Đề thi giữa kì 1 Văn 6 - Kết nối tri thức
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 1
Đề thi
Phần I: ĐỌC – HIỂU (3 điểm)
Đọc đoạn văn sau và trả lời các câu hỏi:
Mình về với Bác đường xuôi,
Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người
Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời,
Áo nâu, túi vải đẹp tươi lạ thường!
Nhớ Người những sáng tinh sương,
Ung dung yên ngựa trên đường suối reo.
Nhớ chân Người bước lên đèo,
Người đi rừng núi trông theo bóng Người…
(Tố Hữu, Việt Bắc, theo https://www.thivien.net/)
Câu 1 (1 điểm): Khoanh tròn vào chữ cái đứng đầu đáp án đúng cho mỗi câu hỏi sau:
1. Đoạn thơ được viết theo thể thơ nào?
A. Lục bát
B. Lục bát biến thể
C. Thơ tự do
D. Thơ tám chữ
2. Các từ Bác, Người, Ông Cụ trong đoạn thơ dùng để chỉ ai?
A. Tác giả
B. Đồng bào Việt Bắc
C. Chủ tịch Hồ Chí Minh
D. Chỉ các đối tượng khác nhau
3. Từ nào sau đây là từ láy?
A. Sáng ngời
B. Rừng núi
C. Đẹp tươi
D. Ung dung
4. Đoạn thơ trên thể hiện tình cảm của ai đối với ai?
A. Tình cảm của đồng bào Việt Bắc đối với Bác Hồ, với cách mạng
B. Tình cảm của đồng bào Việt Bắc đối với tác giả
C. Tình cảm của Bác Hồ đối với nhân dân
D. Tình cảm của Bác Hồ đối với tác giả
Câu 2 (0,5 điểm): Chỉ ra các tiếng mang vần trong hai câu thơ:
Mình về với Bác đường xuôi,
Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người.
Câu 3 (0,5 điểm): Hình ảnh Bác Hồ hiện lên trong đoạn thơ có đặc điểm gì nổi bật?
Câu 4 (1 điểm): Tìm và nêu tác dụng của một biện pháp tu từ được sử dụng trong đoạn thơ trên.
Phần II: TẬP LÀM VĂN (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm): Viết đoạn văn nêu cảm nhận về một nhân vật đã học, trong đó có sử dụng 2 từ láy, 2 từ ghép
Câu 2 (5 điểm): Cảm nhận của em về đoạn thơ sau:
“Nhưng còn cần cho trẻ
Tình yêu và lời ru
Thế nên mẹ sinh ra
Để bế bồng, chăm sóc
Mẹ mang về tiếng hát
Từ cái bống, cái bang
Từ cái hoa rất thơm
Từ cánh cò rất trắng
Từ vị gừng rất đắng
Từ vết lấm chưa khô
Từ đầu nguồn cơn mưa
Từ bãi sông cát vắng…”
(Xuân Quỳnh, Chuyện cổ tích về loài người)
Đáp án
Phần I:
Câu 1.1.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ, chú ý số chữ, số dòng của đoạn thơ
Lời giải chi tiết:
Đoạn thơ được viết theo thể thơ lục bát
=> Đáp án: A
Câu 1.2.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ
Lời giải chi tiết:
Các từ Bác, Người, Ông Cụ trong đoạn thơ dùng để chỉ Chủ tịch Hồ Chí Minh
=> Đáp án: C
Câu 1.3.
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về từ láy
Lời giải chi tiết:
Từ “ung dung” là từ láy
=> Đáp án: D
Câu 1.4.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ
Lời giải chi tiết:
Đoạn thơ trên thể hiện tình cảm của đồng bào Việt Bắc đối với Bác Hồ, với cách mạng
=> Đáp án: A
Câu 2.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn thơ, chỉ ra các tiếng có cùng vần
Lời giải chi tiết:
Các tiếng mang vần trong hai câu thơ đầu: xuôi - nguôi
Câu 3.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh Bác Hồ trong đoạn thơ: Là một Ông Cụ quắc thước, tinh anh, giản dị, có phong thái ung dung, lạc quan
Câu 4.
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và chỉ ra một biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Có nhiều biện pháp tu từ, có thể chỉ ra một trong các biện pháp sau:
- Điệp ngữ Nhớ để nhấn mạnh và khẳng định tình cảm yêu mến của đồng bào Việt Bắc đối với Bác Hồ
- Điệp ngữ Người để duy trì đối tượng biểu cảm trong đoạn thơ
- Hoán dụ Việt Bắc không nguôi nhớ Người để diễn tả tình cảm nhớ thương, quyến luyến của đồng bào Việt Bắc dành cho Bác
- Hoán dụ rừng núi trông theo bóng Người để diễn tả sự yêu quý, lưu luyến, không nỡ xa Bác của đồng bào Việt Bắc
Phần II (7 điểm)
Câu 1.
Phương pháp giải:
Xác định đề bào: cảm nghĩ về một nhân vật
Lựa chọn một nhân vật đã học mà em yêu thích
Chú ý yêu cầu phụ: 2 từ láy, 2 từ ghép
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo:
Nhân vật Dế Mèn là nhân vật mà nhà văn Tô Hoài tưởng tượng ra. Và thông qua nhân vật này, nhà văn đã gửi đến cho chúng ta những bài học bổ ích. Trong đoạn trích Bài học đường đời đầu tiên, Dế Mèn là một chàng dế thanh niên mới lớn, thông minh, cường tráng, khỏe mạnh, đẹp đẽ. Trong cái thế giới nhỏ bé ấy, chú Dế Mèn thực sự tự mãn với khả năng của mình. Và để vẽ lên chân dung một chú Dế oai phong, lẫm liệt, nhà văn Tô Hoài không tiếc lời khi mô tả cái càng khỏe khoắn, bộ răng trên miệng, bộ vuốt ở chân… tất cả đều toát lên vẻ đẹp, sức hấp dẫn của một chú Dế Mèn mới lớn. Vì một lúc bốc đồng, xốc nổi, Dế Mèn đã gây ra cái chết thảm thương cho Dế Choắt. Sau khi chôn cất Dế Choắt, Mèn đứng lặng rất lâu và nghĩ về bài học, nghĩ về những gì mà mình đã gây ra cho mọi nguời, Dế Mèn đã dần nhận ra những sai lầm của mình… Sau bài học đầu đời đến với mình ấy, Dế Mèn đã thấm thía nhiều bài học cho mình. Như vậy, mượn câu chuyện của chú Dế Mèn, tác giả Tô Hoài muốn nói tới câu chuyện của con người, đó là sự khiêm tốn, nhường nhịn, không được kiêu ngạo như chú Dế Mèn. Nhưng khi gây ra lỗi lầm thì phải biết phục thiện, phải yêu thương cuộc sống, yêu thương những người xung quanh như chú Dế Mèn trong đoạn trích.
Chú thích:
- Từ ghép: nhân vật, bài học, thanh niên, thông minh…
- Từ láy: đẹp đẽ, khỏe khoắn, thấm thía…
Câu 2.
Phương pháp giải:
Nêu cảm nhận của bản thân em
Lời giải chi tiết:
Dàn ý tham khảo:
1. Mở bài
- Giới thiệu về nhà thơ Xuân Quỳnh với những trang thơ rất nhân hậu, âu yếm dành cho thiếu nhi.
- Giới thiệu bài thơ Chuyện cổ tích về loài người của Xuân Quỳnh, khái quát nội dung, nghệ thuật và trích dẫn đoạn thơ.
2. Thân bài
a. Cảm nhận về nội dung của đoạn thơ
- Trên Trái Đất, những đứa trẻ sinh ra trước tiên; để cho trẻ em được vui chơi, được yêu thương… nên mới sinh ra bầu trời, sông biển, cỏ cây, hoa lá, ông bà…
- Đoạn thơ đã dần tiếp nối mạch thơ ấy: để cho trẻ có tình yêu và lời ru nên mẹ được sinh ra.
- Mẹ mang đến cho trẻ lời ru bất tận được mang về từ mọi nơi: cái bống cái bang, cái hoa, cánh cò, vị gừng, vết lấm chưa khô, bờ sông bãi vắng…
=> Lời ru của mẹ thấm những nhọc nhằn, đắng cay bởi mẹ nuôi con bao vất vả khó nhọc. Nhưng lời ru của mẹ cũng chứa chan hạnh phúc, niềm vui (cái hoa rất thơm, cánh cò rất trắng).
=> Con sinh ra được hưởng tất cả những điều tốt đẹp, những tình cảm yêu thương nhất; cả thế giới là để dành cho con trong đó có mẹ.
b. Cảm nhận về nghệ thuật
- Cách lí giải tường tận nguồn gốc vạn vật tưởng như phi lí của nhà thơ rất phù hợp với cái nhìn ngây thơ, non nớt của trẻ nhỏ
- Điệp ngữ “từ” và những hình ảnh thơ phong phú, sinh động đã gợi dậy hình ảnh thế giới qua mắt trẻ nhỏ rất xinh xắn, ngây thơ đồng thời thể hiện được tình yêu thương bao la của mẹ (muốn mang cả thế giới đến cho con), lột tả được những nhọc nhằn, vất vả mà mẹ đã trải qua để nuôi dạy con.
- Thể thơ năm chữ phù hợp với nội dung kể chuyện cho thiếu nhi
3. Kết bài
- Giá trị nội dung và nghệ thuật hài hòa với nhau đã tạo nên những giá trị đậm tính nhân văn và nhân đạo cho tác phẩm
- Cả nội dung và nghệ thuật của đoạn thơ đều đã hướng đến thể hiện tình yêu thương bao la của mẹ dành cho con
- Khẳng định đóng góp của nhà thơ Xuân Quỳnh khi viết thơ cho thiếu nhi
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 2
Đề thi
Phần I: ĐỌC - HIỂU (4 điểm)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu:
CÁ CHÉP VÀ CON CUA
Cá chép con dạo chơi trong hồ nước. Lúc đi ngang nhà cua, thấy cua đang nằm, vẻ mặt rất đau đớn, cá chép bèn bơi lại gần và hỏi:
- Bạn cua ơi, bạn làm sao thế?
Cua trả lời:
- Tớ đang lột xác bạn ạ.
- Ôi, chắc là bạn đau lắm. Nhưng tại sao bạn lại phải làm như thế ?
- Họ hàng nhà tớ ai cũng phải lột xác thì mới lớn lên và trưởng thành được, dù rất đau đớn cá chép con ạ.
- À, bây giờ thì tớ đã hiểu.
(Những mẩu chuyện thiếu nhi chọn lọc - NXB Kim Đồng, 2009)
Câu 1 (2 điểm): Khoanh tròn vào đáp án đúng trong các câu hỏi sau:
1. Văn bản trên được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ ba
C. Ngôi thứ nhất số nhiều
D. Ngôi kể thay đổi linh hoạt
2. Các nhân vật xuất hiện trong văn bản là?
A. Thỏ và rùa
B. Thỏ và ếch
C. Cáo và cua
D. Cá chép con và cua
3. Văn bản trên sử dụng chủ yếu biện pháp tu từ nghệ thuật nào?
A. So sánh
B. Ẩn dụ
C. Nhân hóa
D. Hoán dụ
4. Vì sao họ hàng nhà cua phải lột xác dù rất đau đớn?
A. Vì phải lột xác thì mới lớn lên và trưởng thành được
B. Vì lột xác xong sẽ có bộ vỏ có màu sắc rất đẹp
C. Vì càng lột xác thì vỏ sẽ càng cứng hơn
D. Vì để ngụy trang với các loài vật to lớn hơn
Câu 2 (1 điểm): Tìm trong văn bản lời của người kể chuyện và lời nhân vật.
Câu 3 (1 điểm): Từ câu chuyện trên, em nhận được thông điệp nào? Trình bày bằng 2-3 câu văn.
Phần II: TẠO LẬP VĂN BẢN (6 điểm)
Viết một đoạn văn kể lại một trải nghiệm đáng nhớ của em.
Đáp án
Phần I:
Câu 1.1:
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý
Lời giải chi tiết:
Văn bản trên được kể theo ngôi thứ ba
=> Đáp án: B
Câu 1.2:
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý các nhân vật xuất hiện
Lời giải chi tiết:
Các nhân vật trong văn bản là cá chép con và cua
=> Đáp án: D
Câu 1.3:
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và xác định biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Văn bản sử dụng biện pháp tu từ nhân hóa là chủ yếu có tác dụng làm cho câu chuyện trở nên sinh động, hấp dẫn và có ý nghĩa sâu sắc
=> Đáp án: C
Câu 1.4:
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý lời của nhân vật cua
Lời giải chi tiết:
Họ hàng nhà cua phải lột xác dù rất đau đớn vì phải lột xác thì mới lớn lên và trưởng thành được
=> Đáp án: A
Câu 2:
Phương pháp giải:
Đọc và xác định lời kể của người kể chuyện và lời kể của nhân vật
Lời giải chi tiết:
- Lời người kể chuyện: Cá chép con dạo chơi trong hồ nước. Lúc đi ngang nhà cua, thấy cua đang nằm, vẻ mặt rất đau đớn, cá chép bèn bơi lại gần và hỏi, cua trả lời.
- Lời nhân vật: Bạn cua ơi, bạn làm sao thế? Tớ đang lột xác bạn ạ. Ôi, chắc là bạn đau lắm. Nhưng tại sao bạn lại phải làm như thế? Họ hàng nhà tớ ai cũng phải lột xác thì mới lớn lên và trưởng thành được, dù rất đau đớn cá chép con ạ. À, bây giờ thì tớ đã hiểu.
Câu 3:
Phương pháp giải:
Từ nội dung văn bản rút ra thông điệp
Lời giải chi tiết:
Thông điệp:
- Con người cần đối diện với khó khăn để trưởng thành và đạt được thành công trong cuộc sống.
- Con người muốn trưởng thành và đạt được thành công trong cuộc sống cần trải qua những chông gai, thử thách.
Phần II:
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của bản thân
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo:
Trải nghiệm là những món quà quý giá trong cuộc đời mỗi người, nó giống như những người thầy dạy dỗ chúng ta, giúp mỗi người có thêm bài học và kinh nghiệm trên đường đời. Em cũng có một trải nghiệm mà có lẽ suốt cuộc đời này sẽ không bao giờ quên. Năm lớp Năm em cùng các bạn trong xóm nhân buổi học về sớm đã rủ nhau đi tắm biển. Trong nhóm 4 bạn thì có một bạn bị sóng cuốn ra xa, lúc đó dường như đầu óc em quay cuồng không còn biết điều gì khi chứng kiến bạn mình như thế. May mắn hai bạn còn lại của nhóm em bình tĩnh hô hoán người đến cứu giúp và có một chú tốt bụng đã cứu được bạn em lên bờ. Lần đó bạn em mặt tái mét và chuyện đó khiến em sợ đến tận bây giờ. Vì cha mẹ đã nhiều lần giáo dục em về sự nguy hiểm khi đi tắm biển nô nghịch mà không có người lớn. Sau tai nạn này, em cố cẩn thận hơn khi làm bất cứ việc gì, và thầm cảm ơn ông trời vì đã được bình an. Với em, không gì quý giá hơn mạng sống.
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 3
Đề thi
Phần I: ĐỌC - HIỂU (4 điểm)
Đọc văn bản sau:
SỰ TÍCH CÂY NGÔ
Năm ấy, trời hạn hán. Cây cối chết khô vì thiếu nước, bản làng xơ xác vì đói khát. Nhiều người phải bỏ bản ra đi tìm nơi ở mới. Ở nhà nọ chỉ có hai mẹ con. Người mẹ ốm đau liên miên và cậu con trai lên 7 tuổi. Cậu bé tên là Aưm, có nước da đen nhẫy và mái tóc vàng hoe. Tuy còn nhỏ nhưng Aưm đã trở thành chỗ dựa của mẹ. Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ. Nhưng trời ngày càng hạn hán hơn. Có những lần cậu đi cả ngày mà vẫn không tìm được thứ gì để ăn. Một hôm, vừa đói vừa mệt cậu thiếp đi bên bờ suối. Trong mơ, cậu nhìn thấy một con chim cắp quả gì to bằng bắp tay, phía trên có chùm râu vàng như mái tóc của cậu. Con chim đặt quả lạ vào tay Aưm rồi vỗ cánh bay đi. Tỉnh dậy Aưm thấy quả lạ vẫn ở trên tay. Ngạc nhiên, Aưm lần bóc các lớp vỏ thì thấy phía trong hiện ra những hạt màu vàng nhạt, xếp thành hàng đều tăm tắp. Aưm tỉa một hạt bỏ vào miệng nhai thử thì thấy có vị ngọt, bùi. Mừng quá, Aưm cầm quả lạ chạy một mạch về nhà.
Mẹ của cậu vẫn nằm thiêm thiếp trên giường. Thương mẹ mấy ngày nay đã đói lả, Aưm vội tỉa những hạt lạ đó mang giã và nấu lên mời mẹ ăn. Người mẹ dần dần tỉnh lại, âu yếm nhìn đứa con hiếu thảo. Còn lại ít hạt, Aưm đem gieo vào mảnh đất trước sân nhà. Hằng ngày, cậu ra sức chăm bón cho cây lạ. Nhiều hôm phải đi cả ngày mới tìm được nước uống nhưng Aưm vẫn dành một gáo nước để tưới cho cây. Được chăm sóc tốt nên cây lớn rất nhanh, vươn những lá dài xanh mướt. Chẳng bao lâu, cây đã trổ hoa, kết quả.
Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ. Aưm hái những quả lạ có râu vàng hoe như mái tóc của cậu biếu bà con để làm hạt giống. Quý tấm lòng thơm thảo của Aưm, dân bản lấy tên câu bé đặt tên cho cây có quả lạ đó là cây Aưm, hay còn gọi là cây ngô. Nhờ có cây ngô mà từ đó, những người dân Pako không còn lo thiếu đói nữa.
(Truyện cổ tích Việt Nam - Nguồn truyencotich.vn)
Câu 1 (0.5 điểm): Truyện Sự tích cây ngô thuộc thể loại nào?
A. Truyện cổ tích
B. Truyện đồng thoại
C. Truyền thuyết
D. Thần thoại
Câu 2 (0.5 điểm): Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ ba
C. Ngôi thứ hai
D. Cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
Câu 3 (0.5 điểm): Trong câu chuyện, em bé cứu sống được mẹ là nhờ tìm được thầy lang giỏi, theo em đúng hay sai?
A. Đúng
B. Sai
Câu 4 (0.5 điểm): Theo em, cây ngô biểu tượng cho điều gì của dân làng Pako?
A. Biểu tượng cho sự sống và lòng hiếu thảo
B. Biểu tượng cho sự sống và tình yêu thương
C. Biểu tượng cho sự sống ấm no của dân làng
D. Biểu tượng cho sự sống và ước mơ cao đẹp
Câu 5 (0.5 điểm): Vì sao em bé lại đem giống ngô cho mọi người?
A. Vì em nghĩ mọi người đều thương yêu em
B. Vì em bé muốn mẹ được khỏe mạnh
C. Vì em thích loại giống lạ mới thấy lần đầu
D. Vì em có lòng tốt muốn chia sẻ cho dân làng
Câu 6 (0.5 điểm): Chủ đề nào sau đây đúng với truyện Sự tích cây ngô?
A. Ca ngợi ý nghĩa của loài cây
B. Ca ngợi lòng hiếu thảo
C. Ca ngợi tình cảm gia đình
D. Ca ngợi tình mẫu tử
Câu 7 (0.5 điểm): Trong câu văn “Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ.”,từ lũ lượt là từ gì?
A. Từ láy
B. Từ nhiều nghĩa
C. Từ ghép
D. Từ đồng âm
Câu 8 (0.5 điểm): “Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ.” Từ in đậm trong câu văn thuộc loại trạng ngữ nào?
A. Trạng ngữ chỉ thời gian
B. Trạng ngữ chỉ mục đích
C. Trạng ngữ chỉ nơi chốn
D. Trạng ngữ chỉ nguyên nhân
Phần II: TẠO LẬP VĂN BẢN (6 điểm)
Câu 1 (1 điểm): Qua câu chuyện, em thấy mình cần phải có trách nhiệm gì với cha mẹ và cộng đồng?
Câu 2 (5 điểm): Viết đoạn văn cảm nhận về em bé trong bài thơ “Mây và sóng”. Từ đó, nêu những suy nghĩ về trách nhiệm của người con với gia đình
Đáp án
Phần I:
Câu 1:
|
Truyện Sự tích cây ngô thuộc thể loại nào? A. Truyện cổ tích |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: A
Câu 2:
|
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ nhất |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu chuyện, chú ý lời kể
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: B
Câu 3:
|
Trong câu chuyện, em bé cứu sống được mẹ là nhờ tìm được thầy lang giỏi, theo em đúng hay sai? A. Đúng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nội dung truyện
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: B
Câu 4:
|
Theo em, cây ngô biểu tượng cho điều gì của dân làng Pako? A. Biểu tượng cho sự sống và lòng hiếu thảo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ nội dung truyện
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: C
Câu 5:
|
Vì sao em bé lại đem giống ngô cho mọi người? A. Vì em nghĩ mọi người đều thương yêu em |
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: D
Câu 6:
|
Chủ đề nào sau đây đúng với truyện Sự tích cây ngô? A. Ca ngợi ý nghĩa của loài cây |
Phương pháp giải:
Từ nội dung rút ra chủ đề
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: B
Câu 7:
|
Trong câu văn “Mùa hạn qua đi, bà con lũ lượt tìm về bản cũ”, từ lũ lượt là từ gì? A. Từ láy |
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: A
Câu 8:
|
“Hằng ngày, cậu dậy sớm vào rừng kiếm măng, hái nấm, hái quả mang về cho mẹ.” Từ in đậm trong câu văn thuộc loại trạng ngữ nào? A. Trạng ngữ chỉ thời gian |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về trạng ngữ
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: A
Phần II:
Câu 1:
|
Qua câu chuyện, em thấy mình cần phải có trách nhiệm gì với cha mẹ và cộng đồng? |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu chuyện, từ nội dung rút ra suy nghĩ về trách nhiệm của bản thân
Lời giải chi tiết:
Qua câu chuyện, em thấy mình cần phải chăm sóc, hiếu thảo với cha mẹ cũng như biết san sẻ, quan tâm với cộng đồng
Câu 2:
|
Viết đoạn văn cảm nhận về em bé trong bài thơ “Mây và sóng”. Từ đó, nêu những suy nghĩ về trách nhiệm của người con với gia đình |
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
Từ câu chuyện kể trong tác phẩm Mây và sóng đã cho người đọc những cảm nhận thiêng liêng về tình mẫu tử và trách nhiệm của người con đối với gia đình. Giống như bao đứa trẻ khác, cậu bé cũng hồn nhiên và ham vui với những trò chơi mới lạ. Em muốn được là đám mây rong chơi trên bầu trời rộng lớn, hay là con sóng nhỏ lăn xa ra mãi đại dương. Đó là những ước mơ về chinh phục thiên nhiên rất hồn nhiên và đáng yêu của trẻ thơ. Thế nhưng, trong những ước mơ đó em luôn hình dung về mẹ, mẹ đợi em ở nhà và muốn em ở bên mẹ. Vì thế, em đã trả lời “làm sao có thể rời mẹ và đi được”. Câu trả lời của em cho thấy trách nhiệm và tình yêu thương của em đối với mẹ của mình. Mẹ đã sinh con trong bao khó nhọc, đau đớn để rồi nuôi nấng ta qua những tháng ngày vất vả, gian nan. Hạnh phúc của em đơn giản là được bên mẹ và cùng đùa vui trong những trò chơi em tạo ra chứ không phải mây xa biển rộng. Từ câu chuyện của cậu bé đã nhắc nhở chúng ta về vai trò và trách nhiệm của người con trong gia đình. Bạn đã từng thấy ánh mắt mẹ ngóng trông mỗi khi mình đi học về muộn hay giọt nước mắt giấu vội khi mình ngang bướng cãi lời? Hãy yêu thương cha mẹ, hãy làm mẹ vui từ những hành động nhỏ hay lời nói quan tâm những lúc mẹ buồn. Hãy trân trọng khi còn có mẹ ở bên để quan tâm chăm sóc. Tình cảm gia đình là một dòng suối ấm áp, hiền hòa nuôi dưỡng tâm hồn ta, giúp ta có thể đứng vững trên đường đời đầy chông gai. Thế nên, ngay từ bây giờ, chúng ta hãy sống thật có trách nhiệm và dành tình yêu thương chân thành cho gia đình, đó là nghĩa vụ và cũng là tấm lòng hiếu thảo đền đáp công ơn sinh thành của mẹ cha.
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 4
Đáp án
Phần I: ĐỌC - HIỂU (3 điểm)
Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:
“Gió bấc thổi ào ào qua khu rừng vắng. Những cành cây khẳng khiu chốc chốc run lên bần bật. Mưa phùn lất phất… Bên gốc đa, một chú Thỏ bước ra, tay cầm một tấm vải dệt bằng rong. Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút. Thỏ đuổi theo. Tấm vải rơi tròng trành trên ao nước. Thỏ vừa đặt chân xuống nước đã vội co lên. Thỏ cố khều nhưng đưa chân không tới. Một chú Nhím vừa đi đến. Thỏ thấy Nhím liền nói:
- Tôi đánh rơi tấm vải khoác!
- Thế thì gay go đấy! Trời rét, không có áo khoác thì chịu sao được.
Nhím nhặt chiếc que khều… Tấm vải dạt vào bờ, Nhím nhặt lên, giũ nước, quấn lên người Thỏ:
- Phải may thành một chiếc áo, có thế mới kín được.
- Tôi đã hỏi rồi. Ở đây chẳng có ai may vá gì được.
Nhím ra dáng nghĩ:
- Ừ! Muốn may áo phải có kim. Tôi thiếu gì kim.
Nói xong, Nhím xù lông. Quả nhiên vô số những chiếc kim trên mình Nhím dựng lên nhọn hoắt. Nhím rút một chiếc lông nhọn, cởi tấm vải trên mình Thỏ để may.
(Trích “Những chiếc áo ấm”, Võ Quảng)
Câu 1 (0.5 điểm): Thể loại của đoạn trích trên là:
A. Truyện cổ tích
B. Truyện đồng thoại
C. Truyện truyền thuyết
D. Truyện ngắn
Câu 2 (0.5 điểm): Đoạn trích trên được kể bằng lời của ai?
A. Lời của người kể chuyện
B. Lời của nhân vật Nhím
C. Lời của nhân vật Thỏ
D. Lời của Nhím và Thỏ
Câu 3 (0.5 điểm): Nhận xét nào nêu lên đặc điểm của nhân vật trong văn bản trên?
A. Nhân vật là loài vật, sự vật được nhân cách hóa như con người.
B. Nhân vật là loài vật, sự vật có liên quan đến lịch sử.
C. Nhân vật là loài vật, sự vật có những đặc điểm kì lạ.
D. Nhân vật là loài vật, sự vật gắn bó thân thiết với con người như bạn.
Câu 4 (0.5 điểm): Em hiểu nghĩa của từ “tròng trành” trong câu “Tấm vải rơi tròng trành trên ao nước.” là gì?
A. quay tròn, không giữ được thăng bằng.
B. ở trạng thái nghiêng qua nghiêng lại.
C. ở trạng thái nghiêng qua nghiêng lại, không giữ được thăng bằng.
D. ở trạng thái quay tròn, nghiêng qua nghiêng lại.
Câu 5 (0.5 điểm): Có bao nhiêu từ láy trong đoạn văn sau?
“Gió bấc thổi ào ào qua khu rừng vắng. Những cành cây khẳng khiu chốc chốc run lên bần bật. Mưa phùn lất phất… Bên gốc đa, một chú Thỏ bước ra, tay cầm một tấm vải dệt bằng rong. Thỏ tìm cách quấn tấm vải lên người cho đỡ rét, nhưng tấm vải bị gió lật tung, bay đi vun vút.”
A. Bốn từ
B. Năm từ
C. Sáu từ
D. Bảy từ
Câu 6 (0.5 điểm): Từ ghép trong câu văn “Nhím rút một chiếc lông nhọn, cởi tấm vải trên mình Thỏ để may” là những từ nào?
A. Nhím rút, tấm vải
B. Một chiếc, để may
C. Chiếc lông, tấm vải
D. Lông nhọn, trên mình
Phần II: TẠO LẬP VĂN BẢN (7 điểm)
Câu 1 (2 điểm): Hãy chỉ ra và nêu tác dụng của biện pháp tu từ nhân hóa được sử dụng trong câu văn sau “Những cành cây khẳng khiu chốc chốc run lên bần bật”.
Câu 2 (5 điểm): Viết đoạn văn diễn tả những suy nghĩ của em về nhân vật Dế Mèn trong văn bản “Bài học đường đời đầu tiên”
Đề thi
Phần I:
Câu 1:
Phương pháp giải:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
Thể loại của đoạn trích trên là truyện đồng thoại
=> Đáp án: B
Câu 2:
Phương pháp giải:
Chú ý ngôn ngữ, lời của người kể chuyện
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng ngôi kể thứ ba => lời kể của người kể chuyện
=> Đáp án: A
Câu 3:
Phương pháp giải:
Từ nội dung văn bản rút ra đặc điểm của nhân vật
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm của nhân vật trong văn bản trên là loài vật, sự vật được nhân cách hóa như con người
=> Đáp án: A
Câu 4:
Phương pháp giải:
Dựa vào ngữ cảnh để xác định nghĩa của từ “tròng trành”
Lời giải chi tiết:
Từ “tròng trành” nghĩa là ở trạng thái nghiêng qua nghiêng lại, không giữ được thăng bằng
=> Đáp án: C
Câu 5:
Phương pháp giải:
Đọc và xác định từ láy
Lời giải chi tiết:
Có 6 từ láy trong đoạn văn: ào ào, khẳng khiu, chốc chốc, bần bật, lất phất, vun vút
=> Đáp án: D
Câu 6:
Phương pháp giải:
Đọc và xác định từ ghép
Lời giải chi tiết:
Các từ ghép: chiếc lông, tấm vải
=> Đáp án: C
Phần II:
Câu 1:
Phương pháp giải:
Đọc và xác định biện pháp tu từ nhân hóa
Lời giải chi tiết:
- Biện pháp tu từ nhân hóa: run lên bần bật.
- Tác dụng:
+ Biện pháp nhân hóa đã làm cho hình ảnh cây cối trở nên sinh động, giống như con người, cũng cảm nhận được cái rét của gió bấc.
+ Gợi tả khung cảnh mùa đông giá rét
Câu 2:
Phương pháp giải:
Từ nhân vật Dế Mèn trong đoạn trích, nêu cảm nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
Nhân vật Dế Mèn trong văn bản Bài học đường đời đầu tiên của nhà văn Tô Hoài là nhân vật để lại trong bạn đọc nhiều suy ngẫm. Thật vậy, Dế Mèn được xây dựng trong truyện là một chàng dế khỏe mạnh và cường tráng. Dế Mèn có vẻ đẹp về hình thể, được thể hiện qua đôi càng mẫm bóng, thân hình rắn rỏi ra dáng con nhà võ. Hơn nữa, việc sống tự lập từ sớm đã làm cho Dế Mèn có khả năng xây dựng và sinh sống riêng. Cậu không chỉ có vẻ đẹp về hình thể mà còn mang trong mình khí chất, bản lĩnh của một chàng Dế khỏe mạnh và cường tráng. Tuy nhiên, từ nhân vật Dế Mèn, bạn đọc lại ngẫm ra được một số bài học. Đó là những bài học về đạo đức làm người mà Dế Mèn chưa có. Thứ nhất, cậu coi khinh người bạn Dế Choắt của mình. Trong truyện, Mèn đã chê Choắt là “hôi như chuột” rồi còn không cho Choắt đào hang sang nhà mình nữa. Dế Mèn luôn giữ thái độ khinh thường Choắt, không coi Choắt ngang hàng với mình. Thứ hai, Dế Mèn trêu chị Cốc nhưng lại không nhận lỗi và kết cục là dẫn đến cái chết của Dế Choắt. Nguyên nhân là do Mèn hung hăng, tự cao trêu chọc chị Cốc nhưng lại nhát gan không dám nhận lỗi mà ba chân bốn cẳng chuồn trước. Và rồi, người lĩnh hậu quả là Choắt tội nghiệp. Cuối cùng, Mèn đã nhận được bài học thấm thía sâu sắc về thái độ sống khiêm nhường ở đời. Tóm lại, Dế Mèn là nhân vật được xây dựng thành công có vẻ đẹp hình thể nhưng thái độ sống thì còn kiêu căng, hống hách.
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 5
Đề thi
Phần I: ĐỌC - HIỂU (6 điểm)
Đọc đoạn văn sau và thực hiện các yêu cầu:
SỰ TÍCH HOA CÚC TRẮNG
Ngày xưa, có một gia đình nghèo gồm hai mẹ con sống nương tựa vào nhau, cuộc sống của họ bình yên trong một ngôi nhà nhỏ. Người mẹ hàng ngày tần tảo làm lụng nuôi con. Người con thì cũng hiếu thảo, biết vâng lời mẹ và chăm chỉ học hành. Một ngày kia, người mẹ bỗng lâm bệnh nặng, mặc dù người con rất thương mẹ, chạy chữa biết bao thầy lang giỏi trong vùng cũng không chữa khỏi cho mẹ. Em buồn lắm, ngày ngày đều cầu phúc cho mẹ. Thương mẹ, người con quyết tâm đi tìm thầy nơi khác về chữa bệnh. Người con đi mãi, qua bao nhiêu làng mạc, núi sông, ăn đói mặc rách vẫn không nản lòng.
Đến một hôm, khi đi ngang qua một ngôi chùa, em xin nhà sư trụ trì được vào thắp hương cầu phúc cho mẹ. Lời cầu xin của em khiến trời nghe cũng phải nhỏ lệ, đất nghe cũng cúi mình. Lời cầu xin đó đến tai Đức Phật từ bi, Người cảm thương tấm lòng hiếu thảo đó của em nên đã tự mình hóa thân thành một nhà sư. Nhà sư đi ngang qua chùa và tặng em một bông hoa trắng rồi nói:
- Bông hoa này là biểu tượng của sự sống, là bông hoa chứa đựng niềm hi vọng, là ước mơ của loài người, là thần dược để chữa bệnh cho mẹ con, con hãy mang nó về chăm sóc. Nhưng phải nhớ rằng, cứ mỗi năm sẽ có một cánh hoa rụng đi và bông hoa có bao nhiêu cánh thì mẹ con chỉ sống được bấy nhiêu năm. Nói rồi nhà sư biến mất.
Em nhận bông hoa, cảm tạ Đức Phật, lòng em rất đỗi vui mừng. Nhưng khi đếm những cánh hoa, lòng em bỗng buồn trở lại khi biết rằng bông hoa chỉ có năm cánh, nghĩa là mẹ em chỉ sống được thêm với em có năm năm nữa. Thương mẹ quá, em nghĩ ra một cách, em liền liều xé nhỏ những cánh hoa ra thành nhiều cánh nhỏ, nhiều đến khi không còn đếm được bông hoa có bao nhiêu cánh nữa. Nhờ đó mà mẹ em đã khỏi bệnh và sống rất lâu bên người con hiếu thảo của mình. Bông hoa trắng với vô số cánh nhỏ đó đã trở thành biểu tượng của sự sống, là ước mơ trường tồn, là sự hiếu thảo của người con đối với mẹ, là khát vọng chữa lành mọi bệnh tật cho mẹ của người con. Ngày nay, bông hoa đó được người đời gọi là hoa cúc trắng.
(Phỏng theo Truyện cổ tích Nhật Bản - Sách Ngựa Gióng)
Câu 1. Truyện Sự tích hoa cúc trắng thuộc thể loại nào?
A. Truyện cổ tích
B. Truyện đồng thoại
C. Truyền thuyết
D. Thần thoại
Câu 2. Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy?
A. Ngôi thứ nhất
B. Ngôi thứ ba
C. Ngôi thứ hai
D. Cả ngôi thứ nhất và ngôi thứ ba
Câu 3. Trong câu chuyện, em bé cứu sống được mẹ là nhờ tìm được thầy lang giỏi, theo em đúng hay sai?
A. Đúng
B. Sai
Câu 4. Theo nhà sư, bông hoa cúc trắng biểu tượng cho điều gì?
A. Biểu tượng cho sự sống và lòng hiếu thảo
B. Biểu tượng cho sự sống và lòng kiên trì
C. Biểu tượng cho sự sống và tình yêu thương
D. Biểu tượng cho sự sống và ước mơ cao đẹp
Câu 5. Vì sao em bé lại xé nhỏ các cánh hoa?
A. Vì em vốn là đứa trẻ hiếu động
B. Vì em nghĩ bông hoa nhiều cánh sẽ đẹp hơn
C. Vì em bé muốn mẹ sống lâu bên mình
D. Vì em thích bông hoa nhiều cánh
Câu 6. Trong câu văn “Người mẹ hàng ngày tần tảo làm lụng nuôi con”, từ láy tần tảo có ý nghĩa là:
A. làm lụng chăm chỉ công việc nhà trong hoàn cảnh khó khăn
B. làm lụng chăm chỉ công việc đồng áng trong hoàn cảnh khó khăn
C. làm lụng chăm chỉ việc nhà và đồng áng trong hoàn cảnh khó khăn
D. làm lụng vất vả, lo toan việc nhà trong hoàn cảnh khó khăn
Câu 7. “Ngày xưa, có một gia đình nghèo gồm hai mẹ con sống nương tựa vào nhau, cuộc sống của họ bình yên trong một ngôi nhà nhỏ”. Từ in đậm trong câu văn thuộc loại trạng ngữ nào?
A. Trạng ngữ chỉ mục đích
B. Trạng ngữ chỉ nơi chốn
C. Trạng ngữ chỉ nguyên nhân
D. Trạng ngữ chỉ thời gian
Câu 8. Chủ đề nào sau đây đúng với truyện Sự tích hoa cúc trắng?
A. Ca ngợi ý nghĩa các loài hoa
B. Ca ngợi tình mẫu tử
C. Ca ngợi tình cảm gia đình
D. Ca ngợi tình cha con
Câu 9. Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua văn bản trên là gì?
Câu 10. Qua câu chuyện, em thấy mình cần phải có trách nhiệm gì với cha mẹ?
Phần II: TẠO LẬP VĂN BẢN (4 điểm)
Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em về một chuyến đi chơi về quê
Đáp án
Phần I:
Câu 1:
|
Truyện Sự tích hoa cúc trắng thuộc thể loại nào? A. Truyện cổ tích |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ và dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: A
Câu 2:
|
Câu chuyện trên được kể theo ngôi thứ mấy? A. Ngôi thứ nhất |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý lời kể
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: B
Câu 3:
|
Trong câu chuyện, em bé cứu sống được mẹ là nhờ tìm được thầy lang giỏi, theo em đúng hay sai? A. Đúng |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu chuyện
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: B
Câu 4:
|
Theo nhà sư, bông hoa cúc trắng biểu tượng cho điều gì? A. Biểu tượng cho sự sống và lòng hiếu thảo |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ câu chuyện
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: A
Câu 5:
|
Vì sao em bé lại xé nhỏ các cánh hoa? A. Vì em vốn là đứa trẻ hiếu động |
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của em
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: C
Câu 6:
|
Trong câu văn “Người mẹ hàng ngày tần tảo làm lụng nuôi con”, từ láy tần tảo có ý nghĩa là: A. làm lụng chăm chỉ công việc nhà trong hoàn cảnh khó khăn |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về từ láy và nghĩa của từ ngữ
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: D
Câu 7:
|
“Ngày xưa, có một gia đình nghèo gồm hai mẹ con sống nương tựa vào nhau, cuộc sống của họ bình yên trong một ngôi nhà nhỏ”. Từ in đậm trong câu văn thuộc loại trạng ngữ nào? A. Trạng ngữ chỉ mục đích |
Phương pháp giải:
Vận dụng kiến thức về trạng ngữ
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: D
Câu 8:
|
Chủ đề nào sau đây đúng với truyện Sự tích hoa cúc trắng? A. Ca ngợi ý nghĩa các loài hoa |
Phương pháp giải:
Từ nội dung truyện rút ra chủ đề
Lời giải chi tiết:
=> Đáp án: B
Câu 9:
|
Thông điệp mà tác giả muốn gửi gắm qua văn bản trên là gì? |
Phương pháp giải:
Từ nội dung truyện rút ra thông điệp
Lời giải chi tiết:
Thông điệp mà tác giả gửi gắm tới mỗi người là câu chuyện xúc động về tình mẫu tử, là lòng hiếu thảo của người con. Lòng hiếu thảo vượt lên mọi chông gai và tạo nên kì tích tuyệt vời.
Câu 10:
|
Qua câu chuyện, em thấy mình cần phải có trách nhiệm gì với cha mẹ? |
Phương pháp giải:
Nêu suy nghĩ của bản thân
Lời giải chi tiết:
Mỗi người đều cần có trách nhiệm với cha mẹ. Cha mẹ là người sinh ta ra, là người đã mang đến cho ta muôn điều hạnh phúc lớn lao trong đời. Vì lẽ đó, bên cạnh việc chỉ biết tận hưởng, ta cần có trách nhiệm, nghĩa vụ với cha mẹ của mình. Trách nhiệm ấy trước hết được thể hiện thông qua nhận thức của ta. Ta hiểu được cha mẹ đã hi sinh vì mình như thế nào. Để rồi từ đó, chúng ta có hành động, suy nghĩ, cư xử, nhận thức sao cho đúng đắn. VIệc thể hiện lòng hiếu thảo với cha mẹ qua từng hành động như giúp đỡ cha mẹ công việc nhà, học tập chăm chỉ… dẫu nhỏ bé nhưng đều có ý nghĩa lớn lao. Thêm vào đó, trách nhiệm ấy không chỉ đơn giản là việc ta chu cấp cho cha mẹ cuộc sống vật chất đầy đủ khi ta lớn lên. Trách nhiệm gắn với việc giúp cha mẹ có được đời sống tinh thần vui vẻ, hạnh phúc. Không ít người con hiện nay đã và đang chỉ biết đến bản thân mình và ích kỉ, xa cách cha mẹ. Mỗi người chúng ta dù lớn, dù lớn đến đâu thì ta cũng mãi chỉ là đứa trẻ trong lòng cha mẹ. Và chúng ta, hãy sống, hãy hành động sao cho xứng đáng với yêu thương, hi sinh của cha mẹ trong đời: Đi khắp thế gian, không ai tốt bằng mẹ/ Gánh nặng cuộc đời, không ai khổ bằng cha.
Phần II:
|
Viết bài văn kể lại một trải nghiệm của em về một chuyến đi chơi về quê |
Phương pháp giải:
Nhớ lại những trải nghiệm đáng nhớ của em về chuyến đi chơi về quê và kể lại
Lời giải chi tiết:
Bài tham khảo:
Kì nghỉ hè năm nay, em đã có một trải nghiệm bổ ích cùng với các ba mẹ. Đó là một chuyến du lịch để nghỉ ngơi sau một năm học tập căng thẳng. Trong kì nghỉ, ba mẹ cho em đi chơi Đà Lạt một tuần. Đó là phần thưởng ba mẹ dành cho em vì em đã cố gắng học tập và đạt được danh hiệu Học sinh xuất sắc.
Ba em chuẩn bị rất đầy đủ cho chuyến đi này. Từ mấy hôm trước, ba đã mua vé ở Trung tâm du lịch Lửa Việt. Sáng thứ ba, chúng tôi bắt đầu lên xe. Trên xe đã gần đủ người, anh lái xe nhấn còi báo hiệu cho du khách biết rằng sắp tới giờ xe chạy. Đúng 4giờ 30 phút, xe rời bến.
Thành phố lúc sớm mai thật quang đãng, mát mẻ. Trên đường, người và xe cộ còn thưa thớt. Ra khỏi thành phố, xe rẽ ra quốc lộ I và bắt đầu tăng tốc. Em ngồi ghế sát cửa sổ nên tha hồ ngắm phong cảnh hai bên đường. Chẳng mấy chốc, xe đã tới ngã ba đi Đà Lạt. Từ đây, quốc lộ 20 uốn mình chạy giữa một màu xanh bát ngát của những rừng cao su nối tiếp nhau.
Phong cảnh mỗi lúc một khác. Chiếc xe lên dốc, xuống đèo liên tục. Có những đèo rất cao và dài hàng chục cây số. Anh lái xe bình tĩnh và khéo léo lái xe qua những chặng đường cheo leo, nguy hiểm, một bên là núi cao, một bên là vực sâu. Hành khách tỏ vẻ rất yên tâm, hoàn toàn trông cậy vào tay lái thành thạo của anh. Một số người ngả đầu vào thành ghế ngủ ngon lành. Một giờ chiều, xe đã tới địa phận thành phố Đà Lạt, điểm du lịch nổi tiếng trong cả nước. Từ xa, em đã nhìn thấy những đồi thông nối tiếp nhau. Tài xế dừng lại cho du khách chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thác Pren. Nước từ trên cao xối xuống như một tấm rèm màu trắng khổng lồ. Tiếng thác đổ đều đều, triệu triệu bụi nước li ti óng ánh.
Càng tiến vào gần thành phố, khung cảnh càng hấp dẫn hơn. Đó là một ngày nắng đẹp, từng đám mây trắng nho nhỏ giăng giăng khắp nền trời xanh ngắt. Giữa rừng thông, thấp thoáng những ngôi nhà mái nhọn, lợp ngói đỏ tươi trông như những lâu đài huyền bí. Nửa giờ sau, xe đỗ trước cửa khách sạn Anh Đào. Khách sạn nhỏ nhưng xinh đẹp và đầy đủ tiện nghi.
Bữa ăn đầu tiên, cha mẹ và em được thưởng thức những món ăn cao nguyên thật ngon miệng. Đêm hôm ấy, em kéo chiếc chăn bông lên tận cổ và ngủ một giấc say sưa. Suốt mấy ngày ở đây, em được đi thăm rất nhiều cảnh đẹp của Đà Lạt như hồ Xuân Hương, thác Cam Ly, đồi Cù, Đồi thông hai mộ, thung lũng Tình Yêu, hồ Đa Thiện, thiền viện Trúc Lâm…
Ba chụp cho em rất nhiều ảnh. Em thích nhất là kiểu cưỡi ngựa trên đỉnh đồi, dưới gốc thông cổ thụ. Tới công viên thành phố, em vui sướng vịn vai chú gấu đen khổng lồ nhồi bông ngay gần cổng để ba chụp ảnh. Em say mê ngắm chim, ngắm thú, ngắm hoa quên cả thời gian.
Rồi ba đưa em đi chợ Đà Lạt. Em sững sờ trước sự phong phú, tươi đẹp của các loài hoa xứ lạnh: hồng nhung, hồng vàng, lay-ơn, thược dược, cẩm chướng, phong lan, địa lan, … và bao nhiêu loại cúc khác nhau. Trái cây cũng thật hấp dẫn: mận, đào, dâu tây, cam, bơ, nho, táo, … thứ gì cũng ngon, cũng rẻ.
Một tuần tham quan trôi qua vùn vụt. Đã tới lúc tạm biệt Đà Lạt, trở về với mái ấm gia đình. Chuyến đi thú vị đã mở mang tầm hiểu biết của em về đất nước, con người. Đất nước mình đâu đâu cũng đẹp như tranh và con người thật nhân hậu, hiếu khách!
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 6
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
VÕ SĨ BỌ NGỰA
(trích – Tô Hoài)
Hôm sau, Bọ Ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng, không vui vẻ như bữa đầu nữa thì bỗng nghe một tiếng động trước mặt. Gã đứng lại, ngẩng đầu lên, nom thấy một con vật lạ chưa trông thấy bao giờ.
Quái vật to gồ gồ như một viên đá. Sắc mình đen sì và bóng loáng. Cả đôi râu cũng đen. Chỉ trừ hai cái vạch trắng hai bên mắt. Mới thoạt trông không có thể đoán biết được đầu đuôi nó đằng nào. Bởi chỗ nào cũng tròn múp míp, chỗ nào cũng nhẵn thín. Nhất là dưới mắt Bọ Ngựa ta, thì càng lạ lùng hơn nữa. Từ thuở bé, Bọ Ngựa chưa được trông thấy một con vật kì quái đến nhường ấy. Song thực đó chỉ là một cu cậu thường hay đậu trên thân những cây dừa, cây cau và có tiếng kêu cồ cộ... cồ cộ. Tiếng kêu ấy thành tên là Cồ Cộ. Hai mắt đen nhánh lẫn vào trong làn vỏ đen thẫm, nhưng đôi mắt thực tinh. Bọ Ngựa mới sột soạt đi đến, mà Cồ Cộ đã trông thấy ngay. Cồ Cộ hỏi:
- Tên kia, đến đây làm chi?
Bọ Ngựa cố gắng cứng cỏi:
- Ta là Đại Mã! Võ sĩ Đại Mã. Ta đi...
Cồ Cộ ngạc nhiên:
- Tên mi là Đại Mã? Lại là võ sĩ nữa?
Bọ Ngựa vênh mặt:
- Phải đó, ngươi đã nghe đại danh ta rồi ư?
Cồ Cô cười:
Thằng oắt tì! Tên mi là Bọ Ngựa chứ? Mà mi sao dám đặt hai chữ võ sĩ lên trước tên? Không sợ bị đánh cho gãy cổ hả?
- Mỗi chốc, ai đánh nổi ta, ta là võ...
Cồ Cộ cả cười:
- Ta sẽ vặn gãy cổ mi. Nhưng này, võ sĩ Đại Mã oắt con ơi! Trước khi đánh nhau với võ sĩ, ta hỏi võ sĩ một điều: Võ sĩ định đi đâu đó?
- Ta đi du lịch phiêu lưu, con đường của Dế Mèn.
- Ái chà! Hăng nhỉ. Bắt chước ông Dế Mèn! Đi được bao nhiêu lâu rồi?
- Đã qua biết bao nhiêu rừng núi, không thể nhớ xiết được.
Thấy Cồ Cộ cứ hỏi căn hỏi vặn, Bọ Ngựa đồ ngay Cồ Cộ cũng hạng xoàng liền nổi máu hăng, thách:
- Làm sao ngươi lại được hỏi căn vặn ta? Định đấu gươm với ta chăng?
Cồ Cộ cười ha hả:
- Ta đã bảo rồi ta sẽ đánh mi mà, đừng vội. Nhưng bây giờ thì ta lại thương mi mà không muốn đánh mi nữa.
- Nếu thế, đồ hèn!
- ….Nhưng ta sẽ làm cho mi mở mắt ra, rồi muốn sống, muốn tốt thì ngay về với mẹ.
Nói rồi Cồ Cộ quắp lấy lưng Bọ Ngựa, giương cánh ra, bay tít lên ngọn cây dừa gần đó. Bọ Ngựa hoảng hốt quá, rúm cả chân, rúm cả càng và nhắm tịt mắt lại. Bốn bên xung quanh gió thổi vo vo. Cồ Cộ đỗ trên ngọn cây dừa và bảo Bọ Ngựa rằng:
- Mi đã mở mắt ra chưa? Nếu mở mắt rồi, hãy cùng ta nhìn xuống dưới kia. Mi đi bấy nhiêu ngày đường, lặn lội qua bao nhiêu đèo, bao nhiêu suối, vậy mà không bằng ta chỉ vỗ cánh mấy cái, bay lên cao, đã có thể trông thấy quê hương của mi. Cái sự khó nhọc của mi đối với ta, chỉ là hạt bụi, hạt tấm. Đã hiểu như thế chưa? Và mi lại nền biết thêm rằng ở trên đời này, không thiếu gì kẻ còn giỏi hơn ta bao nhiêu lần nữa.
Sau đó, chú Bọ Ngựa được Cồ Cộ đưa trả xuống đất. Bọ Ngựa chạy biến ngay về, không dám ngoảnh cổ lại nữa. Bọ Ngựa về đến cành hồng, mẹ vẫn chưa về. Nó nằm bẹp trên cây, không dám lởn vởn đi đâu nữa. Bởi vẫn chưa tan cơn sợ. Được mươi hôm thì mẹ trở về. Nó mừng rỡ nhảy cỡn lên ôm lấy mẹ. Từ đấy, hai mẹ con lại sống với nhau đề huề. Mẹ nó đưa nó đi đến một chỗ ở mới kín đáo, ấm áp hơn. Những lương thực mà bà lão đêm bên kia sông về cũng thừa đủ cho hai mẹ con ăn hết một mùa đông giá rét.
Một hôm, trời có nắng. Nắng mùa đông ấm áp, dịu dàng làm sao. Hai mẹ con ra hong cánh dưới ánh mặt trời. Trong lúc vui chuyện Bọ Ngựa con kể với mẹ:
- Mẹ ơi! Độ nọ mẹ sang bên kia sông rồi, ở nhà con đã làm được nhiều điều ghê lắm.
- Con thử kể cho mẹ nghe những ghê gớm ấy đến thế nào?
- Con đánh thằng Châu Chấu Ma ở đẳng kia. Nó phải nhận con là thầy nó.
Bà Bọ Ngựa mỉm cười:
- Tưởng là con đánh ai. Châu Chấu Ma con chẳng phải đánh, nó vẫn sơ như thường. Con đã làm một việc thừa, mà lại ác nữa.
Chú Bọ Ngựa tiu nghỉu. Rồi chú tiếp:
- Con lại cho cả Gián Ống một trận.
Bà Bọ Ngựa cười to:
- Tưởng ai, cải thắng Gián Ống lúc nào cũng sợ, ai cũng sợ. Con lại làm một việc thừa, mà lại độc ác nữa.
Chú Bọ Ngựa tàu nghỉu hơn, và chú không khoe thêm gì nữa. Chú im lặng, nhìn ánh nắng rung rinh trong lá cây.
Nhưng bà lão Bọ Ngựa đã nói tiếp:
- Và con sang đánh nhau cả với Bọ Muỗm, con bắt mụ ấy gọi con là võ sĩ Đại Mã. Mụ ấy nện cho con một trận mê tơi. Con phải bỏ chạy về. Nhưng con cũng không chừa được cái thói khoác lác. Cho nên, khi con nghe tiếng đồn có ông Dế Mèn đi phiêu lưu thì con cũng tập tọng đi. Con đã quên cả lời mẹ dặn. Con đi, con gặp bác Cồ Cộ, con dọa dẫm cả bác ta. Bác ta liền túm cổ con, bay lên ngọn cây dừa. Đến đây con mới thực là sợ, biết chừa thói ngông cuồng và con mới thực hiểu rằng đường đời mỗi bước một khó. Con chạy trở về. Phải kể đến đây mới là hết những chuyện mà con đã làm trong khi vắng mẹ. Có phải thế chăng? Con Võ sĩ bọ ngựa ơi! Bác Bọ Muỗm chỉ cho con một cái đá hậu, là con thủng bụng. Bác Cồ Cộ chỉ buông con từ ngọn cây cho rơi xuống, là con đủ tan xương. Các bác ấy đã thương con đấy. Trong khi bà lão Bọ Ngựa nói, chú Bọ Ngựa cứ ngẩn mặt. Rồi hai hàng nước mắt rưng rưng. À, chú Bọ Ngựa hợm mình đã biết hối rồi..
(https://by.com.vn/hjwJW)
Câu hỏi
Câu 1: Những dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện đồng thoại:
A. Có tả cảnh thiên thiên và đối thoại của nhân vật là loài vật.
B. Nhân vật là loài vật được nhân hóa, chứa đựng bài học sâu sắc.
C. Nhân vật ít.
D. Kể chuyện bằng ngôi thứ ba, có đối thoại.
Câu 2: Dòng nào nói đúng về chủ đề của tác phẩm?
A. Bạn bè.
B. Hoàn thiện bản thân.
C. Thiên nhiên.
D. Ứng xử.
Câu 3: Hai nhân vật chính của truyện Võ sĩ bọ ngựa là:
A. Hai mẹ con nhà Bọ Ngựa.
B. Cồ Cộ và Bọ Muỗm.
C. Bọ ngựa và Cồ Cộ.
D. Mẹ Bọ Ngựa và Cồ Cộ.
Câu 4: Sự việc nào sau đây không thuộc truyện Võ sĩ bọ ngựa?
A. Gặp Cồ Cộ
B. Đánh nhau với nhện
C. Trò chuyện với mẹ
D. Cồ Cộ bị quắp lên ngọn cây
Câu 5: Những sự việc nào không được kể trực tiếp trong văn bản? Phân tích tác dụng của cách kể chuyện ấy. Từ đó nhận xét vai trò của người mẹ trong việc giáo dục con, tình cảm nhà văn dành cho mẹ con nhà Bọ Ngựa (1đ)
Câu 6: Bọ ngựa đã nhận ra những bài học nào từ Cồ Cộ, từ lời của mẹ? Và em rút ra bài học gì cho chính mình khi đọc xong truyện này? (1đ)
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
Câu 1: Quan sát 2 hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a, b (2đ)


a. Chỉ ra một sự liên quan giữa 2 hình ảnh với văn bản đọc Võ sĩ Bọ Ngựa ở trên
b. Đặt tên cho mỗi hình ảnh trên
Câu 2: Đóng vai Bọ Ngựa kể lại đoạn truyện từ “Hôm sau Bọ ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng đến không dám ngoảng cổ lại nữa” (thể hiện sâu hơn tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Bọ Ngựa, bài dài từ 1-1,5 trang giấy thi) (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 6
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
|
B |
B |
C |
B |
|
Câu 1: Những dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện đồng thoại: A. Có tả cảnh thiên thiên và đối thoại của nhân vật là loài vật. B. Nhân vật là loài vật được nhân hóa, chứa đựng bài học sâu sắc. C. Nhân vật ít. D. Kể chuyện bằng ngôi thứ ba, có đối thoại. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về truyện đồng thoại
Lời giải chi tiết:
Dấu hiệu cho biết văn bản trên là truyện đồng thoại: Nhân vật là loài vật được nhân hóa, chứa đựng bài học sâu sắc.
→ Đáp án B
|
Câu 2: Dòng nào nói đúng về chủ đề của tác phẩm? A. Bạn bè. B. Hoàn thiện bản thân. C. Thiên nhiên. D. Ứng xử. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và rút ra chủ đề
Lời giải chi tiết:
Chủ đề của văn bản: bài học giúp hoàn thiện bản thân
→ Đáp án B
|
Câu 3: Hai nhân vật chính của truyện Võ sĩ bọ ngựa là: A. Hai mẹ con nhà Bọ Ngựa. B. Cồ Cộ và Bọ Muỗm. C. Bọ ngựa và Cồ Cộ. D. Mẹ Bọ Ngựa và Cồ Cộ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Hai nhân vật chính là: Bọ ngựa và Cồ Cộ.
→ Đáp án C
|
Câu 4: Sự việc nào sau đây không thuộc truyện Võ sĩ bọ ngựa? A. Gặp Cồ Cộ B. Đánh nhau với nhện C. Trò chuyện với mẹ D. Cồ Cộ bị quắp lên ngọn cây |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết
Sự việc không thuộc truyện Võ sĩ bọ ngựa là: Đánh nhau với nhện
→ Đáp án B
Câu 5: Những sự việc nào không được kể trực tiếp trong văn bản? Phân tích tác dụng của cách kể chuyện ấy. Từ đó nhận xét vai trò của người mẹ trong việc giáo dục con, tình cảm nhà văn dành cho mẹ con nhà Bọ Ngựa (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức về ngôi kể, cách kể chuyện….
Lời giải chi tiết:
-Các sự kiện không được kể trực tiếp trong văn bản là: Các sự việc kể qua cuộc trò chuyện của Bọ Ngựa với mẹ: Bọ Ngựa đánh nhau với Châu Chấu Ma, Gián Ống, Bọ Muỗm →chỉ kể tóm tắt qua cuộc trò chuyện
- Tác dụng
+ Người mẹ khiến Bọ Ngựa bớt sĩ diện, khoác lác mà nhận ra sự thật: Con đánh nhau với cả Bọ Muỗm… Con đi, con gặp bác Cồ Cộ, con dọa dẫm cả bác ta. Bác ta liền túm cổ con, bay lên ngọn cây dừa. Đến đây con mới thực là sợ, biết chừa thói ngông cuồng và con mới thực hiểu rằng đường đời mỗi bước một khó. Con chạy trở về
+ Lời khuyên của mẹ với Bọ Ngựa thấm qua từng sự việc cụ thể. Điều đó khiến Bọ Ngựa tiếp thu, lắng nghe lời mẹ khuyên
- Tình cảm nhà văn dành cho mẹ con Bọ Ngựa:
+ Mến phục bà mẹ luôn theo dõi con, có cách giáo dục con nhẹ nhàng phù hợp
+ Cảm thông với tuổi trẻ nông nổi, nhút nhát của Bọ Ngựa nên trách cứ không nặng nề; yêu thương khi cậu bé Bọ Ngựa hối lỗi
Câu 6: Bọ ngựa đã nhận ra những bài học nào từ Cồ Cộ, từ lời của mẹ? Và em rút ra bài học gì cho chính mình khi đọc xong truyện này? (1đ)
Phương pháp giải:
Phân tích bài học rút ra từ văn bản
Đưa ra bài học mà bản thân rút ra được cho chính mình
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: Cách Cồ Cộ dạy cho Bọ Ngựa một bài học:
+ Đã làm việc thừa và độc ác
+ Chừa thói khoác lác
+ Mọi người không trừng phạt là vì thương Bọ Ngựa
- Rút ra bài học gì cho chính mình: Học sinh tự làm
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
Câu 1: Quan sát 2 hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a, b (2đ)
a. Chỉ ra một sự liên quan giữa 2 hình ảnh với văn bản đọc Võ sĩ Bọ Ngựa ở trên
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và yêu cầu
Lời giải chi tiết:
Bức 1: Gợi ra kẻ vênh váo không nhìn thấy hố ở dưới chân… sẽ thụt xuống hố
→Gợi nhớ hình ảnh Bọ Ngựa huênh hoang suýt chuốc họa vào thân (với Cồ Cộ)
Bức 2: Gợi con người biết lắng nghe
→ Gợi nhớ hình ảnh Bọ Ngựa lắng nghe lời khuyên của Cồ Cộ về nhà với mẹ, lắng nghe lời khuyên của mẹ, thấm từng lời và xúc động
b. Đặt tên cho mỗi hình ảnh trên
Phương pháp giải
Quan sát kĩ hình ảnh, rút ra nội dung chính của từng hình ảnh
Lời giải chi tiết
Học sinh tự đặt tên tấm hình theo ý mình (cần ngắn gọn, sát với nội dung của bức hình)
Câu 2: Đóng vai Bọ Ngựa kể lại đoạn truyện từ “Hôm sau Bọ ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng đến không dám ngoảng cổ lại nữa” (thể hiện sâu hơn tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Bọ Ngựa, bài dài từ 1-1,5 trang giấy thi) (4đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Đóng vai Bọ Ngựa kể lại đoạn truyện từ “Hôm sau… cổ lại nữa” (thể hiện sâu hơn tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Bọ Ngựa và kết hợp miêu tả) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
Giới thiệu câu chuyện của bản thân (kể ngôi thứ nhất – xưng tôi) |
|
Thân bài |
2,5 |
- Khi gặp bác Cồ Cộ, Bọ Ngựa rất lạ lẫm vì chưa gặp một con vật nào to như vậy - Bọ Ngựa nghe ngóng rồi lại tỏ vẻ ta không biết sợ ai - Khi bị Cồ Cộ cắp bay lên ngọn dừa… + Nỗi sợ hãi + Không dám nhìn xuống + Chân run, nói không ra lời - Được thả xuống chạy biến về nhà… Lưu ý: - Yếu tố miêu tả: “Quái vật to gồ gồ… thực tinh” - Yếu tố miêu tả giúp người đọc hình dung một cách rõ ràng cụ thể hơn sự vật, sự việc được kể. Ở đây là hình dung rõ nét về đặc điểm hình dáng, màu sắc tên gọi… của Cồ Cộ |
|
Kết bài |
0,5 |
- Nhận xét, suy ngẫm về Cồ Cộ… - Rút ra bài học cho bản thân… |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại: tự sự - Dùng ngôi kể thứ nhất phải nhất quán, hợp lí |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 7
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
VÕ SĨ BỌ NGỰA
(trích – Tô Hoài)
Hôm sau, Bọ Ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng, không vui vẻ như bữa đầu nữa thì bỗng nghe một tiếng động trước mặt. Gã đứng lại, ngẩng đầu lên, nom thấy một con vật lạ chưa trông thấy bao giờ.
Quái vật to gồ gồ như một viên đá. Sắc mình đen sì và bóng loáng. Cả đối râu cũng đen. Chỉ trừ hai cái vạch trắng hai bên mắt. Mới thoạt trong không có thể đoán biết được đầu đuôi nó đằng nào. Bởi chỗ nào cũng tròn múp míp, chỗ nào cũng nhẵn thín. Nhất là dưới mắt Bọ Ngựa ta, thì càng lạ lùng hơn nữa. Từ thuở bé, Bọ Ngựa chưa được trông thấy một con vật kì quái đến nhường ấy. Song thực đó chỉ là một cu cậu thường hay đậu trên thân những cây dừa, cây cau và có tiếng kêu cồ cộ... cồ cộ. Tiếng kêu ấy thành tên là Cồ Cộ. Hai mắt đen nhánh lẫn vào trong làn vỏ đen thẫm, nhưng đôi mắt thực tinh. Bọ Ngựa mới sột soạt đi đến, mà Cồ Cộ đã trông thấy ngay. Cồ Cộ hỏi:
- Tên kia, đến đây làm chi?
Bọ Ngựa cố gắng cứng cỏi:
- Ta là Đại Mã! Võ sĩ Đại Mã. Ta đi...
Cồ Cộ ngạc nhiên:
- Tên mi là Đại Mã? Lại là võ sĩ nữa?
Bọ Ngựa vênh mặt:
- Phải đó, ngươi đã nghe đại danh ta rồi ư?
Cồ Cô cười:
Thằng oắt tì! Tên mi là Bọ Ngựa chứ? Mà mi sao dám đặt hai chữ võ sĩ lên trước tên? Không sợ bị đánh cho gãy cổ hả?
- Mỗi chốc, ai đánh nổi ta, ta là võ...
Cồ Cộ cả cười:
- Ta sẽ vặn gãy cổ mi. Nhưng này, võ sĩ Đại Mã oắt con ơi! Trước khi đánh nhau với võ sĩ, ta hỏi võ sĩ một điều: Võ sĩ định đi đâu đó?
- Ta đi du lịch phiêu lưu, con đường của Dế Mèn.
- Ái chà! Hăng nhỉ. Bắt chước ông Dế Mèn! Đi được bao nhiêu lâu rồi?
- Đã qua biết bao nhiêu rừng núi, không thể nhớ xiết được.
Thấy Cồ Cộ cứ hỏi căn hỏi vặn, Bọ Ngựa đồ ngay Cồ Cộ cũng hạng xoàng liền nổi máu hăng, thách:
- Làm sao ngươi lại được hỏi căn vặn ta? Định đấu gươm với ta chăng?
Cồ Cộ cười ha hả:
- Ta đã bảo rồi ta sẽ đánh mi mà, đừng vội. Nhưng bây giờ thì ta lại thương mi mà không muốn đánh mi nữa.
- Nếu thế, đồ hèn!
- ….Nhưng ta sẽ làm cho mi mở mắt ra, rồi muốn sống, muốn tốt thì ngay về với mẹ.
Nói rồi Cồ Cộ quắp lấy lưng Bọ Ngựa, giương cánh ra, bay tít lên ngọn cây dừa gần đó. Bọ Ngựa hoảng hốt quá, rúm cả chân, rúm cả càng và nhắm tịt mắt lại. Bốn bên xung quanh gió thổi vo vo. Cồ Cộ đỗ trên ngọn cây dừa và bảo Bọ Ngựa rằng:
- Mi đã mở mắt ra chưa? Nếu mở mắt rồi, hãy cùng ta nhìn xuống dưới kia. Mi đi bấy nhiêu ngày đường, lặn lội qua bao nhiêu đèo, bao nhiêu suối, vậy mà không bằng ta chỉ vỗ cánh mấy cái, bay lên cao, đã có thể trông thấy quê hương của mi. Cái sự khó nhọc của mi đối với ta, chỉ là hạt bụi, hạt tấm. Đã hiểu như thế chưa? Và mi lại nền biết thêm rằng ở trên đời này, không thiếu gì kẻ còn giỏi hơn ta bao nhiêu lần nữa.
Sau đó, chú Bọ Ngựa được Cồ Cộ đưa trả xuống đất. Bọ Ngựa chạy biến ngay về, không dám ngoảnh cổ lại nữa. Bọ Ngựa về đến cành hồng, mẹ vẫn chưa về. Nó nằm bẹp trên cây, không dám lởn vởn đi đâu nữa. Bởi vẫn chưa tan cơn sợ. Được mươi hôm thì mẹ trở về. Nó mừng rỡ nhảy cỡn lên ôm lấy mẹ. Từ đấy, hai mẹ con lại sống với nhau đề huề. Mẹ nó đưa nó đi đến một chỗ ở mới kín đáo, ấm áp hơn. Những lương thực mà bà lão đêm bên kia sông về cũng thừa đủ cho hai mẹ con ăn hết một mùa đông giá rét.
Một hôm, trời có nắng. Nắng mùa đông ấm áp, dịu dàng làm sao. Hai mẹ con ra hong cánh dưới ánh mặt trời. Trong lúc vui chuyện Bọ Ngựa con kể với mẹ:
- Mẹ ơi! Độ nọ mẹ sang bên kia sông rồi, ở nhà con đã làm được nhiều điều ghê lắm.
- Con thử kể cho mẹ nghe những ghê gớm ấy đến thế nào?
- Con đánh thằng Châu Chấu Ma ở đẳng kia. Nó phải nhận con là thầy nó.
Bà Bọ Ngựa mỉm cười:
- Tưởng là con đánh ai. Châu Chấu Ma con chẳng phải đánh, nó vẫn sơ như thường. Con đã làm một việc thừa, mà lại ác nữa.
Chú Bọ Ngựa tiu nghỉu. Rồi chú tiếp:
- Con lại cho cả Gián Ống một trận.
Bà Bọ Ngựa cười to:
- Tưởng ai, cải thắng Gián Ống lúc nào cũng sợ, ai cũng sợ. Con lại làm một việc thừa, mà lại độc ác nữa.
Chú Bọ Ngựa tàu nghỉu hơn, và chú không khoe thêm gì nữa. Chú im lặng, nhìn ánh nắng rung rinh trong lá cây.
Nhưng bà lão Bọ Ngựa đã nói tiếp:
- Và con sang đánh nhau cả với Bọ Muỗm, con bắt mụ ấy gọi con là võ sĩ Đại Mã. Mụ ấy nện cho con một trận mê tơi. Con phải bỏ chạy về. Nhưng con cũng không chừa được cái thói khoác lác. Cho nên, khi con nghe tiếng đồn có ông Dế Mèn đi phiêu lưu thì con cũng tập tọng đi. Con đã quên cả lời mẹ dặn. Con đi, con gặp bác Cồ Cộ, con dọa dẫm cả bác ta. Bác ta liền túm cổ con, bay lên ngọn cây dừa. Đến đây con mới thực là sợ, biết chừa thói ngông cuồng và con mới thực hiểu rằng đường đời mỗi bước một khó. Con chạy trở về. Phải kể đến đây mới là hết những chuyện mà con đã làm trong khi vắng mẹ. Có phải thế chăng? Con Võ sĩ bọ ngựa ơi! Bác Bọ Muỗm chỉ cho con một cái đá hậu, là con thủng bụng. Bác Cồ Cộ chỉ buông con từ ngọn cây cho rơi xuống, là con đủ tan xương. Các bác ấy đã thương con đấy. Trong khi bà lão Bọ Ngựa nói, chú Bọ Ngựa cứ ngẩn mặt. Rồi hai hàng nước mắt rưng rưng. À, chú Bọ Ngựa hợm mình đã biết hối rồi..
(https://by.com.vn/hjwJW)
Câu hỏi
Câu 1: Sự việc nào sau đây thể hiện rõ nhất tính cách ngông cuồng của Bọ Ngựa?
A. Gặp gỡ Cồ Cộ
B. Nằm bẹp trên ngọn cây
C. Trò chuyện với mẹ
D. Trên ngọn cây dừa
Câu 2: Đặc điểm của loài bọ ngựa được tác giả nói tới qua dòng nào sau đây?
A. Ngoại hình của Bọ Ngựa
B. Ở lời thoại của Bọ Ngựa
C. Ở nơi sinh sống của Bọ Ngựa
D. Ở tính cách, thói quen của mẹ Bọ Ngựa
Câu 3: Sự việc nào thể hiện rõ nhất tính cách nhút nhát, trẻ con của Bọ Ngựa?
A. Gặp gỡ Cồ Cộ
B. Nằm bẹp trên ngọn cây
C. Trò chuyện với mẹ
D. Trên ngọn cây dừa
Câu 4: Nhân vật nào đã dạy cho Bọ Ngựa chừa thói huênh hoang?
A. Bọ Muỗm
B. Cồ Cộ
C. Mẹ
D. Châu Chấu Ma
Câu 5: Phân tích, nhận xét cách Cồ Cộ dạy cho Bọ Ngựa một bài học. Em có đồng tình với cách đó không? (1đ)
Câu 6: Bọ ngựa đã nhận ra những bài học nào từ Cồ Cộ, từ lời của mẹ? Và em rút ra bài học gì cho chính mình khi đọc xong truyện này? (1đ)
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
Câu 1: Quan sát 2 hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a, b (2đ)


a. Chỉ ra một sự liên quan giữa 2 hình ảnh với văn bản đọc Võ sĩ Bọ Ngựa ở trên
b. Đặt tên cho mỗi hình ảnh trên
Câu 2: Đóng vai Bọ Ngựa kể lại đoạn truyện từ “Hôm sau Bọ ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng đến không dám ngoảng cổ lại nữa” (thể hiện sâu hơn tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Bọ Ngựa, bài dài từ 1-1,5 trang giấy thi) (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 7
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
|
A |
C |
B |
B |
|
Câu 1: Sự việc nào sau đây thể hiện rõ nhất tính cách ngông cuồng của Bọ Ngựa? A. Gặp gỡ Cồ Cộ B. Nằm bẹp trên ngọn cây C. Trò chuyện với mẹ D. Trên ngọn cây dừa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và đáp án
Phương pháp loại trừ
Lời giải chi tiết:
Sự việc thể hiện rõ nhất tính cách ngông cuồng của Bọ Ngựa: Gặp gỡ Cồ Cộ
→ Đáp án A
|
Câu 2: Đặc điểm của loài bọ ngựa được tác giả nói tới qua dòng nào sau đây? A. Ngoại hình của Bọ Ngựa B. Ở lời thoại của Bọ Ngựa C. Ở nơi sinh sống của Bọ Ngựa D. Ở tính cách, thói quen của mẹ Bọ Ngựa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết miêu tả đặc điểm của loài bọ ngựa
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm của loài bọ ngựa được tác giả nói tới rõ nét nhất trong nơi sinh sống của Bọ Ngựa
→ Đáp án C
|
Câu 3: Sự việc nào thể hiện rõ nhất tính cách nhút nhát, trẻ con của Bọ Ngựa? A. Gặp gỡ Cồ Cộ B. Nằm bẹp trên ngọn cây C. Trò chuyện với mẹ D. Trên ngọn cây dừa |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết:
Sự việc thể hiện rõ nhất tính cách nhút nhát, trẻ con của Bọ Ngựa: Nằm bẹp trên ngọn cây sau khi nói chuyện với Cồ Cộ
→ Đáp án B
|
Câu 4: Nhân vật nào đã dạy cho Bọ Ngựa chừa thói huênh hoang? A. Bọ Muỗm B. Cồ Cộ C. Mẹ D. Châu Chấu Ma |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Lời giải chi tiết
Nhân vật đã dạy cho Bọ Ngựa chừa thói huênh hoang là Cồ Cộ
→ Đáp án B
Câu 5: Phân tích, nhận xét cách Cồ Cộ dạy cho Bọ Ngựa một bài học. Em có đồng tình với cách đó không?
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết Cồ Cồ dạy Bọ Ngựa
Nêu ý kiến bản thân
Lời giải chi tiết:
- Cồ Cộ đã cảnh báo Bọ Ngựa: Thằng oắt tì! Tên mi là Bọ Ngựa chứ? Mà mi sao dám đặt hai chữ võ sĩ lên trước tên? Không sợ bị đánh cho gãy cổ hả?
- Bọ Ngựa vẫn huênh hoang nên Cồ Cộ phải dạy bằng hành động, sự việc cụ thể: Cồ Cộ quắp lấy lưng Bọ Ngựa, giương cánh ra, bay tít lên ngọn cây dừa gần đó. Bọ Ngựa hoảng hốt quá, rúm cả chân, rúm cả càng và nhắm tịt mắt lại
→ Cồ Cộ đã cảnh báo Bọ Ngựa nhưng không đánh, trừng phạt nặng nề, chỉ dọa cho cậu ấy biết nhận ra sai lầm của mình
- Có đồng tình không? (HS tự trả lời)
Câu 6: Bọ ngựa đã nhận ra những bài học nào từ Cồ Cộ, từ lời của mẹ? Và em rút ra bài học gì cho chính mình khi đọc xong truyện này? (1đ)
Phương pháp giải:
Phân tích bài học rút ra từ văn bản
Đưa ra bài học mà bản thân rút ra được cho chính mình
Lời giải chi tiết:
Gợi ý: Cách Cồ Cộ dạy cho Bọ Ngựa một bài học:
+ Đã làm việc độc ác
+ Chừa thói khoác lác
+ Mọi người không trừng phạt là vì thương Bọ Ngựa
- Rút ra bài học gì cho chính mình: Học sinh tự liên hệ bản thân
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
Câu 1: Quan sát 2 hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a, b (2đ)
a. Chỉ ra một sự liên quan giữa 2 hình ảnh với văn bản đọc Võ sĩ Bọ Ngựa ở trên
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản và yêu cầu
Lời giải chi tiết:
Bức 1: Gợi ra kẻ vênh váo không nhìn thấy hố ở dưới chân… sẽ thụt xuống hố
→Gợi nhớ hình ảnh Bọ Ngựa huênh hoang suýt chuốc họa vào thân (với Cồ Cộ)
Bức 2: Gợi con người biết lắng nghe
→ Gợi nhớ hình ảnh Bọ Ngựa lắng nghe lời khuyên của Cồ Cộ về nhà với mẹ, lắng nghe lời khuyên của mẹ, thấm từng lời và xúc động
b. Đặt tên cho mỗi hình ảnh trên
Phương pháp giải
Quan sát kĩ hình ảnh, rút ra nội dung chính của từng hình ảnh
Lời giải chi tiết
Học sinh tự đặt tên tấm hình theo ý mình (cần ngắn gọn, sát với nội dung của bức hình)
Câu 2: Đóng vai Bọ Ngựa kể lại đoạn truyện từ “Hôm sau Bọ ngựa đương lủi thủi, khật khưỡng đến không dám ngoảng cổ lại nữa” (thể hiện sâu hơn tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Bọ Ngựa, bài dài từ 1-1,5 trang giấy thi) (4đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Đóng vai Bọ Ngựa kể lại đoạn truyện từ “Hôm sau… cổ lại nữa” (thể hiện sâu hơn tâm trạng, suy nghĩ của nhân vật Bọ Ngựa và kết hợp miêu tả) |
||
|
Phần chính |
Điểm |
Nội dung cụ thể |
|
Mở bài |
0,5 |
Giới thiệu câu chuyện của bản thân (kể ngôi thứ nhất – xưng tôi) |
|
Thân bài |
2,5 |
- Khi gặp bác Cồ Cộ, Bọ Ngựa rất lạ lẫm vì chưa gặp một con vật nào to như vậy - Bọ Ngựa nghe ngóng rồi lại tỏ vẻ ta không biết sợ ai - Khi bị Cồ Cộ cắp bay lên ngọn dừa… + Nỗi sợ hãi + Không dám nhìn xuống + Chân run, nói không ra lời - Được thả xuống chạy biến về nhà… Lưu ý: - Yếu tố miêu tả: “Quái vật to gồ gồ… thực tinh” - Yếu tố miêu tả giúp người đọc hình dung một cách rõ ràng cụ thể hơn sự vật, sự việc được kể. Ở đây là hình dung rõ nét về đặc điểm hình dáng, màu sắc tên gọi… của Cồ Cộ |
|
Kết bài |
0,5 |
- Nhận xét, suy ngẫm về Cồ Cộ… - Rút ra bài học cho bản thân… |
|
Yêu cầu khác |
0,5 |
- Bài viết thể hiện rõ đặc trưng thể loại: tự sự - Dùng ngôi kể thứ nhất phải nhất quán, hợp lí |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 8
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
TỪ NHỮNG DẤU CHÂN NGƯỜI
(Đinh Nam Khương)
Tháng mười khi lúa gặt xong
Còn trơ chân rạ với đồng – Đồng ơi!
Lúa đi để lại tháng mười
Và cơn gió thổi rỗng trời ở trên!...
Trời cao – Bỗng vút cao thêm
Bâng khuâng!... Vì hẫng chân đêm mất rồi
Gặt rồi – còn gốc ra thôi
Và bao nhiêu dấu chân người mới nguyên
Giữa đồng tôi đứng lặng yên
Chân tôi chân rạ sát liền bên nhau
Nghe trong những vũng chân trâu
Tiếng chân con nhái đạp màu đất non
Biết rằng sự sống mãi còn
Bánh chưng vuông, bánh dày tròn là đây
Cho dù bão tốc chân mây
Cũng không tốc nổi đường cày của tôi
Dù cho lửa đốt chân trời
Cũng không cháy được tháng mười tháng năm
Tay tôi còn bón còn chăm
Thì đồng còn có tháng năm tháng mười
Ngày mai từ dấu chân người
Màu xanh lên!... Với chân trời... mở ra!...
Câu hỏi
Câu 1: Dòng nào nói lên đề tài và thể thơ của văn bản Từ những dấu chân người?
A. Quê hương; Ca dao.
B. Người nông dân; Thể thơ lục bát.
C. Đồng ruộng; Thể thơ tự do.
D. Niềm tin vào cuộc sống; Thể thơ lục bát.
Câu 2: Dòng nào nói lên đặc điểm của văn bản Từ những dấu chân người?
A. Cặp câu 6-8; gieo vần chân, ngắt nhịp chẵn, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh trắc.
B. Cặp câu 6-8; gieo vần lưng, ngắt nhịp lẻ, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh trắc.
C. Cặp câu 6-8; gieo vần chân, ngắt nhịp chẵn, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh bằng.
D. Cặp câu 6-8; gieo vần cách, ngắt nhịp chẵn, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh trắc.
Câu 3: Dòng nào KHÔNG nói lên căn cứ để xác định đề tài của tác phẩm Từ
những dấu chân người?
A. Vũng chân trâu; tiếng chân con nhái đạp màu đất non.
B. Tháng mười tháng năm.
C. Dấu chân, cánh đồng mùa gặt.
D. Chân, đồng.
Câu 4: Đối tượng trữ tình của tác phẩm là:
A. Tiếng chân con nhái đạp màu đất non
B. Vũng chân trâu
C. Người nông dân; Cánh đồng khi đã gặt xong
D. Sự sống mãi còn
Câu 5: Con người lao động trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất đáng quý nào? Hãy phân tích hình ảnh hoặc thủ pháp nghệ thuật đã thể hiện rõ phẩm chất đáng quý của người lao động mà em cho là đặc sắc nhất? (1đ)
Câu 6: Em thấy mình cần học tập phẩm chất đáng quý nào ở nhân vật trữ tình và con người lao động? Vì sao? (trả lời bằng 5-7 câu văn) (1đ)
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
Câu 1: Quan sát hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (2đ)


a. Chọn câu thơ phù hợp từ bài thơ Từ những dấu chân người làm tựa đề cho từng bức ảnh trên
b. Lý giải sự tương đồng giữa các câu thơ và nội dung bức ảnh
Câu 2: Hãy viết bài văn thể hiện cảm nghĩ của em về hình ảnh những “dấu chân” trong bài thơ lục bát “Từ những dấu chân người” – Đinh Nam Khương (dài từ 1-1,5 trang) (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm
Đáp án
Đáp án đề 8
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
|
B |
A |
B |
C |
|
Câu 1: Dòng nào nói lên đề tài và thể thơ của văn bản Từ những dấu chân người? A. Quê hương; Ca dao. B. Người nông dân; Thể thơ lục bát. C. Đồng ruộng; Thể thơ tự do. D. Niềm tin vào cuộc sống; Thể thơ lục bát. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Nhớ lại kiến thức (dấu hiệu nhận biết) về thể thơ
Lời giải chi tiết:
Đề tài: Người nông dân, thể thơ: Lục bát
→ Đáp án B
|
Câu 2: Dòng nào nói lên đặc điểm của văn bản Từ những dấu chân người? A. Cặp câu 6-8; gieo vần chân, ngắt nhịp chẵn, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh trắc. B. Cặp câu 6-8; gieo vần lưng, ngắt nhịp lẻ, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh trắc. C. Cặp câu 6-8; gieo vần chân, ngắt nhịp chẵn, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh bằng. D. Cặp câu 6-8; gieo vần cách, ngắt nhịp chẵn, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh trắc. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý những đặc điểm hình thức của văn bản thơ
Lời giải chi tiết:
Đặc điểm của văn bản: Cặp câu 6-8; gieo vần chân, ngắt nhịp chẵn, tiếng 4 ở mỗi câu là thanh trắc.
→ Đáp án A
|
Câu 3: Dòng nào KHÔNG nói lên căn cứ để xác định đề tài của tác phẩm Từ những dấu chân người? A. Vũng chân trâu; tiếng chân con nhái đạp màu đất non. B. Tháng mười tháng năm. C. Dấu chân, cánh đồng mùa gặt. D. Chân, đồng. |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về đề tài
Lời giải chi tiết:
Dòng không nói lên căn cứ để xác định đề tài: Tháng mười tháng năm. (đây chỉ đơn thuần là những câu từ chỉ thời gian)
→ Đáp án B
|
Câu 4: Đối tượng trữ tình của tác phẩm là: A. Tiếng chân con nhái đạp màu đất non B. Vũng chân trâu C. Người nông dân; Cánh đồng khi đã gặt xong D. Sự sống mãi còn |
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những chi tiết nổi bật
Lời giải chi tiết
Đối tượng trữ tình của văn bản là Người nông dân; Cánh đồng khi đã gặt xong
→ Đáp án C
Câu 5: Con người lao động trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất đáng quý nào? Hãy phân tích hình ảnh hoặc thủ pháp nghệ thuật đã thể hiện rõ phẩm chất đáng quý của người lao động mà em cho là đặc sắc nhất? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý những phẩm chất đáng quý được đề cập
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
- Phẩm chất: Chăm chỉ, miệt mài lao động; kiên cường, nhẫn nại đối mặt với khó khăn; tin, yêu cuộc sống của mình
- Học sinh tự chọn được câu thơ thể hiện rõ phẩm chất của người lao động và phân tích câu thơ đó (gọi tên biện pháp nghệ thuật, phân tích hiệu quả thẩm mĩ…)
Câu 6: Em thấy mình cần học tập phẩm chất đáng quý nào ở nhân vật trữ tình và con người lao động? Vì sao? (trả lời bằng 5-7 câu văn) (1đ)
Phương pháp giải:
Nêu quan điểm của bản thân và đưa ra lý giải phù hợp
Lời giải chi tiết:
- HS xác định, tự lí giải theo cách hiểu và lựa chọn của cá nhân (có thể là phẩm chất mình đã sẵn có nay cần hiểu bồi đắp thêm, hoặc phẩm chất mình chưa có cần rèn luyện, bổ xung)
- Xác định phẩm chất cần bám sát văn bản; lí giải cần hợp lí, logic và phù hợp với văn háo dân tộc…
- Diễn đạt: rõ ý, biết liên kết câu
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
a. Chọn câu thơ phù hợp từ bài thơ Từ những dấu chân người làm tựa đề cho từng bức ảnh trên
Phương pháp giải:
HS tự trả lời theo nhận thức của cá nhân
Lời giải chi tiết:
- Tham khảo gợi ý:
+ Bức tranh 1: Cho dù bão tốc chân mây/ Cũng không tốc nổi đường cày của tôi
+ Bức tranh 2: Tay tôi còn bón còn chăm/ Thì đồng còn có tháng năm tháng mười
b. Lý giải sự tương đồng giữa các câu thơ và nội dung bức ảnh
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản và quan sát kĩ bức ảnh
Lời giải chi tiết
+ Bức ảnh 1: Hình ảnh người cày ruộng dưới mưa tương đồng với nội dung câu thơ: Cho dù bão tốc chân mây/ Cũng không tốc nổi đường cày của tôi
→ Thời tiết khắc nghiệt không ngăn cản được khát vọng của con người
+ Bức ảnh 2: hình ảnh mùa gặt – mùa vàng tương đồng với nội dung câu thơ (còn có tháng năm tháng mười)
→ Có công sức con người là có mùa gặt, có thu hoạch
II. TẠO LẬP VĂN BẢN
Câu 2: Hãy viết bài văn thể hiện cảm nghĩ của em về hình ảnh những “dấu chân” trong bài thơ lục bát “Từ những dấu chân người” – Đinh Nam Khương (dài từ 1-1,5 trang) (4đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Hãy viết bài văn thể hiện cảm nghĩ của em về hình ảnh những “dấu chân” trong bài thơ lục bát “Từ những dấu chân người” – Đinh Nam Khương |
|
|
Yêu cầu cần đạt |
Điểm |
|
- Trình bày đúng hình thức bài văn - Dùng từ hợp lý, diễn đạt rõ ý - Chữ sạch sẽ, rõ ràng |
0,5 |
|
Nội dung hướng vào cảm xúc về sự sống, niềm tin của nhân vật trữ tình - Cảm nghĩ về sự sống từ những “dấu chân” → Chọn dẫn chứng phù hợp với nhận định - Trình bày theo trình tự hợp lí |
2 |
|
- Đánh giá giá trị của đoạn thơ và sự tác động của đoạn thơ tới nhận thức, cảm xúc của mình |
0,75 |
|
Khuyến khích sáng tạo hợp lí trong góc nhìn; cách cảm nhận, hình thức bộc lộ cảm xúc… |
0,75 |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 9
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
TỪ NHỮNG DẤU CHÂN NGƯỜI
(Đinh Nam Khương)
Tháng mười khi lúa gặt xong
Còn trơ chân rạ với đồng – Đồng ơi!
Lúa đi để lại tháng mười
Và cơn gió thổi rỗng trời ở trên!...
Trời cao – Bỗng vút cao thêm
Bâng khuâng!... Vì hẫng chân đêm mất rồi
Gặt rồi – còn gốc ra thôi
Và bao nhiêu dấu chân người mới nguyên
Giữa đồng tôi đứng lặng yên
Chân tôi chân rạ sát liền bên nhau
Nghe trong những vũng chân trâu
Tiếng chân con nhái đạp màu đất non
Biết rằng sự sống mãi còn
Bánh chưng vuông, bánh dày tròn là đây
Cho dù bão tốc chân mây
Cũng không tốc nổi đường cày của tôi
Dù cho lửa đốt chân trời
Cũng không cháy được tháng mười tháng năm
Tay tôi còn bón còn chăm
Thì đồng còn có tháng năm tháng mười
Ngày mai từ dấu chân người
Màu xanh lên!... Với chân trời... mở ra!...
Câu hỏi
Câu 1: Nhân vật trữ tình của tác phẩm là?
A. Người con xa quê
B. Người trí thức nghĩ về nông dân
C. Người nông dân đang sống và lao động trên quê hương mình
D. Người yêu làng quê đang ngắm nhìn cánh đồng mùa gặt
Câu 2: Nhân vật trữ tình “bâng khuâng” trước những âm thanh, hình ảnh nào?
A. Dấu chân người mới nguyên; tiếng chân nhái đạp màu đất non
B. Bánh chưng vuông, bánh dày tròn
C. Gió thổi; trời cao
D. Đường cày; màu xanh
Câu 3: Tác giả sử dụng phép tu từ/ nghệ thuật ẩn dụ trong dòng thơ nào sau đây?
A. Và cơn gió thổi bỗng trời ở trên!...
B. Trời cao – Bỗng vút cao thêm
C. Bâng khuâng!... Vì hẫng chân đêm mất rồi
D. Gặt rồi – còn gốc rạ thôi
Câu 4: Tác giả sử dụng phép tu từ nào ở dòng thơ Còn trơ chân rạ với đồng – Đồng ơi!?
A. Ẩn dụ
B. Hoán dụ
C. Nhân hóa
D. So sánh
Câu 5: Con người lao động trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất đáng quý nào? Hãy phân tích hình ảnh hoặc thủ pháp nghệ thuật đã thể hiện rõ phẩm chất đáng quý của người lao động mà em cho là đặc sắc nhất? (1đ)
Câu 6: Em thấy mình cần học tập phẩm chất đáng quý nào ở nhân vật trữ tình và con người lao động? Vì sao? (trả lời bằng 5-7 câu văn) (1đ)
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
Câu 1: Quan sát hình ảnh sau và trả lời câu hỏi a,b (2đ)


a. Chọn câu thơ phù hợp từ bài thơ Từ những dấu chân người làm tựa đề cho từng bức ảnh trên
b. Lý giải sự tương đồng giữa các câu thơ và nội dung bức ảnh
Câu 2: Hãy viết bài văn thể hiện cảm nghĩ của em về hình ảnh những “dấu chân” trong bài thơ lục bát “Từ những dấu chân người” – Đinh Nam Khương (dài từ 1-1,5 trang) (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 9
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
|
C |
A |
C |
C |
|
Câu 1: Nhân vật trữ tình của tác phẩm là? A. Người con xa quê B. Người trí thức nghĩ về nông dân C. Người nông dân đang sống và lao động trên quê hương mình D. Người yêu làng quê đang ngắm nhìn cánh đồng mùa gặt |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ tác phẩm
Lời giải chi tiết:
Nhân vật trữ tình của tác phẩm là Người nông dân đang sống và lao động trên quê hương mình
→ Đáp án C
|
Câu 2: Nhân vật trữ tình “bâng khuâng” trước những âm thanh, hình ảnh nào? A. Dấu chân người mới nguyên; tiếng chân nhái đạp màu đất non B. Bánh chưng vuông, bánh dày tròn C. Gió thổi; trời cao D. Đường cày; màu xanh |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình cảm thấy “bâng khuâng”
Lời giải chi tiết:
Những hình ảnh khiến nhân vật trữ tình cảm thấy “bâng khuâng”: Dấu chân người mới nguyên; tiếng chân nhái đạp màu đất non
→ Đáp án A
|
Câu 3: Tác giả sử dụng phép tu từ/ nghệ thuật ẩn dụ trong dòng thơ nào sau đây? A. Và cơn gió thổi bỗng trời ở trên!... B. Trời cao – Bỗng vút cao thêm C. Bâng khuâng!... Vì hẫng chân đêm mất rồi D. Gặt rồi – còn gốc rạ thôi |
Phương pháp giải:
Nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết:
Tác giả sử dụng biện pháp ẩn dụ trong dòng thơ Bâng khuâng!... Vì hẫng chân đêm mất rồi
→ Đáp án C
|
Câu 4: Tác giả sử dụng phép tu từ nào ở dòng thơ Còn trơ chân rạ với đồng – Đồng ơi!? A. Ẩn dụ B. Hoán dụ C. Nhân hóa D. So sánh |
Phương pháp giải
Nhớ lại kiến thức về biện pháp tu từ
Lời giải chi tiết
Câu thơ trên sử dụng biện pháp nhân hóa: gọi cánh đồng như với con người: “Đồng ơi!”
→ Đáp án C
Câu 5: Con người lao động trong bài thơ hiện lên với những phẩm chất đáng quý nào? Hãy phân tích hình ảnh hoặc thủ pháp nghệ thuật đã thể hiện rõ phẩm chất đáng quý của người lao động mà em cho là đặc sắc nhất? (1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản, chú ý những phẩm chất đáng quý được đề cập
Nhớ lại kiến thức về biện pháp nghệ thuật
Lời giải chi tiết:
- Phẩm chất: Chăm chỉ, miệt mài lao động; kiên cường, nhẫn nại đối mặt với khó khăn; tin, yêu cuộc sống của mình
- Học sinh tự chọn được câu thơ thể hiện rõ phẩm chất của người lao động và phân tích câu thơ đó (gọi tên biện pháp nghệ thuật, phân tích hiệu quả thẩm mĩ…)
Câu 6: Em thấy mình cần học tập phẩm chất đáng quý nào ở nhân vật trữ tình và con người lao động? Vì sao? (trả lời bằng 5-7 câu văn) (1đ)
Phương pháp giải:
Nêu quan điểm của bản thân và đưa ra lý giải phù hợp
Lời giải chi tiết:
- HS xác định, tự lí giải theo cách hiểu và lựa chọn của cá nhân (có thể là phẩm chất mình đã sẵn có nay cần hiểu bồi đắp thêm, hoặc phẩm chất mình chưa có cần rèn luyện, bổ xung)
- Xác định phẩm chất cần bám sát văn bản; lí giải cần hợp lí, logic và phù hợp với văn háo dân tộc…
- Diễn đạt: rõ ý, biết liên kết câu
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
a. Chọn câu thơ phù hợp từ bài thơ Từ những dấu chân người làm tựa đề cho từng bức ảnh trên
Phương pháp giải:
HS tự trả lời theo nhận thức của cá nhân
Lời giải chi tiết:
- Tham khảo gợi ý:
+ Bức tranh 1: Cho dù bão tốc chân mây/ Cũng không tốc nổi đường cày của tôi
+ Bức tranh 2: Tay tôi còn bón còn chăm/ Thì đồng còn có tháng năm tháng mười
b. Lý giải sự tương đồng giữa các câu thơ và nội dung bức ảnh
Phương pháp giải
Đọc kĩ văn bản và quan sát kĩ bức ảnh
Lời giải chi tiết
+ Bức ảnh 1: Hình ảnh người cày ruộng dưới mưa tương đồng với nội dung câu thơ: Cho dù bão tốc chân mây/ Cũng không tốc nổi đường cày của tôi
→ Thời tiết khắc nghiệt không ngăn cản được khát vọng của con người
+ Bức ảnh 2: hình ảnh mùa gặt – mùa vàng tương đồng với nội dung câu thơ (còn có tháng năm tháng mười)
→ Có công sức con người là có mùa gặt, có thu hoạch
II. TẠO LẬP VĂN BẢN
Câu 2: Hãy viết bài văn thể hiện cảm nghĩ của em về hình ảnh những “dấu chân” trong bài thơ lục bát “Từ những dấu chân người” – Đinh Nam Khương (dài từ 1-1,5 trang) (4đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Hãy viết bài văn thể hiện cảm nghĩ của em về hình ảnh những “dấu chân” trong bài thơ lục bát “Từ những dấu chân người” – Đinh Nam Khương |
|
|
Yêu cầu cần đạt |
Điểm |
|
- Trình bày đúng hình thức bài văn - Dùng từ hợp lý, diễn đạt rõ ý - Chữ sạch sẽ, rõ ràng |
0,5 |
|
Nội dung hướng vào cảm xúc về sự sống, niềm tin của nhân vật trữ tình - Cảm nghĩ về sự sống từ những “dấu chân” → Chọn dẫn chứng phù hợp với nhận định - Trình bày theo trình tự hợp lí |
2 |
|
- Đánh giá giá trị của đoạn thơ và sự tác động của đoạn thơ tới nhận thức, cảm xúc của mình |
0,75 |
|
Khuyến khích sáng tạo hợp lí trong góc nhìn; cách cảm nhận, hình thức bộc lộ cảm xúc… |
0,75 |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 Kết nối tri thức - Đề số 10
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4đ)
Học sinh đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi phía dưới
QUÊ HƯƠNG
(Nguyễn Đình Huân)
Quê hương là một tiếng ve
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ
Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
Quê hương là tiếng sáo diều
Là cánh cò trắng chiều chiều chân đê
Quê hương là phiên chợ quê
Chợ trưa mong mẹ mang về bánh đa
Quê hương là một tiếng gà
Bình minh gáy sáng ngân nga xóm làng
Quê hương là cánh đồng vàng
Hương thơm lúa chín mênh mang trời chiều
Quê hương là dáng mẹ yêu
Áo nâu nón lá liêu xiêu đi về
[...]
Quê hương là những cơn mưa
Quê hương là những hàng dừa ven kinh
Quê hương mang nặng nghĩa tình
Chôn rau cắt rốn người ơi nhớ về.
(https://by.com.vn/xzpOX)
Câu hỏi
Câu 1: Đáp án nào nói lên đề tài của văn bản Quê hương?
A. Dòng sông.
B. Mẹ.
C. Quê hương
D. Góc trời tuổi thơ.
Câu 2: Bài thơ trên thuộc thể thơ nào? Những căn cứ nào giúp em xác nhận điều đó?
A. Thể thơ lục bát; gieo vần chân và ngắt nhịp chẵn.
B. Thể thơ lục bát, số tiếng ở từng cặp câu là 6-8; gieo vần chân và ngắt nhịp chẵn.
C. Thể thơ tự do xen lục bát; gieo vần chân và ngắt nhịp chẵn.
D. Thể thơ lục bát biến thể, gieo vần liền và ngắt nhịp chẵn, lẻ.
Câu 3: Nhân vật trữ tình trong văn bản Quê hương là người:
A. Nhớ, yêu tha thiết quê hương.
B. Buồn vì đã xa quê.
C. Không biết quê hương đã đổi thay thế nào.
D. Trở về quê cũ trong tâm trạng buồn thương.
Câu 4: Văn bản Quê hương dùng cách gieo vần nào sau đây?
A. Vần cách
B. Vần chân
C. Vần lưng
D. Vần liền
Câu 5: Những hình ảnh, câu thơ nào trong văn bản trên cho biết tác giả đang nhớ về quê hương tuổi thơ của mình? Có hình ảnh, câu thơ nào gợi nhắc em nhớ tới quê hương của mình không?(1đ)
Câu 6: Em thích hình ảnh quê hương trong bài thơ trên ở thời điểm nào (bình minh, trưa hè, chiều về)? Hãy viết/ vẽ về khung cảnh đó theo ý thích của em (1đ)
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
Câu 1: Đọc hai đoạn văn bản sau và trả lời câu hỏi a,b (2đ)
|
Đoạn văn bản 1: Lục bát là thể thơ dân tộc mang đậm bản sắc và phong vị quê hương. Thơ lục bát rất dễ thuộc và dễ nhớ vì lời thơ giản dị, mộc mạc, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường. Câu thơ đọc lên mà cứ ngỡ là câu hát hay một bản nhạc, vừa có vần vừa có điệu nghe rất thanh thoát và êm tai. Có nhiều câu lục bát đã đi vào lòng người như một lời ru… (https://bom.so/Vqam0q) |
Đoạn văn bản 2: Thơ lục bát đã kế thừa được mạch nguồn của thể thơ truyền thống. Những câu thơ dù là tả cảnh hay tả tình đều nhẹ nhàng, cùng lối ví von, so sánh, ẩn dụ tinh tế nên có sức truyền cảm và gửi gắm những bài học sâu sắc, thế giới tuổi thơ được tái hiện thật dung dị và trong sáng. Trong thơ có âm thanh, nhạc điệu, sắc màu của sự sống, dễ hiểu và dễ cảm (nhóm tác giả sưu tầm và biên soạn) |
a. Xác định điểm tương đồng và điểm riêng biệt của từng văn bản trên
b. Hãy chọn nhận định phù hợp nhất với bài thơ Quê hương của Nguyễn Đình Huân
Câu 2: Hãy viết một đoạn văn thể hiện cảm nghĩ của mình về 4-6 câu thơ lục bát mà em thích nhất trong bài thơ trên. Yêu cầu trích dẫn hợp lý 1 nhận định (ở 1 đoạn văn bản trong câu hỏi 1) vào bài viết của mình (4đ)
-----Hết-----
- Học sinh không được sử dụng tài liệu.
- Giám thị không giải thích gì thêm.
Đáp án
Đáp án đề 10
Phần I. ĐỌC HIỂU
|
Câu 1 |
Câu 2 |
Câu 3 |
Câu 4 |
|
C |
B |
A |
B |
|
Câu 1: Đáp án nào nói lên đề tài của văn bản Quê hương? A. Dòng sông. B. Mẹ. C. Quê hương D. Góc trời tuổi thơ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ văn bản
Chú ý tiêu đề văn bản
Lời giải chi tiết:
Đề tài của văn bản: Quê hương
→ Đáp án C
|
Câu 2: Bài thơ trên thuộc thể thơ nào? Những căn cứ nào giúp em xác nhận điều đó? A. Thể thơ lục bát; gieo vần chân và ngắt nhịp chẵn. B. Thể thơ lục bát, số tiếng ở từng cặp câu là 6-8; gieo vần chân và ngắt nhịp chẵn. C. Thể thơ tự do xen lục bát; gieo vần chân và ngắt nhịp chẵn. D. Thể thơ lục bát biến thể, gieo vần liền và ngắt nhịp chẵn, lẻ. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Nhớ lại kiến thức về thể thơ
Lời giải chi tiết:
Bài thơ thuộc thể thơ lục bát, số tiếng ở từng cặp câu là 6-8; gieo vần chân và ngắt nhịp chẵn.
→ Đáp án B
|
Câu 3: Nhân vật trữ tình trong văn bản Quê hương là người: A. Nhớ, yêu tha thiết quê hương. B. Buồn vì đã xa quê. C. Không biết quê hương đã đổi thay thế nào. D. Trở về quê cũ trong tâm trạng buồn thương. |
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý những chi tiết tác giả nói về quê hương
Lời giải chi tiết:
Bao trùm toàn bài là nỗi niềm nhớ, yếu tha thiết quê hương của tác giả
→ Đáp án A
|
Câu 4: Văn bản Quê hương dùng cách gieo vần nào sau đây? A. Vần cách B. Vần chân C. Vần lưng D. Vần liền |
Phương pháp giải
Nhớ lại kiến thức phần gieo vần
Lời giải chi tiết
Bài thơ được gieo vần chân:
Lời ru của mẹ trưa hè à ơi
Dòng sông con nước đầy vơi
Quê hương là một góc trời tuổi thơ
Quê hương ngày ấy như mơ
→ Đáp án B
Câu 5: Những hình ảnh, câu thơ nào trong văn bản trên cho biết tác giả đang nhớ về quê hương tuổi thơ của mình? Có hình ảnh, câu thơ nào gợi nhắc em nhớ tới quê hương của mình không?(1đ)
Phương pháp giải:
Đọc kĩ bài thơ
Chú ý những hình ảnh cho thấy nỗi nhớ của tác giả
Lời giải chi tiết:
- Nhớ về quê hương tuổi thơ:
Quê hương là một góc trời tuổi thơ
Quê hương ngày ấy như mơ
Tôi là cậu bé dại khờ đáng yêu
- Hình ảnh, câu thơ nào gợi nhắc em nhớ tới quê hương: Học sinh tự làm (gợi ý: lấy các hình ảnh thơ làm điểm tựa, từ đó đối chiếu với cảnh sắc, con người ở quê mình để xác định câu thơ gợi nhắc quê hương mình)
Câu 6: Em thích hình ảnh quê hương trong bài thơ trên ở thời điểm nào (bình minh, trưa hè, chiều về)? Hãy viết/ vẽ về khung cảnh đó theo ý thích của em (1đ)
Phương pháp giải:
Nêu quan điểm của bản thân và đưa ra lý giải phù hợp
Lời giải chi tiết:
- HS tự trả lời theo sở thích cá nhân
- Tham khảo gợi ý:
+ Chọn thời điểm mà em hay thích ngắm cảnh
+ Chọn câu thơ tương ứng
+ Nói rõ lí do mình lựa chọn (2 lí do: câu thơ gợi hình ảnh, sự tác động tới cảm xúc cá nhân từ hình ảnh đó, tình cảm của tác giả…)
PHẦN II. TẠO LẬP VĂN BẢN (6đ)
a. Xác định điểm tương đồng và điểm riêng biệt của từng văn bản trên
Phương pháp giải:
Đọc kĩ hai văn bản
Lời giải chi tiết:
- Điểm chung: Cùng viết về vẻ đẹp, sức hấp dẫn của thể thơ lục bát
- Điểm riêng:
+ Đoạn văn bản 1: Viết về ngôn ngữ và âm điệu (nhịp vần) của thơ lục bát
+ Đoạn văn bản 2:Viết về vẻ đẹp tinh tế, sâu sắc của thơ lục bát (nghệ thuật, bài học) phù hợp với tuổi thơ
b. Hãy chọn nhận định phù hợp nhất với bài thơ Quê hương của Nguyễn Đình Huân
Phương pháp giải
Hs lựa chọn theo nhận thức của cá nhân
Lời giải chi tiết
- Gợi ý tham khảo:
+ “…dù là tả cảnh hay tả tình đều nhẹ nhàng, cùng lối ví von, so sánh, ẩn dụ tinh tế nên có sức truyền cảm… thế giới tuổi thơ được tái hiện thật dung dị và trong sáng”
+ “… rất dễ thuộc và dễ nhớ vì lời thơ giản dị, mộc mạc, có sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ đời thường
II. TẠO LẬP VĂN BẢN
Câu 2: Hãy viết một đoạn văn thể hiện cảm nghĩ của mình về 4-6 câu thơ lục bát mà em thích nhất trong bài thơ trên. Yêu cầu trích dẫn hợp lý 1 nhận định (ở 1 đoạn văn bản trong câu hỏi 1) vào bài viết của mình (4đ)
Phương pháp giải:
Dựa vào kiến thức và kĩ năng đã học để thực hiện bài văn
Lời giải chi tiết:
|
Hãy viết một đoạn văn thể hiện cảm nghĩ của mình về 4- 6 câu thơ lục bát (mà em thích nhất) trong bài thơ trên. Yêu cầu trích dẫn hợp lí một nhận định |
|
|
Yêu cầu cần đạt |
Điểm |
|
- HS lựa chọn được đoạn thơ về mẹ/ quê hương - Trình bày đúng hình thức đoạn văn - Dùng từ hợp lý, diễn đạt rõ ý; chữ sạch sẽ, rõ ràng |
0,5 |
|
Nội dung chính hướng vào: - Cảm nghĩ về nội dung/ hình thức (quê hương qua âm thanh, hình ảnh; cách gieo vần, nhịp) của đoạn thơ - Cảm nghĩ về tình cảm của nhân vật trữ tình dành cho mẹ/ quê hương - Trình bày theo trình tự hợp lí |
2 |
|
Đánh giá giá trị của đoạn thơ và sự tác động của đoạn thơ tới tâm hồn mình |
0,75 |
|
Khuyến khích sáng tạo hợp lí của học sinh |
0,75 |
trithuchub.com
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 - Đề số 12
Đề thi
Phần I: Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
"Có những đêm dài gió lạnh, tôi nằm nghe tiếng mưa rơi ngoài hiên, nhớ về những năm tháng tuổi thơ. Ngày ấy, chúng tôi thường cùng nhau ra đồng bắt ốc, thả diều dưới trời xanh, cùng nhau cười đùa vô tư. Mỗi lần nhớ về ký ức đó, tôi luôn cảm thấy trái tim mình ấm áp lạ thường."
Câu 1 (1 điểm). Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Câu 2 (1 điểm). Hình ảnh “những năm tháng tuổi thơ” trong đoạn trích gợi lên cho em suy nghĩ gì về tuổi thơ của tác giả?
Câu 3 (1 điểm). Theo em, tác giả muốn truyền tải thông điệp gì qua đoạn trích này?
Câu 4 (1 điểm). Tìm một từ ghép trong đoạn trích và cho biết tác dụng của từ gép đó.
Phần II: Tập làm văn (6 điểm)
Câu 1 (2 điểm). Viết đoạn văn khoảng 8-10 câu kể về một kỉ niệm đáng nhớ của em với bạn bè hoặc người thân trong gia đình.
Câu 2 (4 điểm). Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về tầm quan trọng của việc biết yêu thương và sẻ chia trong cuộc sống.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? |
Phương pháp:
Xác định phương thức biểu đạt qua cách thức diễn đạt và mục đích của đoạn trích
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng phương thức biểu đạt tự sự (kể chuyện) vì nó kể lại những kỷ niệm, sự việc đã xảy ra trong quá khứ
Câu 2.
|
Hình ảnh “những năm tháng tuổi thơ” trong đoạn trích gợi lên cho em suy nghĩ gì về tuổi thơ của tác giả? |
Phương pháp:
Đọc kỹ đoạn trích và liên hệ với tuổi thơ của chính mình để hiểu ý nghĩa của hình ảnh "những năm tháng tuổi thơ."
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh "những năm tháng tuổi thơ" gợi lên sự hồn nhiên, trong sáng và những kỷ niệm đẹp của thời thơ ấu mà tác giả luôn nhớ đến. Đây là khoảng thời gian hạnh phúc và ấm áp trong ký ức của tác giả.
Câu 3.
|
Theo em, tác giả muốn truyền tải thông điệp gì qua đoạn trích này? |
Phương pháp:
Phân tích nội dung của đoạn trích để rút ra thông điệp mà tác giả muốn truyền tải.
Lời giải chi tiết:
Tác giả muốn truyền tải thông điệp rằng những kỷ niệm thời thơ ấu luôn để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người, và đôi khi, nhớ về chúng giúp ta cảm thấy an yên, hạnh phúc hơn
Câu 4.
|
Tìm một từ ghép trong đoạn trích và cho biết tác dụng của từ ghép đó. |
Phương pháp:
Xác định từ ghép trong đoạn trích và phân tích tác dụng tạo cảm xúc, hình ảnh mà từ láy mang lại
Lời giải chi tiết:
Từ ghép "lạ thường" trong câu "trái tim mình ấm áp lạ thường" nhấn mạnh cảm giác ấm áp đặc biệt mà tác giả cảm nhận được khi nhớ về tuổi thơ, tạo nên sự ấn tượng về một điều gì đó khác biệt và sâu sắc.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn khoảng 8-10 câu kể về một kỉ niệm đáng nhớ của em với bạn bè hoặc người thân trong gia đình. |
Phương pháp:
- Xác định kỷ niệm đáng nhớ nhất của bản thân với bạn bè hoặc người thân.
- Viết đoạn văn theo trình tự thời gian, miêu tả sự kiện đã xảy ra, cảm xúc và ý nghĩa mà kỷ niệm mang lại.
Lời giải chi tiết:
- Mở đoạn: Giới thiệu kỷ niệm đáng nhớ, có thể là một lần đi chơi, một trải nghiệm cùng người thân/bạn bè.
- Thân đoạn: Miêu tả chi tiết sự kiện diễn ra, cảm xúc của em và người liên quan.
- Kết đoạn: Nêu cảm nhận và bài học rút ra từ kỷ niệm đó.
Câu 2.
|
Viết bài văn nêu suy nghĩ của em về tầm quan trọng của việc biết yêu thương và sẻ chia trong cuộc sống. |
Phương pháp:
- Sử dụng kiến thức thực tế và liên hệ với các giá trị đạo đức về tình yêu thương, sự sẻ chia.
- Viết bài văn theo bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu về ý nghĩa của tình yêu thương và sự sẻ chia trong cuộc sống.
2. Thân bài:
- Giải thích vì sao yêu thương và sẻ chia là quan trọng:
+ Sự yêu thương giúp gắn kết con người.
+ Sẻ chia giúp giảm bớt khó khăn, đem lại niềm vui cho bản thân và người khác.
- Đưa ra ví dụ về những hành động yêu thương và sẻ chia trong thực tế (trong gia đình, trường học, xã hội).
- Phân tích tác động tích cực của việc biết yêu thương, sẻ chia đối với bản thân và cộng đồng.
3. Kết bài: Khẳng định lại tầm quan trọng của tình yêu thương và sự sẻ chia, rút ra bài học cá nhân về việc áp dụng những giá trị này trong cuộc sống.
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 - Đề số 13
Đề thi
Phần I: Đọc hiểu (4 điểm)
Đọc đoạn trích sau và trả lời các câu hỏi:
"Chú chim nhỏ đậu trên cành, cất tiếng hót vang làm bừng tỉnh cả khu vườn yên ả. Cả cánh đồng lúa trước mặt cũng xanh mướt như vừa được tắm táp bởi nắng sớm. Cảm giác yên bình làm tôi nhớ về tuổi thơ, những ngày rong chơi trên đồng ruộng, cười nói vô tư với đám bạn."
Câu 1 (1 điểm). Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào?
Câu 2 (1 điểm). Tác giả muốn thể hiện điều gì qua hình ảnh “chú chim nhỏ” và “cánh đồng lúa”?
Câu 3 (1 điểm). Hãy nêu nội dung chính của đoạn trích trên.
Câu 4 (1 điểm). Tìm các từ ngữ miêu tả trong đoạn trích và nêu tác dụng của chúng.
Phần II: Tập làm văn (6 điểm)
Câu 1 (2 điểm). Viết đoạn văn khoảng 8-10 câu kể về một lần em làm việc tốt giúp đỡ người khác.
Câu 2 (4 điểm). Viết bài văn ngắn (khoảng 1 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về tầm quan trọng của tình bạn trong cuộc sống.
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
|
Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? |
Phương pháp:
Xác định phương thức biểu đạt dựa trên nội dung và mục đích của đoạn trích.
Lời giải chi tiết:
Đoạn trích sử dụng phương thức miêu tả, vì nó miêu tả cảnh vật thiên nhiên và cảm xúc của tác giả.
Câu 2.
|
Đoạn trích trên sử dụng phương thức biểu đạt nào? |
Phương pháp:
Phân tích ý nghĩa của các hình ảnh được miêu tả trong đoạn trích.
Lời giải chi tiết:
Hình ảnh "chú chim nhỏ” và “cánh đồng lúa” thể hiện sự yên bình, tĩnh lặng của thiên nhiên, gợi lên những kỷ niệm đẹp về tuổi thơ hồn nhiên, trong sáng của tác giả.
Câu 3.
|
Hãy nêu nội dung chính của đoạn trích trên. |
Phương pháp:
Xác định nội dung chính của đoạn trích thông qua việc miêu tả cảnh vật và cảm xúc của nhân vật.
Lời giải chi tiết:
Nội dung chính của đoạn trích là sự hồi tưởng về tuổi thơ của nhân vật qua cảnh thiên nhiên tươi đẹp và yên bình
Câu 4.
|
Tìm các từ ngữ miêu tả trong đoạn trích và nêu tác dụng của chúng. |
Phương pháp:
Tìm từ ngữ miêu tả và phân tích tác dụng của chúng.
Lời giải chi tiết:
Các từ ngữ miêu tả như “chú chim nhỏ”, “cất tiếng hót”, “bừng tỉnh”, “khu vườn yên ả” giúp làm nổi bật sự sống động của thiên nhiên và gợi lên cảm giác bình yên trong lòng người đọc.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
|
Viết đoạn văn khoảng 8-10 câu kể về một lần em làm việc tốt giúp đỡ người khác. |
Phương pháp:
- Lựa chọn một lần làm việc tốt mà em nhớ nhất.
- Viết đoạn văn theo trình tự thời gian: giới thiệu, miêu tả hành động và kết quả.
Lời giải chi tiết:
- Mở đoạn: Giới thiệu lần làm việc tốt (giúp đỡ người khác như nhặt đồ rơi, giúp đỡ người già, v.v.)
- Thân đoạn: Miêu tả hành động em đã làm và phản ứng của người nhận được sự giúp đỡ.
- Kết đoạn: Nêu cảm nhận của em sau khi làm việc tốt.
Câu 2.
|
Viết bài văn ngắn (khoảng 1 trang giấy thi) trình bày suy nghĩ của em về tầm quan trọng của tình bạn trong cuộc sống |
Phương pháp:
- Xác định tầm quan trọng của tình bạn trong cuộc sống.
- Viết bài theo bố cục 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài.
Lời giải chi tiết:
1. Mở bài: Giới thiệu về tình bạn và vai trò quan trọng của nó trong cuộc sống.
2. Thân bài:
- Giải thích tại sao tình bạn lại quan trọng:
+ Bạn bè là người chia sẻ niềm vui, nỗi buồn.
+ Tình bạn giúp ta có động lực vượt qua khó khăn.
- Nêu ví dụ về tình bạn trong cuộc sống hằng ngày (trong gia đình, trường học).
- Phân tích tầm ảnh hưởng của tình bạn đối với cuộc sống và sự trưởng thành.
3. Kết bài: Khẳng định lại vai trò quan trọng của tình bạn, nêu cảm nghĩ của em về việc trân trọng và giữ gìn tình bạn.
Đề thi giữa kì 1 Văn 6 - Đề số 14
Đề thi
I. ĐỌC HIỂU (4,0 điểm)
Đọc văn bản sau và trả lời các câu hỏi:
Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân. Thần mình rồng, thường ở dưới nước, thỉnh thoảng lên sống trên cạn, sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ. Thần giúp nhân dân diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh - những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở. Xong việc, thần thường về thủy cung với mẹ, khi có việc cần, thần mới hiện lên.
Bấy giờ, ở vùng núi cao phương Bắc, có nàng Âu Cơ thuộc dòng họ Thần Nông, xinh đẹp tuyệt trần. Nghe tiếng vùng đất Lạc có nhiều hoa thơm cỏ lạ, bèn tìm đến thăm. Âu Cơ và Lạc Long Quân gặp nhau, đèm lòng yêu thương, rồi trở thành vợ chồng, cùng nhau chung sống trên cạn ở điện Long Trang.
Ít lâu sau, Âu Cơ có mang. Đến kì sinh, chuyện thật lạ, nàng sinh ra một cái bọc trăm trứng nở ra một trăm người con hồng hào, đẹp đẽ lạ thường. Đàn con không cần bú mớm mà tự lớn lên như thổi, mặt mũi khôi ngô, khỏe mạnh như thần.
Thế rồi một hôm, Lạc Long Quân vốn quen ở nước cảm thấy mình không thể sống mãi trên cạn được, đành từ biệt Âu Cơ và đàn con để trở về thủy cung. Âu cơ ở lại một mình nuôi con, tháng ngày chờ mong, buồn tủi. Cuối cùng nàng gọi chồng lên và than thở:
– Sao chàng bỏ thiếp mà đi, không cùng thiếp nuôi các con?
Lạc Long Quân nói:
– Ta vốn nòi rồng ở miền nước thẳm, nàng là giòng tiên ở chốn non cao. Kẻ ở cạn, người ở nước, tính tình tập quán khác nhau, khó mà ăn ở cùng nhau một nơi lâu dài được. Nay ta đưa năm mươi con xuống biển, nàng đưa năm mươi con lên núi, chia nhau cai quản các phương. Kẻ miền núi, người miền biển, khi có việc gì thì giúp đỡ lẫn nhau, đừng quên lời hẹn.
Âu Cơ và trăm con nghe theo, rồi chia tay nhau lên đường.
Người con trưởng theo Âu Cơ được tôn lên làm vua, lấy hiệu là Hùng Vương, đóng đô ở đất Phong Châu, đặt tên nước là Văn Lang. Triều đình có tướng văn, tướng võ; con trai vua gọi là lang, con gái vua gọi là mị nương; khi cha chết thì ngôi được truyền cho con trưởng, mười mấy đời truyền nối ngôi vua đều lấy hiệu là Hùng Vương, không hề thay đổi.
Cũng bởi sự tích này mà về sau, người Việt Nam ta – con cháu vua Hùng – khi nhắc đến nguồn gốc của mình, thường xưng là con Rồng cháu Tiên.
(Con Rồng cháu Tiên, Theo Nguyễn Đổng Chi, Ngữ văn 6, tập 1, NXB Giáo dục, 1989)
Câu 1 (0.5 điểm). Truyện “Con Rồng cháu Tiên” thuộc thể loại nào?
Câu 2 (0.5 điểm). Sắp xếp lại các sự việc sau theo đúng trình tự xảy ra trong truyện:
(1) Nàng Âu Cơ sinh nở kì lạ: Một bọc trứng nở ra 100 người con
(2) Giới thiệu Lạc Long Quân và Âu Cơ
(3) Âu Cơ và Lạc Long Quân chia con: 50 người con theo cha xuống biển, 50 người con theo mẹ lên núi
(4) Lạc Long Quân vì quen sống dưới nước bỏ Âu Cơ cùng 100 người con ở lại.
Câu 3 (1.0 điểm). Lời kể nào trong đoạn truyện có hàm ý rằng câu chuyện đã thực sự xảy ra trong quá khứ? Nhận xét về ý nghĩa của lời kể đó?
Câu 4 (1.0 điểm). Những đặc điểm nào của nhân vật Lạc Long Quân trong văn bản trên giúp em nhận biết đó là nhân vật truyền thuyết?
Câu 5 (1.0 điểm). Cho biết ý nghĩa của truyện “Con Rồng cháu Tiên”
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1 (2.0 điểm). Từ truyện Con Rồng cháu Tiên, anh/chị hãy viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích ý nghĩa của chi tiết bọc trăm trứng và sự ra đời của một trăm người con, qua đó làm rõ tư tưởng đoàn kết và niềm tự hào về nguồn gốc dân tộc của người Việt Nam.
Câu 2 (4.0 điểm). Hãy kể lại một truyện cổ tích hoặc truyền thuyết mà em đã đọc hoặc nghe kể (lưu ý: không sử dụng các truyện có trong SGK)
Đáp án
I. PHẦN ĐỌC HIỂU (4.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
Dựa vào đặc trưng thể loại
Lời giải:
Cho biết ý nghĩa của truyện “Con Rồng cháu Tiên”
Câu 2.
Phương pháp:
Đọc và xác định cốt truyện, các sự kiện chính
Lời giải:
(2), (1), (4), (3)
Câu 3.
Phương pháp:
Đọc và xác định yếu tố kì ảo
Lời giải:
- Lời kể: Ngày xưa, ở miền đất Lạc Việt, cứ như bây giờ là Bắc Bộ nước ta, có một vị thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ, tên là Lạc Long Quân.
- Nhận xét: Các sự kiện trong quá khứ rất gắn bó với nhân dân chúng ta. Muốn đưa phương pháp thuyết phục cho người đọc, người nghe tin rằng đây là câu chuyện có thật và được lưu giữ từ rất lâu
Câu 4.
Phương pháp:
Đọc và chú ý nhân vật Lạc Long Quân
Lời giải:
Đặc điểm của nhân vật truyền thuyết qua nhân vật Lạc Long Quân: thần thuộc nòi rồng, con trai thần Long Nữ; sức khỏe vô địch, có nhiều phép lạ; Thần giúp nhân dân diệt trừ Ngư Tinh, Hồ Tinh, Mộc Tinh - những loài yêu quái bấy lâu làm hại dân lành. Thần dạy dân cách trồng trọt, chăn nuôi và cách ăn ở.
Câu 5.
Phương pháp:
Từ nội dung rút ra ý nghĩa truyện
Lời giải:
Ý nghĩa của truyện giải thích nguồn gốc, tổ tiên của Người dân Việt Nam; ca ngợi công lao của Lạc Long Quân trong việc trừ yêu, diệt ma, chỉ dân cách trồng trọt, ăn ở.
PHẦN VIẾT (6.0 điểm)
Câu 1.
Phương pháp:
1. Mở đoạn
- Giới thiệu truyện Con Rồng cháu Tiên – truyền thuyết giải thích nguồn gốc dân tộc Việt.
- Nêu vấn đề: ý nghĩa chi tiết bọc trăm trứng và sự ra đời của một trăm người con.
2. Thân đoạn
- Giải thích: bọc trăm trứng → sinh ra trăm người con → biểu tượng độc đáo, khác thường.
- Ý nghĩa:
+ Khẳng định nguồn gốc chung, thiêng liêng của dân tộc.
+ Thể hiện sự gắn bó huyết thống, tình cảm ruột rà.
+ Đề cao tinh thần đoàn kết của cộng đồng người Việt dù ở miền núi hay miền biển.
+ Gieo niềm tự hào về dòng giống cao quý: “Con Rồng cháu Tiên”.
- Dẫn chứng: tinh thần đoàn kết xuyên suốt lịch sử → từ dựng nước thời Hùng Vương đến kháng chiến chống giặc ngoại xâm.
- Phản đề: Nếu quên đi nguồn cội, chia rẽ dân tộc → sức mạnh bị suy yếu.
3. Kết đoạn
- Khẳng định: chi tiết bọc trăm trứng là biểu tượng của tinh thần đoàn kết và niềm tự hào dân tộc.
- Liên hệ bản thân: cần biết trân trọng, gìn giữ truyền thống tốt đẹp.
Lời giải chi tiết:
Trong kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam, Con Rồng cháu Tiên là câu chuyện tiêu biểu giải thích nguồn gốc dân tộc. Nổi bật trong đó là chi tiết bọc trăm trứng nở ra một trăm người con. Đây là chi tiết kì ảo, mang tính biểu tượng sâu sắc. Bọc trăm trứng trước hết khẳng định sự ra đời thiêng liêng, cao quý của người Việt – con cháu của Lạc Long Quân và Âu Cơ. Một trăm người con tượng trưng cho sự thống nhất về huyết thống, tình cảm gắn bó như anh em trong một nhà. Khi chia nhau cai quản miền núi và miền biển, các con của Lạc Long Quân – Âu Cơ vẫn giữ lời hẹn “có việc thì giúp đỡ lẫn nhau”, khẳng định tinh thần đoàn kết bền chặt. Chính nhờ sức mạnh ấy mà dân tộc ta đã dựng nước từ buổi sơ khai, trải qua bao cuộc kháng chiến vẫn giữ vững non sông. Ngược lại, nếu quên đi cội nguồn, sống chia rẽ thì sức mạnh cộng đồng sẽ bị suy giảm. Chi tiết bọc trăm trứng vì thế không chỉ là huyền thoại về sự hình thành dân tộc mà còn gieo vào lòng mỗi người niềm tự hào, ý thức giữ gìn truyền thống. Hôm nay, chúng ta càng cần phát huy tinh thần đoàn kết ấy để xây dựng và bảo vệ đất nước giàu mạnh.
Câu 2.
Phương pháp:
1. Mở bài: giới thiệu
- Tên truyện: Cây vú sữa.
- Lí do muốn kể lại truyện: Cho em hiểu tình yêu bao la của mẹ và nhắc nhủ em đạo làm con.
2. Thân bài
- Trình bày:
+ Nhân vật: mẹ và cậu bé.
+ Hoàn cảnh xảy ra câu chuyện: mẹ mắng vầ cậu bé bỏ nhà đi.
- Kể chuyện theo trình tự thời gian:
+ Sự việc 1: Mẹ mắng nên cậu bé vùng vằng bỏ đi không về.
+ Sự việc 2: Quá đau buồn và kiệt sức vì nhớ con, mẹ cậu đã mất và hóa thành cây vú sữa.
+ Sự việc 3: Cậu bé bị đói và bị bắt nạt, nhớ mẹ nên đã tìm đường về nhà.
+ Sự việc 4: Về đến nhà không thấy mẹ đâu, chỉ có cây vú sữa.
+ Sự việc 5: Cậu bé ăn trái vú sữa ngọt ngào nhớ đến tình yêu thương của mẹ
+ Sự việc 6: Xóm làng ai cũng thích cây trái vú sữa nên xin hạt về trồng và đặt là cây vú sữa.
3. Kết bài: Cảm nghĩ về truyện vừa kể: cảm thấy biết ơn và kính trọng mẹ nhiều hơn.
Lời giải chi tiết:
Truyện cổ tích chính là suối nguồn mát lành về lòng nhân hậu và những bài học làm người bao la. Hòa trong dòng chảy mát lành ấy, có tác phẩm Cây vú sữa là câu chuyện khiến em nhớ mãi về sự hi sinh của đấng sinh thành.
Ngày xưa, có một cậu bé được mẹ cưng chiều nên rất nghịch và ham chơi. Một lần, bị mẹ mắng, cậu vùng vằng bỏ đi. Cậu la cà khắp nơi, mẹ cậu ở nhà không biết cậu ở đâu nên buồn lắm. Ngày ngày mẹ ngồi trên bậc cửa ngóng cậu về. Một thời gian trôi qua mà cậu vẫn không về. Vì quá đau buồn và kiệt sức, mẹ cậu gục xuống và hóa thành một cái cây.
Một hôm, vừa đói vừa rét, lại bị trẻ lớn hơn đánh, cậu mới nhớ đến mẹ. “Phải rồi, khi mình đói, mẹ vẫn cho mình ăn, khi mình bị đứa khác bắt nạt, mẹ vẫn bên mình, về với mẹ thôi.” Cậu liền tìm đường về nhà. Ở nhà, cảnh vật vẫn như xưa, nhưng không thấy mẹ đâu. Cậu khản tiếng gọi mẹ:
- Mẹ ơi, mẹ đi đâu rồi, con đói quá! - Cậu bé gục xuống, rồi ôm một cây xanh trong vườn mà khóc.
Kỳ lạ thay, cây xanh bỗng run rẩy. Cây nghiêng cành, một quả to rơi vào tay cậu bé. Cậu bé cắn một miếng thật to. Chát quá! Quả thứ hai rơi xuống. Cậu lột vỏ, cắn vào hạt quả. Cứng quá. Quả thứ ba rơi xuống. Cậu khẽ bóp quanh quanh quả, lớp vỏ mềm dần rồi khẽ nứt ra một kẽ nhỏ. Một dòng sữa trắng sóng sánh trào ra, ngọt thơm như sữa mẹ.
Cây rung rinh cành lá, thì thào:
- Ăn trái ba lần mới biết trái ngon. Con có lớn khôn mới hay lòng mẹ.
Cậu oà lên khóc. Mẹ đã không còn nữa. Cậu nhìn lên tán lá, lá một mặt xanh bóng, mặt kia đỏ hoe như mắt mẹ khóc chờ con. Cậu ôm lấy thân cây mà khóc, thân cây xù xì, thô ráp như đôi bàn tay làm lụng của mẹ. Trái cây thơm ngon ở vườn nhà cậu, ai cũng thích. Họ đem về gieo trồng khắp nơi và đặt tên là Cây Vú Sữa.
“Đi khắp thế gian, không ai tốt bằng mẹ”. Câu chuyện về cây vú sữa đã gửi gắm đến chúng em bài học về đạo làm con và công ơn trời biển của đấng sinh thành. Cảm ơn vườn cổ tích, cảm ơn những câu chuyện nhân văn đã dạy dỗ chúng em nên người trong suốt hành trình lớn lên.
