát triển và tỏa sáng với nhiều phẩm chất đáng quý. Đầu tiên phải kể đến là tinh thần sáng tạo và đổi mới không ngừng. Không bằng lòng với những gì sẵn có, họ luôn khao khát tìm tòi, học hỏi và ứng dụng công nghệ để tạo ra những giá trị mới. Tiếp đó là tính độc lập và tư duy phản biện. Họ dám nghĩ, dám làm, dám lên tiếng trước những bất công và bảo vệ quan điểm cá nhân một cách có lý lẽ. Trong một thế giới phẳng đầy biến động, khả năng thích nghi và hội nhập nhanh chóng chính là chìa khóa giúp họ không bị tụt lại phía sau. Và trên hết, trách nhiệm xã hội và lòng nhân ái luôn là ngọn lửa ấm nóng trong trái tim tuổi trẻ, thể hiện qua sự quan tâm sâu sắc đến cộng đồng và môi trường.
Những phẩm chất ấy không còn là khái niệm trừu tượng, mà đang được chứng minh sinh động qua từng hành động cụ thể. Trong lĩnh vực học tập và nghiên cứu, hình ảnh những học sinh, sinh viên đoạt giải cao tại các kỳ thi Olympic quốc tế, hay những nhà sáng chế trẻ với các dự án robot, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) phục vụ đời sống, khiến chúng ta không khỏi tự hào. Phong trào khởi nghiệp (start-up) với những mô hình kinh doanh sáng tạo, táo bạo do các bạn trẻ lèo lái đã và đang góp phần thay đổi bộ mặt kinh tế. Trong lao động và sản xuất, thế hệ kỹ sư, lập trình viên trẻ tuổi đang ngày đêm viết nên những dòng code cho các sản phẩm công nghệ "Make in Vietnam", khẳng định vị thế của Việt Nam trên bản đồ công nghệ thế giới. Ở những cánh đồng, những "nông dân áo trắng" ứng dụng công nghệ cao, IoT vào sản xuất nông nghiệp sạch và bền vững. Đặc biệt, trong đời sống xã hội, hình ảnh những chiếc áo xanh tình nguyện xông pha nơi tuyến đầu chống dịch COVID-19, hay nhiệt huyết trong các chiến dịch Mùa hè xanh đã trở thành biểu tượng đẹp về lòng nhân ái và trách nhiệm. Họ còn là những người tiên phong trong các phong trào bảo vệ môi trường, nói không với rác thải nhựa, lan tỏa lối sống xanh đến toàn cộng đồng.
Vậy đâu là nguồn cội hun đúc nên những phẩm chất đáng trân quý ấy? Trước hết, đó là sự kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc như hiếu học, cần cù, yêu nước, thương nòi, nhưng được thể hiện bằng một hình thức mới, phù hợp với thời đại. Thứ hai, sự bùng nổ của cuộc Cách mạng Công nghiệp 4.0 đã mở ra một chân trời tri thức rộng lớn. Internet và mạng xã hội trở thành công cụ đắc lực, giúp giới trẻ có cơ hội tiếp cận với tinh hoa của nhân loại, từ đó hình thành tư duy cởi mở và khả năng hội nhập. Và không thể không kể đến sự giáo dục đúng đắn từ gia đình và nhà trường, ngày càng chú trọng phát triển năng lực cá nhân, khuyến khích tư duy phản biện và sáng tạo thay vì lối học thụ động.
Có thể nói, những phẩm chất của giới trẻ hôm nay khiến chúng ta thêm tin tưởng và hy vọng. Họ không chỉ là những người thừa kế, mà còn là những kiến trúc sư đang kiến tạo nên một Việt Nam mới - năng động, sáng tạo và giàu lòng nhân ái. Sự năng động, bản lĩnh và khát khao cống hiến của họ chính là "nguyên khí" quốc gia trong kỷ nguyên số, là nguồn lực nội sinh mạnh mẽ nhất để đất nước phát triển bền vững. Họ mang trong mình một khát vọng vươn lên, không ngại dấn thân, không sợ thách thức, và luôn hướng đến những giá trị nhân văn, tốt đẹp.
Tóm lại, những phẩm chất tốt đẹp nơi giới trẻ không chỉ là thế mạnh của riêng họ, mà còn là tài sản vô giá của cả dân tộc. Chính họ sẽ là những người chèo lái con thuyền đất nước vượt qua mọi thách thức, hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành một quốc gia hùng cường và thịnh vượng. Vai trò và sứ mệnh của thế hệ trẻ trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước là không thể phủ nhận.
Công cụ tra cứu bỏ túi cho ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11
Tra cứu nhanh công thức, bảng biểu và phương pháp giải miễn phí 24/7
Tổng hợp công thức trọng tâm từ lớp 6 đến 12 chuẩn SGK mới GDPT 2018.
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, cuối kỳ các môn có lời giải chi tiết.
Công thức chuẩn, dấu hiệu nhận biết (Signal words) & chia động từ tự động.
Đánh giá độ hữu ích của lời giải
Ý kiến của em giúp Tri Thức Hub nâng cao chất lượng bài giảng
Lời giải bài Đề thi học kì 1 Văn 11 có giúp em hiểu rõ phương pháp và tự làm được bài tập không?
Luyện trắc nghiệm ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Học đi đôi với hành! Làm ngay các bộ đề trắc nghiệm chấm điểm tức thì, có đáp án chi tiết giúp ghi nhớ kiến thức sâu và chuẩn bị tốt cho các bài kiểm tra.
Bài học cùng chuyên đề: Đề thi học kì 1 lớp 11 - Cánh diều
Đề ôn luyện trắc nghiệm liên quan
Trắc nghiệm củng cố: Đề thi học kì 1 Văn 11
Bộ câu hỏi trắc nghiệm rèn luyện tư duy và ghi nhớ kiến thức cốt lõi.
Kho đề thi & Kiểm tra định kỳ Lớp 11
Tổng hợp đề thi giữa kỳ, học kỳ và đề ôn luyện trắc nghiệm trực tuyến miễn phí.
Luyện đề thi Giữa kì & Học kì ĐETHI,ĐEKIEMTRA Lớp 11 Lớp LOP11
Sau khi học xong "Đề thi học kì 1 Văn 11- Cánh diều", bạn có thể thử sức ngay với kho đề kiểm tra 15 phút, 1 tiết và đề thi học kì chuẩn phân phối chương trình Kết Nối Tri Thức. Hỗ trợ tải trọn bộ PDF đề bài kèm Lời giải chi tiết trên App Tri Thức Hub!
Học tập & ôn luyện trên ứng dụng Tri Thức Hub
Tải ứng dụng Tri Thức Hub trên điện thoại hoặc máy tính bảng (hỗ trợ Android & iOS) để làm bài kiểm tra, luyện tập và lưu tiến độ học tập!
